MỤC LỤC
Phần A
- Đặt vấn đề..........................................................................................2
I.Lý do chọn đề tài................................................................................................2
II.Lịch sử vấn đề...................................................................................................4
III.Mục đích nghiên cứu........................................................................................6
IV. Nhiệm vụ nghiên cứu......................................................................................6
V.Đối tượng nghiên cứu........................................................................................6
VI.Phạm vi nghiên cứu..........................................................................................7
VII.Phương pháp nghiên cứu................................................................................7
Phần B - Giải quyết vấn đề.................................................................................7
I. Cơ sở lý luận......................................................................................................7
II. Cơ sở thực tiễn................................................................................................11
1. Vài nét về thực trạng.......................................................................................11
2. Nguyên nhân của thực trạng này ...................................................................13
III.Nội dung vấn đề.............................................................................................14
1.Một số biện pháp phát triển năng lực của học sinh trong dạy học nêu vấn
đề.........................................................................................................................14
1.1.Mục tiêu, nội dung cơ bản của lịch sử lớp 9 THCS......................................14
1.2.Các biện pháp................................................................................................14
1.3. Vận dụng những thành tố của dạy học nêu vấn đề vào một bài học cụ
thể........................................................................................................................20
2.Kết quả áp dụng................................................................................................27
3. Bài học sư phạm..............................................................................................28
4. Hiệu quả kinh tế - xã hội.................................................................................29
5.Điều kiện và khả năng áp dụng........................................................................29
Phần C: Kết thúc vấn đề...................................................................................31
-1-
-2-
Trước yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, nhiều giáo viên đã và đang
đổi mới cách dạy, tích cực áp dụng các phương pháp dạy học mới nhằm phát
huy tính tích cực của học sinh như: dạy học nêu vấn đề, đưa học sinh vào các
tình huống có vấn đề, tạo hứng thú học tập cho học sinh rồi sử dụng hệ thống
câu hỏi, sử dụng tài liệu, tư liệu… Nhưng thực tế cho thấy hiện nay hầu hết các
em không thích học lịch sử vì có quá nhiều các sự kiện, các mốc thời gian mà
các em không thể nhớ được.Trong khi đó nhiều giáo viên truyền thụ lại những
nội dung được trình bày trong sách giáo khoa, học sinh nghe và ghi chép. Học
sinh được làm việc chung theo cả lớp, chưa được tổ chức làm việc theo nhóm và
ít được làm việc độc lập. Các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử…không được
trình bày một cách cụ thể, sinh động; học sinh không được trực tiếp làm việc với
các sử liệu. Hoạt động nhận thức của học sinh chưa trở thành trung tâm của quá
trình dạy học lịch sử. Học sinh ít được giao nhiệm vụ và tạo điều kiện thuận lợi
để tự mình hình thành hiểu biết về quá khứ. Phương thức lĩnh hội bao trùm là
nghe và ghi nhớ; do đó, những kiến thức cơ bản không được lĩnh hội vững chắc,
những kỹ năng học tập Lịch sử không được hoàn thiện. Trong dạy học Lịch sử,
vẫn còn tồn tại nhiều trường hợp đã không tận dụng khả năng tạo ra sự xúc
động, sự rung cảm của học sinh trước các sự kiện, hiện tượng, hành động lịch
sử…
Vậy làm thế nào để các em có hứng thú, say mê học môn Lịch sử. Muốn
học sinh ham học, thích học bộ môn Lịch sử đòi hỏi giáo viên phải có tâm
huyết, lòng say mê đặc biệt cần phải có phương pháp tốt biết gợi mở để cuốn hút
học sinh, dẫn dắt các em vào tình huống có vấn đề và hướng dẫn các em giải
quyết vấn đề để các em nắm bắt được tri thức lịch sử một cách dễ dàng và in sâu
trong tâm thức.
