MỘT số BIỆN PHÁP đẩy MẠNH hội NHẬP QUỐC tế của THÀNH PHỐ hải PHÒNG GIAI đoạn 2016 2020 - Pdf 35

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM

TRẦN VĂN NGỌC

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP
QUỐC TẾ CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
GIAI ĐOẠN 2016 - 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HẢI PHÒNG - 2016
i


BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM

TRẦN VĂN NGỌC

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP
QUỐC TẾ CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
GIAI ĐOẠN 2016 - 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


Để hoàn thành luận văn thạc sỹ kinh tế của mình, ngoài sự nỗ lực cố gắng của
bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận
tình của các thầy, cô giáo trong khoa Kinh tế, Viện Đào tạo sau đại học – Trường
Đại học Hàng Hải Việt Nam; Đặc biệt là sự quan tâm chỉ dẫn tận tình của thầy
giáo TS. Mai Khắc Thành đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện
luận văn.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các sở, ban, thành của thành phố,
Sở Công Thương Hải Phòng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên
cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn.
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã giúp
đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tác giả luận văn

Trần Văn Ngọc

iv


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN...................................................................................................iii
LỜI CẢM ƠN.........................................................................................................iv
MỤC LỤC...............................................................................................................v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT.....................................................................vi
LỜI NÓI ĐẦU........................................................................................................ix
1. Tính cấp thiết của Đề tài.....................................................................................ix
2. Mục đích nghiên cứu của Đề tài..........................................................................x
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................................xi
4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................xi

2.2. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KẾT QUẢ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA THÀNH
PHỐ HẢI PHÒNG.................................................................................................69
2.2.1. Những kết quả đã đạt được..........................................................................69
2.2.2. Những tồn tại, hạn chế.................................................................................71
2.2.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế.....................................................72
2.2.4. Bài học kinh nghiệm....................................................................................74
Chương 3................................................................................................................77
MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ..............................77
CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2016 – 2020.............................77
3.1. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU HỘI NHẬP QUỐC TẾ THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG ĐẾN NĂM 2020.....................................................................................77
3.1.1. Quan điểm....................................................................................................77
3.1.2. Mục tiêu:......................................................................................................79
3.2.5. Biện pháp Hội nhập quốc tế về chính trị, ngoại giao và công tác người Việt
Nam ở nước ngoài..................................................................................................98
3.2.6. Hội nhập quốc tế về văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công
nghệ, y tế, lao động, thể thao và các lĩnh vực khác...............................................98
3.2.7. Biện pháp Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh................................100
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.............................................................................101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................105

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt
GDP
HNQT
HNKTQT
UBND
AFTA


Xúc tiến thương mại
Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu
Khu vực mậu dịch tự do bắc Mỹ
Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Số bảng

Tên bảng

Trang

Kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu về hoạt động nội
2.1

thương giai đoạn 2011 – 2015 của Ngành Công Thương

44

Hải Phòng giai đoạn 2011 – 2015
Kết quả thực thiện các mục tiêu, chỉ tiêu về hoạt động
2.2

ngoại thương của Ngành Công Thương Hải Phòng giai

45

đoạn 2011 – 2015
2.3

XI) đã ban hành Nghị quyết 22NQ/TW về hội nhập quốc tế.
Quán triệt đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, trong thời gian qua thành
phố Hải Phòng đã thực hiện đồng bộ các giải pháp, tổ chức thực hiện kịp thời các
cơ chế, chính sách của Trung ương phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế của
địa phương và đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Các cấp ủy đảng, chính
quyền, địa phương đã quan tâm chỉ đạo trên cả ba mặt đối ngoại Đảng, ngoại giao
Nhà nước và đối ngoại nhân dân; từng bước triển khai hội nhập kinh tế quốc tế,
đẩy mạnh hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực như an ninh, quân sự, biên phòng, văn
hóa, xã hội gắn liền với đặc thù chính sách phát triển kinh tế xã hội của thành phố.
Tổng mức lưu chuyển hàng hóa xã hội và kim ngạch xuất nhập khẩu ngày càng
tăng, cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu ngày càng phong phú, thị trường từng bước
ix


được mở rộng. Tuy nhiên, những kết quả đạt được của Hải Phòng trong thời gian
qua vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của thành phố cũng như chưa
đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế. Điều đó thể hiện qua thu nhập bình quân
đầu người còn chưa cao, sức mua thấp nên hạn chế sự phát triển thị trường. Việc
sản xuất hàng hoá còn mang tính chất tự cung, tự cấp, phân tán, chất lượng thấp,
giá thành cao, kém sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Các
doanh nghiệp của Hải Phòng quy mô nhỏ, vốn ít, cơ sở vật chất nghèo nàn nên gặp
nhiều khó khăn trong quá trình mở rộng sản xuất và phát triển thị trường. Sự phối
hợp giữa các cấp, các ngành, địa phương còn chưa đồng bộ, nhịp nhàng, thiếu tính
chủ động. Bên cạnh đó, sự thiếu hiểu biết về những kiến thức cơ bản của hội nhập
quốc tế cũng như việc triển khai công tác hội nhập quốc tế còn thiếu các định
hướng, giải pháp cụ thể cũng ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế – xã hội của Hải
Phòng trong thời gian qua.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Một số biện pháp đẩy
mạnh hội nhập quốc tế của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016 2020” làm đề
tài Luận văn thạc sỹ kinh tế.

