Vận dụng nội dung quy luật “Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - Pdf 35

MỤC LỤC
TRANG
LỜI NÓI ĐẦU
NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận
1. Các khái niệm

2

2. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất.

4

II. Sự vận dụng quy luật “quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ của lực lượng sản xuất” trong thời kỳ quá độ đi lên
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
1. Thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

6

2. Sự vận dụng quy luật “Quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ của lực lượng sản xuất” trong quá trình quá độ lên xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam.

7

III. Gỉai pháp

9


Vì vậy xét về thực chất, khái niệm “lực lượng sản xuất” dùng để chỉ năng
lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người. Năng lực đó được tạo ra
trong đời sống hiện thực bằng sự kết hợp giữa sức lao động (sức lực vật chất
2


và tinh thần - đặc biệt là yếu tố tri thức) của con người với những tư liệu sản
xuất trong quá trình lao động của họ.
Do đó, có thể định nghĩa vắn tắt: “lực lượng sản xuất là toàn bộ các yếu tố
vật chất và tinh thần của con người, tạo thành năng lực thực tiễn cải biến
giới tự nhiên theo mục đích của quá trình sản xuất vật chất”.
b. Quan hệ sản xuất:
Quan hệ sản xuất là một phạm trù triết học chỉ quan hệ giữa người với
người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội). Quan hệ sản
xuất bao gồm quan hệ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, quan hệ về tổ
chức và quản lý sản xuất và quan hệ về phân phối các sản phẩm làm ra...
Quan hệ sản xuất do con người tạo ra nhưng sự hình thànhvà phát triển một
cách khách quan không phụ thuộc vào ý chí con người. Nếu như quan niệm
lực lượng sản xuất được xem như mặt tự nhiên của sản xuất thì quan hệ sản
xuất là mặt xã hội của sản xuất.
Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt:


Quan hệ sở hữu: quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu tư
liệu sản xuất. Đây là quan hệ cơ bản và đặc trưng cho từng xã hội, quyết
định quan hệ vể tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối các sản

phẩm làm ra.
• Quan hệ tổ chức quản lý: quan hệ giữa người với người trong việc tổ
chức, quản lý xã hội, các hoạt động trao đổi.

thể sản xuất được. Vì vậy mà sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một
giới hạn nhất định sẽ đặt ra nhu cầu xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ và hiện có,
điều này cũng có nghĩa là diệt vong cả một phương thức sản xuất lỗi thời và
ra đời của một phương thức sản xuất mới. Những quan hệ sản xuất cũ và
hiện khi đó trở thành những yếu tố kìm hãm sự phát triển, như Các-Mác đã
nhận định “Từ một giai đoạn phát triển nào đó của chúng các lực lượng sản
xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có trong
đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn tiếp tục phát triển. Từ chỗ là
những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất những quan hệ ấy trở
4


thàng những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại
một cuộc Cách mạng xã hội”, đó cũng chính là nội dung quy luật về sự phù
hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Ngoài ra, ông cũng khẳng định việc chuyển từ quan hệ sản xuất lỗi thời lên
cao hơn “không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất
của những quan hệ đó chưa chín muồi”.
b. Sự tác động trở lại của Quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất :
Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội, còn lực lượng sản xuất là nội dung
của quá trình sản xuất. Vì thế hình thức tác động trở lại nội dung. Dù đã
chứng minh vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản
xuất, chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng chỉ ra rằng quan hệ sản xuất bao giờ
cũng thể hiện tính độc lập tương đối với lực lượng sản xuất. Sự tác động trở
lại của quan hệ sản xuất là yếu tố quyết định, tiền đề cho lực lượng sản xuất
phát triển khi nó phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất với
nhiệm vụ chỉ ra mục tiêu, bước đi và tạo quy mô thích hợp cho lực lượng sản
xuất hoạt động, đảm bảo lợi ích chính đáng cho người lao động, phát huy
tính tích cực sáng tạo cho con người là nhân tố quan trọng và giữu vai trò
quyết định trong lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất nó quyết định mục

chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa thì chắc chắn phải trải qua
một thời kỳ quá độ lâu dài.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
là một thời kỳ lịch sử với nhiệm vụ quan trọng nhất là phải xây dựng nền
tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,... tiến dần lên chủ nghĩa xã
hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá và khoa học tiên
tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta không chỉ phải
cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà còn cần xây dựng
2. Sự vận dụng quy luật “Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực
lượng sản xuất” trong quá trình quá độ lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:
6