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất
lượng dạy học bộ môn lịch sử, tôi đã chọn vấn đề “Phát triển năng lực học sinh
hiểu sâu sắc, làm phong phú hơn kiến thức đã biết. Trong trường hợp này ở học
sinh xuất hiện những thắc mắc, những vấn đề được đặt ra để giải quyết. các nhà
giáo dục học gọi trường hợp như trên là tình huống có vấn đề. Trong dạy học
giáo viên luôn luôn chú trọng khêu gợi học sinh đặt vấn đề tìm hiểu, không dừng
ở việc thụ động tiếp thu. Đặt câu hỏi nêu ra điều mình chưa biết là một yếu tố
quan trọng để học tập thông minh, chủ động. Vấn đề đặt ra là phải nhằm vào bản
chất, những điều quan trọng để hiểu sự kiện, chứ không phải là những chi tiết
vụn vặt, hình thức bên ngoài. Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm cách giải quyết
-4-
vấn đề, sau đó tiếp thụ và củng cố kiến thức mới…Cách dạy học như vậy được
gọi là dạy học nêu vấn đề, khác hẳn với cách giảng dạy nhồi nhét, học sinh chỉ
biết nghe, ghi, nhớ mà lười suy nghĩ. Dạy học nêu vấn đề sẽ phát huy tính tích
cực tự nhận thức của học sinh.Một trong những đặc trưng cơ bản của việc phát
triển tư duy của học sinh là phát huy năng lực độc lập học tập, phát triển trí
thông minh óc sáng tạo của các em trong việc biết đặt vấn đề, tự giải quyết vấn
đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên và trao đổi với bạn học.
Về bản chất, Dạy học nêu vấn đề không phải là một phương pháp dạy học
cụ thể mà là nguyên tắc chỉ đạo việc tiến hành của nhiều phương pháp dạy học
liên kết với nhau, trong đó giáo viên tạo ra tình huống có vấn đề, nêu vấn đề và
tổ chức, thúc đẩy hoạt động tìm tòi sáng tạo của học sinh giải quyết vấn đề.”…
Trong cuốn: “Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS môn Lịch
sử” của tác giả Nguyễn Hải Châu có viết: “Nhiệm vụ của người giáo viên trong
dạỵ học truyền thống là người truyền đạt kiến thức cho học sinh. Kiến thức đã
được giáo viên chuẩn bị sẵn và cung cấp cho học sinh ở trên lớp theo kiểu giáo
viên giảng (đọc), học sinh chép. Giáo viên là người có sứ mạng truyền thụ kiến
thức cho học sinh, là trung tâm của giờ học, còn học sinh đóng vai trò thụ động,
chờ đợi kiến thức do người giáo viên cung cấp. Nhưng tri thức loài người ngày
- Nghiên cứu lý luận các quan điểm của chủ nghĩa Mac- Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và Đảng ta bàn về giáo dục.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm về các biện pháp có liên quan đến đề
tài, so sánh đối chiếu với lớp đối chứng để rút ra kết luận.
- Tiến hành điều tra, khảo sát thực tiễn dạy học lịch sử ở nhà trường phổ
thông.
Đề tài được viết dựa trên các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát, khảo sát, so sánh.
- Phương pháp phỏng vấn, điều tra.
- Phương pháp thống kê toán học.
- Phương pháp tổng hợp.
- Ph-¬ng ph¸p ph©n tÝch
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm
năng lực được sử dụng như sau: năng lực liên quan đến bình diện, mục tiêu của
dạy học, mục tiêu dạy học được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành;
năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn…
Dạy học nêu vấn đề không phải là một phương pháp dạy học cụ thể mà là
nguyên tắc chỉ đạo việc tiến hành của nhiều phương pháp dạy học liên kết với
-7-
nhau, trong đó giáo viên tạo ra tình huống có vấn đề, nêu vấn đề và tổ chức, thúc
đẩy hoạt động tìm tòi sáng tạo của học sinh giải quyết vấn đề thông qua đó để
hình thành và phát triển các năng lực của học sinh.
Những vấn đề lý luận và vận dụng của dạy học nêu vấn đề đã được các
nhà giáo, các nhà sư phạm quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, có rất nhiều cách
giải thích khác nhau, quan niệm về dạy học nêu vấn đề cũng khá phong phú.
những cơ sở khoa học, phát triển tính tích cực, tính tự lực và năng lực sáng tạo
và hình thành cơ sở thế giới quan cho họ”.