4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn sử dụng các phương
pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp, thống
kê, so sánh và kết hợp lý luận với thực tiễn để nghiên cứu.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài
Về lý luận, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các cơ quan, tổ chức đang
thực hiện chức năng quản lý các hoạt động về hội nhập quốc tế để tiến hành (thực
hiện) đổi mới công tác quản lý nhà nước nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả của
hoạt động hội nhập quốc tế trong nền kinh tế, đặc biệt là hoạt động hội nhập kinh
tế quốc tế.
Về thực tiễn, luận văn sẽ có những đóng góp cụ thể vào thực tiễn công tác
xi


hội nhập quốc tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng thông qua những đề xuất giải
pháp, kiến nghị cụ thể về hình thức tổ chức, cách thức quản lý và các chính sách hỗ
trợ của nhà nước trong hoạt động hội nhập quốc tế của thành phố Hải Phòng.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương như
sau:
Chương 1: Tổng quan về hội nhập quốc tế
Chương 2: Thực trạng hội nhập quốc tế của thành phố Hải Phòng giai đoạn
2010 – 2015
Chương 3: Một số biện pháp đẩy mạnh hội nhập quốc tế của thành phố Hải
Phòng giai đoạn 2016 – 2020.

xii


Chương 1

các Hiệp định thương mại khu vực. Các Hiệp định thương mại khu vực đã được
phổ biến rộng rãi trên thế giới và trở thành nhân tố quan trọng trong quan hệ kinh
tế quốc tế, thực hiện qua một số hình thức chủ yếu sau:
Các Hiệp định kinh tế thương mại song phương: đây là hình thức hội nhập
kinh tế quốc tế mang tính nền tảng, phổ biến nhất và quan trọng nhất đối với tất cả
các nước. Trong đa số các trường hợp, các hiệp định thương mại song phương
được ký kết và thực hiện trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên và tuân thủ nguyên
tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi, không làm trở ngại đến quan hệ của mỗi bên đối
với nước thứ ba.
Các khối kinh tế khu vực và liên khu vực: Cho đến nay đã có hàng chục khối
kinh tế khu vực khác nhau về số lượng thành viên và mức độ cam kết hợp tác nội
bộ. Có khối hoạt động theo quy chế khu vực mậu dịch tự do như AFTA của
ASEAN, NAFTA của Bắc Mỹ … Những thành viên thuộc khu vực này sẽ thực
hiện việc cắt giảm thuế quan cho nhau hoặc thực hiện quy chế liên minh thuế quan.
Việc thành lập khu vực mậu dịch tự do nhằm thúc đẩy thương mại giữa các nước
thành viên. Những hàng rào phi thuế quan cũng được giảm bớt hoặc loại bỏ hoàn
toàn. Tuy nhiên, khu vực mậu dịch tự do không quy định mức thuế quan chung áp
dụng cho những nước ngoài khối, thay vào đó từng thành viên vẫn có thể duy trì
chính sách thuế quan khác nhau đối với các nước không phải thành viên. Ngoài
việc thực hiện tự do hoá mậu dịch thông qua cắt giảm thuế quan và các biện pháp
phi thuế quan như ở khu vực mậu dịch tự do, các thành viên còn cùng nhau xây
dựng biểu thuế quan chung, áp dụng cho các nước ngoài liên minh (ví dụ như
Cộng đồng chung Châu Âu (EC) trước đây nay là thị trường chung Châu Âu (EU);
thị trường chung MERCOSUR ở Nam Mỹ, thị trường chung Châu Phi…
Đặc biệt, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC) ra đời
năm 1989 và Diễn đàn hợp tác Á Âu (ASEM) ra đời năm 1996 là một hình thức