Như đã nói ở trên, từ năm 1975 - sau khi dành được độc lập và thống nhất
đất nước, chúng ta đã đi lên xã hội chủ nghĩa với một lực lượn sản xuất lớn
và tiềm năng mọi mặt còn non trẻ, đòi hỏi nước ta phải có một chế độ kinh tế
phù hợp dẫn đến sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Quá
trình đổi mới đã đưa lại nhiều thành tựu to lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra
nhiều lý luận quan trọng mà việc áp dụng quy luật quan hệ sản xuất phụ
thuộc vào tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào việc
giải quyết chúng một cách đúng đắn sẽ là cơ sở hết sức cần thiết cho việc
tiếp tục hoạch định và đẩy nhanh sự nghiệp đổi mới, cũng như sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trải qua hơn 30 năm ở miền Bắc và hơn
10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc, ngôi nhà xã hội
chủ nghĩa mà chúng ta muốn xây dựng có hai đặc trưng quan trọng nhất mà
dứt khoát chúng ta phải đặt đến: giàu có hơn, vừa công bằng hơn so với
trong chủ nghĩa tư bản.
Sự thật chỉ ra rằng trong thời gian qua do đề cao vai trò của quan hệ sản
xuất do quan niệm không đúng về mối quan hệ sản xuất và quan hệ khác,
quên mất điều cơ bản là nước ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội

xuất mới nảy sinh và phát triển. Trên thực tế, chúng ta chưa thực hiện tốt các
nhiệm vụ phải làm như: giải quyết đúng đắn mâu thuẫn giữa lực lượng sản
xuất với quan hệ sản xuất, khắc phục những khó khăn và tiêu cực của nền
kinh tế, thiết lập quan hệ sản xuất mới với những hình thức bước đi phù hợp
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phát triển với hiệu quả kinh tế
cao. Trên cơ sở củng cố những đỉnh cao kinh tế trong tay nhà nước cách
mạng, cho phép phục hồi và phát triển chủ nghĩa tư bản và buôn bán tự do
rộng rãi, có lơi cho sự phát triển sản xuất. Quan điểm từ đại hội VI cũng
khẳng định không những khôi phục thành phần kinh tế tư bản mà còn phát
triển chúng rộng rãi theo chính sách của Đảng và Nhà nước, quan trọng là
phải nhận thức được vai trò thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế các
thể thực hiện chính sách khuyến khích phát triển. Những yếu tố tiên tiến của
quan hệ sản xuất là tiền đề sự thúc đẩy phù hợp giữa lực lượng sản xuất và
8


quan hệ sản xuất. Chúng chỉ tác động tích cực trong một thời gian ngắn và
luôn phải tuân thủ quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Tại thời điểm đó nền sản xuất nông nghiệp không ổn định, nhiều nơi, nhiều
vùng nông thôn bị đói kém. Khi đó có người cho rằng, nguyên nhân sản xuất
chậm phát triển là do giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mâu
thuẫn, nó thể hiện giữa một bên là yêu cầu phát triển hơn nữa của lực lượng
sản xuất theo hướng tất yếu chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn với một
bên là chế độ sở hữu phân tán. Đây là mâu thuẫn vốn có và phổ biến trong
các nền sản xuất. Khi nền sản xuất xã hội phát triển đến trình độ cao thì tự
bản thân chế độ tư hữu nhỏ không thể nào tồn tại như cũ, nó buộc phải thay
đổi. Nói quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất không thể không
nhìn vào đời sống của nông dân, thực tế cho thấy đời sống của nông dân
từng bước được nâng cao, điều kiện nhà ở và học tập của con em nông dân

trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong giai đoạn hiện nay của nước
ta.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

10


1. Giáo trình Triết học Mác-Lênin, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà
Nội - 1999.
2. Giáo trình triết học (Dùng trong đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ các ngành khoa
học xã hội và nhân văn không chuyên ngành Triết học), nhà xuất bản Đại
học sư phạm - bộ giáo dục và đào tạo 2014.

11




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status