Từ những ý kiến trên đây về dạy học nêu vấn đề, chúng ta có thể thấy:
Dạy học nêu vấn đề là một quan niệm dạy học, trong đó, việc phát triển tư duy
sáng tạo, độc lập suy nghĩ, khơi gợi nhu cầu, hứng thú học tập của học sinh được
đặt lên hàng đầu. Vai trò của người giáo viên là vô cùng quan trọng, đặc biệt
trong việc tạo ra tình huống có vấn đề và hướng dẫn học sinh giải quyết sáng tạo
vấn đề đó.
Dạy học nêu vấn đề là cách tổ chức dạy học gồm 3 yếu tố cơ bản: tình
huống có vấn đề, biểu đạt vấn đề đưa học sinh vào tình huống có vấn đề và tổ
chức, hướng dẫn giúp học sinh tích cực, tự giác, sáng tạo trong giải quyết vấn
đề.
Như vậy dạy học nêu vấn đề thể hiện quan niệm đúng đắn cho rằng, học
sinh vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của giáo dục và được thực hiện với những
bước đi, biện pháp sư phạm hợp lý. Đồng thời, nó cũng bồi dưỡng cho học sinh
hứng thú tìm tòi, nghiên cứu lịch sử, được tập luyện dần dần với phương pháp
nghiên cứu khoa học và nâng cao chất lượng học tập bộ môn.
Dạy học nêu vấn đề có những yếu tố cơ bản sau:
* Vấn đề:
Có nhiều cách hiểu thuật ngữ “vấn đề” nhưng hiểu theo nghĩa dùng trong
giáo dục thì vấn đề là bài toán mà chủ thể chưa biết ít nhất một phần tử của
khách thể, mong muốn tìm phần tử chưa biết đó dựa vào những phần tử biết
trước nhưng chưa có trong tay thuật giải. Hay có thêt hiểu:Vấn đề là những mâu
thuẫn tự nhiên và xã hội đặt ra đòi hỏi con người phải giải quyết. Vấn đề mang
tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người.
* Điều kiện để có tình huống có vấn đề:
Trước hết tình huống phải tồn tại một vấn đề: Đây là vấn đề trung tâm
của tình huống.Tình huống phải chứa đựng một mâu thuẫn, đó là mâu thuẫn
-9-
tìm cách biểu đạt như thế nào để quá trình dạy học nêu vấn đề diễn ra có hiệu
quả. Giáo viên xem học sinh là trung tâm của quá trình dạy học. Các hình thức
-10-
mà giáo viên thường tổ chức cho học sinh phát hiện vấn đề đó là học lý thuyết
và làm bài tập. Giáo viên luôn thay đổi phương pháp dạy học theo hướng tích
cực để phù hợp với hoạt động học tập của học sinh giúp học sinh tiếp thu kiến
thức một cách dễ dàng và triệt để.
Trong bài giảng của mình, giáo viên phải đặt học sinh vào trạng thái tâm
lý đặc biệt - một trong các điều kiện để có dạy học nêu vấn đề. Lúc đó ở học
sinh xuất hiện thắc mắc, hoài nghi, mâu thuẫn trong nhận thức. Vì thế, học sinh
tò mò, nhu cầu nhận thức cái chưa biết nhưng cần phải biết xuất hiện. Điều quan
trọng là giáo viên phải khéo léo đặt ra vấn đề và gợi hứng thú nhận thức ở học
sinh. Học sinh chỉ hứng thú nghe giáo viên giảng bài khi bài học cung cấp
những kiến thức mới, khi giáo viên có phương pháp giảng dạy sinh động, lôi
cuốn, kích thích học sinh tìm tòi, học hỏi thêm ngoài những điều đã lĩnh hội trên
lớp.
Cũng qua bài trình bày, giáo viên phải nêu được “vấn đề” trong tình
huống có vấn đề, tức là những kiến thức có tính trừu tượng, khái quát nhất định.
Những vấn đề này học sinh chưa biết nhưng do yêu cầu nhận thức, bắt buộc học
sinh phải biết. Cần chú ý thêm rằng, “ vấn đề” trong tình huống có vấn đề phải
vừa sức với học sinh.
Trong dạy học nêu vấn đề, giáo viên có thể đặt ra những tình huống có
vấn đề cơ bản và những tình huống phụ trợ để giải quyết tình huống có vấn đề
cơ bản.
Bài trình bày của giáo viên khi gợi ra những tình huống có vấn đề phải
tạo ra được bầu không khí sáng tạo, sinh động trong lớp học. Từ đó, các em sẽ
hứng thú say mê trong việc tìm tòi, lĩnh hội kiến thức mới.
lực tư dạy, khẳ năng nhận biết và giải quyết vấn đề của học sinh.
Song đôi khi vì nhiều lí do, cách dạy học này đối với giáo viên không
phải lúc nào cũng thành công. Hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở
trường THCS chưa mang lại hiệu quả cao. Truyền thụ tri thức một chiều vẫn là
phương pháp dạy học chủ đạo của nhiều giáo viên. Số giáo viên thường xuyên
chủ động, sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính
tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều. Dạy học vẫn nặng về
truyền thụ kiến thức lí truyết. Việc rèn luyện kĩ năng sống, kĩ năng giải quyết
các tình huống thực tiễn cho học sinh thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng
hợp chưa thực sự được quan tâm.
-12-
Trên thực tế có nhiều giáo viên đã sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn
đề, tuy nhiên sử dụng phương pháp dạy học này để phát triển năng lực cho học
sinh một cách có hiệu quả nhất thì còn nhiều hạn chế.
- Về phía học sinh: Các em thường hay rụt rè khi được yêu cầu phát biểu,
thường chỉ 1 vài em tích cực từ đầu năm đến cuối năm luôn luôn phát biểu, còn
có em ngại nói, ít tư duy, nếu thầy, cô không quan tâm tới có khi cả năm chẳng
phát biểu bao giờ. Vì vậy phần lớn học sinh ngại học lịch sử, không thích học
lịch sử. Hầu hết các em coi môn sử là môn phụ không cần học, nếu học chỉ để
cho đủ điểm, không cần đọng lại gì trong đầu. Học sinh học lịch sử một cách thụ
động, chỉ biết ghi chép như một cái máy, học thuộc như một cái máy....
Tại sao học sinh lại không yêu thích với môn lịch sử, giờ học lịch sử?
Phải chăng là do phía người dạy hay sách giáo khoa. Vì vậy, tôi đã làm phiếu
điều tra trước khi thực hiện đề tài.
PHIẾU ĐIỀU TRA
(Em hứng thú hoặc quan tâm đến nội dung nào sau đây, hãy đánh dấu x vào ô
trống trong bảng)
dẫn dắt thành ra lại khiến vấn đề trở nên rắc rối, khó hiểu, thậm chí lại có kết
quả ngược lại so với mong muốn.
Chính vì thế, nhiều giáo viên xây dựng các tình huống trong dạy học nêu
vấn đề ở bộ môn Lịch sử không được thường xuyên, mà chỉ là để thực hiện
trong các giờ hội giảng, chuyên đề, hoặc có xây dựng tình huống nhưng chỉ là để
đối phó trong giáo án mà thôi. Hơn nữa, cũng xuất phát từ thực tế quan niệm
trong xã hội về môn học: xem nhẹ, không bằng những môn học thời thượng; nên
giáo viên cũng thiếu nhiệt tình.
Còn các em học sinh được học ở những giờ dạy đó đều được nâng cao
hơn về khả năng giao tiếp trước tập thể, tính tích cực và sáng tạo có điều kiện để
thể hiện. Những kiến thức các em tự mình nhận ra và tự mình ghi nhớ nên được
nhớ sâu sắc hơn. Tuy nhiên, không phải giờ học nào cũng được học như thế nên
các em mong muốn có nhiều giờ dạy hay và hứng thú, có nhiều tình huống cho
các em tham gia giải quyết để nâng cao khả năng tự nhận thức cho mình. Nhưng
bên cạnh đó vẫn còn 1 số em không thích học môn sử vì bố mẹ hoặc xã hội
không trọng; hoặc 1 số em chưa thật sự mạnh dạn, nhận thức quá kém so với các
bạn cùng trang lứa (hạn chế của vùng nông thôn miền núi nghèo) nên còn chưa
nhận thức được vai trò, ý nghĩa của cách dạy học này, vì thế mà chính kiến
không rõ ràng.
III. NỘI DUNG VẤN ĐỀ
1. MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC NÊU VẤN ĐỀ.
1.1.Mục tiêu, nội dung cơ bản của lịch sử lớp 9 THCS (Phụ lục)
1.2. Các biện pháp:
Phương pháp dạy học nêu vấn đề sẽ đặt học sinh trong một tình huống có
vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải
quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp nhận thức.
Dạy học nêu vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức cảu
học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực
cầm quyền Mĩ thực hiện ra sao?..... GV dẫn dắt vào bài hôm nay. Như vậy HS sẽ
nắm kiến thức 1 cách có hệ thống, liên tục.
-15-
Hình ảnh Mĩ ném bom nguyên tử xuống thành phố Hi-rô-si-ma của Nhật
+ Phân tích và khái quát hoá: Qua trao đổi, đàm thoại nhằm làm cho học
sinh tiếp thu kiến thức trình bày, hiểu được tính logic, bản chất của sự kiện lịch
sử. trong việc trao đổi này, giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích và đánh giá
các sự kiện lịch sử.
Câu hỏi nêu ra để học sinh trao đổi kiểu này thường liên quan đến các sự
kiện cơ bản đòi hỏi sự vận dụng tổng hợp của nhiều hiện tượng, để tìm ra tính
logic, bản chất của sự kiện đó.
Ví dụ: Khi dạy bài 24: “Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính
quyền dân chủ nhân dân (1945 – 1946) ” Phần VI. GV đặt câu hỏi để hướng
dẫn HS thảo luận nhóm và phân tích:
? Tại sao nói việc ký hiệp định sơ bộ ngày 06 tháng 3 năm 1946 là chủ
trương hết sức sáng suốt của Đảng ta? Trước tình huống này, HS phải vận dụng
kiến thức của các sự kiện liên quan.
-16-
GV có thể gợi mở bằng hệ thống câu hỏi: Quân Tưởng và quân Pháp có
âm mưu gì để chống phá cách mạng nước ta? ( Kí hiệp ước Hoa-Pháp bắt tay
chống phá cách mạng nước ta...)
? Cùng một lúc chúng ta có thể đối đầu với nhiều kẻ thù hay không?
(Chúng ta phải đuổi được 20 vạn quân Tưởng về nước......).
Như vậy qua 2 câu hỏi gợi mở trên, chắc chắn HS sẽ giải quyết được vấn
xoay chuyển cục diện chiến tranh,tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh
ngoại giaotaij hội nghị Giơ-ne-vơ......)
+ Ôn tập, tổng kết bài học lịch sử hoặc giai đoạn lịch sử: Biện pháp trao
đổi được được tiến hành để khái quát hoá, củng cố kiến thức đã học và nâng cao
hiệu quả học tập cho học sinh.
Ví dụ dạy bài 13: “Tổng kết lịch sử thế giới từ sau năm 1945 đến nay”,
GV nên đặt ra tình huống (vấn đề) ngay ở đầu giờ ôn tập để trong suốt tiến trình
bài giảng sẽ lần lượt giải quyết từng phần của vấn đề: VD –Trong khoảng thời
gian học kì I các em đã được tìm hiểu chặng đường lịch sử thế giới từ sau năm
1945 đến nay. Ở tiết học này, cô trò ta cùng dừng lại để xem xét: Trong giai
đoạn lịch sử đã học nội dung chính của giai đoạn này là gì? Các xu thế phát triển
của thế giới ngày nay? Tại sao lại nói: “ Hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển”
vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với các dân tộc? Đó cũng là những vấn đề
chính của tiết ôn tập ngày hôm nay. Với cách đặt vấn đề trên đã tạo tâm thế cho
HS trong giờ học, xác định cho các em mục đích rõ ràng, buộc các em phải tích
cực huy động những kiến thức đã học để giải quyết. Và sau đó trong bài dạy,
GV cho các em thời gian hoàn thiện các bảng thống kê để trả lời các câu hỏi.
+ Trong kiểm tra: Nhằm xem xét việc tiếp thu kiến thức của học sinh
trong học tập để đánh giá, bổ sung, đính chính kiến thức. Việc trao đổi này được
tiến hành thường xuyên, xen vào bài giảng hay trong khi kiểm tra bài cũ. Trao
đổi kiểm tra không chỉ nhằm xem xét học sinh nắm các sự kiện lịch sử mà cả
khả năng phân tích khái quát, hệ thống hoá và thực hành của học sinh.
Với loại câu hỏi này, GV tiến hành thường xuyên trong các bài học hoặc
nên cho HS tự đặt câu hỏi và kiểm tra lẫn nhau, thậm chí bản thân mỗi học sinh
tự đặt câu hỏi và trả lời. Song vấn đề đặt ra là phải tuân thủ những yêu cầu sư
phạm. Chọn các loại câu hỏi nào và tổ chức trao đổi như thế nào cho đúng với
yêu cầu sư phạm.
-18-
hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Còn ở Châu Á, Phi, Mĩ-Latinh có gì biến đổi không?
-19-
Phong trào giải phóng dân tộc diễn ra như thế nào? Hệ thống thuộc địa của chủ
nghĩa đế quốc tan rã ra sao? Các em cùng tìm hiểu tiết học hôm nay để trả lời
cho những nội dung trên.
Có những loại tình huống có vấn đề sau:
- Tình huống nghịch lý là tình huống vấn đề xuất hiện đứng trước một sự
lựa chọn rất khó khăn giữa hai hay nhiều phương án giải quyết.
- Tình huống bác bỏ là tình huống vấn đề đòi hỏi phải bác bỏ một luận
điểm kết luôn sai lầm. Để đạt được điều đó người học phải tìm ra được chỗ yếu,
chỗ sai, chỗ thiếu chính xác của luận điểm hoặc kết luận đó và chứng minh tính
chất sai lầm của chúng.
- Tình huống tại sao là tình huống phổ biến trong nghiên cứu khoa học và
trong dạy học.
Như vậy, các tình huống trên đòi hỏi người học phải vận dụng kiến thức
và kĩ năng vốn có đẻ giải quyết vấn đề đặt ra. Người học phải tìm ra được các
mối liên hệ đặc biệt là mối liên hệ nhân quả. Tìm ra được nguyên nhân dẫn đến
kết quả đó.
* Bước 3: Giáo viên đưa ra bài tập nêu vấn đề (bài tập nhận thức)
- Đây là bài tập mà việc độc lập giải quyết nó sẽ dẫn đến chố tạo ra sự
hiểu biết mới bằng phương thức giải quyết mới mà trước đó học sinh chưa
biết.Chức năng quan trọng của của bài tập nêu vấn đề là rèn luyện năng lực tích
cực , độc lập suy nghĩ trong việc giải quyết vấn đề nhằm phát triển tư duy cho
học sinh trong quá trình học tập. Vì vậy, việc xây dựng và sử dụng bài tập nêu
vấn đề trong dạy học phải nhằm vào mục đích: Tăng cường hoạt động nhận thức
tích cực, độc lập thông minh sáng tạo của học sinh trong việc lĩnh hội kiến thức;
giúp học sinh nắm vững, hiểu sâu sắc, đầy đủ hơn hệ thống kiến thức của môn
SGK; cung cấp thêm tư liệu phim ảnh, thời sự, báo chí...về Nhật Bản. Từ đó tổ
chức cho học sinh giải quyết vấn đề mà ở bước 1 GV đã nêu ra:
+GV đề xuất hướng giải quyết các nội dung của bài học: học sinh tự tìm
hiểu sự kiện và trả lời theo từng phần, mục của bài theo cá nhân và nhóm.
+GV hướng dẫn học sinh lập kế hoạch giải quyết: phân công nhiệm vụ
từng bạn trong nhóm.
-22-
+GV hướng dẫn cho học sinh thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề đã nêu
ra để làm sáng tỏ nội các nội dung bài học: Vì sao, Nhật Bản lại phải tiến hành
cải cách dân chủ sau chiến tranh, nội dung và ý nghĩa của những cải cách dân
chủ đó. Thành tựu phát triển kinh tế của Nhật Bản từ năm 1950 đến đầu những
năm 70 của thế kỉ XX, nguyên nhân phát triển cũng như những hạn chế. Thành
tựu về khoa học kĩ thuật của Nhật Bản sau chiến tranh, chính sách đối ngoại của
Nhật Bản. Quan hệ Nhật Bản và Việt Nam.
Bước 3: Kết luận:
-Từng cá nhân học sinh, hoặc trưởng nhóm học sinh trình bày phần tìm
hiểu của mình hoặc nhóm mình.
+Các cá nhân hoặc nhóm khác bổ sung, đánh giá.
+GV kết luận và đánh giá học sinh, cho điểm.
+Đề xuất vấn đề: Qua bài hôm nay, em thấy Việt Nam ta sẽ học được bài
học gì từ sự phát triển của Nhật Bản?
Với cách làm như vậy, kết hợp với các phương pháp khác và CNTT trong
giờ học sẽ làm cho giờ học hiệu quả hơn nhiều, học sinh được làm việc nhiều và
qua giờ học thấy mình tự chủ, tự tin, hiểu biết.
ỨNG DỤNG NHỮNG BIỆN PHÁP TRÊN VÀO MỘT BÀI CỤ THỂ
Bài 19: Tiết 11
1.Ổn định tổ chức lớp: Kiểm tra sĩ số lớp 9A
2. Kiểm tra bài cũ (4’)
GV chiếu câu hỏi:? Những biểu hiện giàu và mạnh của nước Mĩ sau chiến tranh
thế giới thứ hai? Rút ra nhận xét của em về sự phát triển của cường quốc này?
HS: lên bảng trả lời
HS nhận xét bạn
GV: Nhận xét và chốt đáp án lên máy chiếu.
3.Giới thiệu bài mới.
Chiếu slide 1 cho học sinh xem 2 đoạn phim tư liệu ngắn: 1. về đất nước
Nhật Bản sau chiến tranh; 1.Về sự phát triển của đất nước Nhật Bản ngày nay.
Nêu cảm nhận của em về 2 đoạn phim tư liệu trên? Tại sao lại Nhật Bản lại phát
triển nhanh như vậy? Từ sự phát triển của Nhật Bản, Việt Nam ta học được bài
học gì....
Dạy và học bài mới :
Hoạt động của thày và trò
Hoạt động 1: (10’)Cá nhân
Néi dung
I. Tình hình Nhật Bản sau chiến
-24-
*Mức độ kiến thức cần đạt: Nắm
được tình hình Nhật Bản sau chiến
tranh.
* Tổ chức thực hiện:
- Trước khi tìm hiểu nội dung I, GV
giới thiệu sơ qua về nước Nhật ( thiên
nhiên, đất nước, con người )
GV: Gợi cho HS bằng những câu hỏi
nhỏ giúp các em giải quyết vấn đề
? Những cải cách trên các lĩnh vực
kinh tế? ban hành hiến pháp? Quân
đội?...
Hs: dựa vào nội dung SGK để trả
lời.HS khác nhận xét bổ sung
? Em có nhận xét gì về nội dung cải
tranh.
1.Tình hình sau chiến tranh:
- Sau chiến tranh Nhật Bản mất hết
thuộc địa, kinh tế bị tàn phá, khó
khăn bao trùm như thất nghiệp,
thiếu lương thực...Đất nước bị quân
đội nước ngoài chiếm đóng.
2.Cải cách dân chủ
- Nội dung: Ban hành hiến pháp
mới, cải cách ruộng đất, ban hành
các quyền tự do dân chủ...
- Ý nghĩa: chuyển từ chế độ chuyên
chế sang chế độ dân chủ, tạo nên sự
phát triển thần kì về kinh tế.
-25-