xiv




phẩm, những yêu cầu về môi trường đối với sản phẩm cũng đang được coi là
những “rào cản thương mại trá hình” mà ngôn ngữ trong thương mại thường gọi
là “hàng rào xanh” green barier nhằm bảo hộ cho sản xuất trong nước và ngăn
chặn sự xâm nhập của hàng nhập khẩu. Các nước phát triển đã và đang sử dụng
các tiêu chuẩn về môi trường, như một rào cản thương mại “hợp pháp”, nhằm làm
giảm tính cạnh tranh và hạn chế việc nhập khẩu hàng hóa từ các nước đang phát
triển. Những tiêu chuẩn này nhiều khi được đặt ra quá cao so với trình độ kỹ thuật
cũng như công nghệ sản xuất của các nước đang phát triển thậm chí đối với cả một
số nước phát triển. Sự áp dụng các tiêu chuẩn về môi trường trong hoạt động
thương mại đã gây cho các nước đang phát triển những khó khăn nhất định trong
quá trình tiếp cận thị trường của các nước phát triển.
1.1.1.3. Xu hướng tăng cường chính sách bảo hộ với các rào cản thương
mại hiện đại
Các nước ngày càng có xu hướng ít sử dụng những biện pháp bảo hộ mang
tính áp đặt như lệnh cấm, hạn chế số lượng hoặc thuế suất nhập khẩu cao. Thay
vào đó, các biện pháp bảo hộ phi thuế quan như các hàng rào kỹ thuật về an toàn
thực phẩm, môi trường, lạm dụng luật chống bán phá giá, tự vệ, chống trợ cấp, thủ
tục hải quan, ghi nhãn mác... ngày càng được sử dụng rộng rãi. Chính vì vậy, từ
hội nghị Doha đến hội nghị Cancun, WTO chủ trương mở rộng đàm phán toàn
diện trên cả bốn lĩnh vực: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư liên
quan đến thương mại, sở hữu trí tuệ và một số vấn đề mới phát sinh nhằm thúc đẩy
tiến trình tự do hóa thương mại. Tại hội nghị Cancun tháng 9 vừa qua ở Mexico,
các nước đang phát triển liên kết thành nhóm G22 đòi thương mại công bằng, bình
đẳng, các nước phát triển mở cửa thị trường và bỏ trợ cấp nông nghiệp, trợ cấp
xuất khẩu.
1.1.2. Khái niệm và bản chất của hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu khách quan, do bản chất
xã hội của lao động và quan hệ giữa con người với con người. Sự hình thành và
xvi



Chủ thể của hội nhập quốc tế đầu tiên là các quốc gia, vùng lãnh thổ, chủ thể
chính của quan hệ quốc tế có đủ thẩm quyền và năng lực đàm phán, ký kết và thực
hiện các cam kết đã ký. Bên cạnh chủ thể chính là các chủ thể khác cùng hợp thành
lực lượng tổng hợp tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế.
1.1.2.2. Nội hàm của hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của kinh tế xã hội (lĩnh
vực kinh tế, lĩnh vực chính trị, lĩnh vực an ninhquốc phòng, lĩnh vực văn hóa, giáo
dục, xã hội, ...), nhưng cũng có thể đồng thời diễn ra trên tất cả các lĩnh vực với
tính chất, phạm vi và hình thức khác nhau.
a) Hội nhập quốc tế về kinh tế:
Hội nhập quốc tế về kinh tế hay còn gọi là hội nhập kinh tế quốc tế là quá
trình gắn kết các nền kinh tế của từng quốc gia, vùng lãnh thổ với kinh tế khu vực
và toàn cầu thông qua các nỗ lực tự do hóa thương mại và mở cửa nền kinh tế theo
các hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực, khu vực,
đến liên khu vực và toàn cầu. Hội nhập kinh tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ.
Theo một số nhà kinh tế, tiến trình hội nhập kinh tế được chia thành năm mô hình
cơ bản từ thấp đến cao như sau:
(a1) Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA): Các nước tham gia là thành viên
dành cho nhau các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan, nhưng còn
hạn chế về phạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan) và
mức độ cắt giảm. Hiệp định PTA của ASEAN (1977), Hiệp định Thương mại
ViệtMỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) là các ví dụ cụ thể của mô hình
liên kết kinh tế ở giai đoạn thấp nhất.
(a2) Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Các thành viên phải thực hiện việc cắt
giảm và loại bỏ các hàng rào thuế quan và các hạn chế về định lượng (có thể bao
gồm cả việc giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan) trong thương mại hàng hóa
nội khối, nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập đối với các nước ngoài
khối. Ví dụ như: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu (viết tắt là EFTA), Khu vực mậu


xix


b) Hội nhập quốc tế về chính trị:
Hội nhập quốc tế về chính trị là quá trình các nước tham gia vào các cơ chế
quyền lực tập thể (giữa từ hai quốc gia trở lên) nhằm mục đích theo đuổi những
mục tiêu nhất định và hành xử phù hợp với các quy định chung, thống nhất. Hội
nhập quốc tế về chính trị thể hiện mức độ liên kết đặc biệt của các quốc gia, vùng
lãnh thổ, trong đó các nước chia sẻ với nhau về các giá trị cơ bản như: tư tưởng, ý
thức hệ chính trị, mục tiêu, lợi ích, nguồn lực và quyền lực chính trị. Một quốc gia,
vùng lãnh thổ có thể tiến hành hội nhập chính trị quốc tế thông qua việc ký kết các
hiệp ước với một hoặc một số quốc gia, vùng lãnh thổ khác trên cơ sở thiết lập các
mối liên kết quyền lực chung của họ hoặc tham gia vào các tổ chức chính trị khu
vực (ví dụ như Cộng đồng ASEAN, Liên minh Châu Âu) hay một tổ chức có quy
mô toàn cầu (ví dụ như Liên Hiệp quốc).
c) Hội nhập quốc tế về an ninhquốc phòng:
Hội nhập quốc tế về an ninhquốc phòng là sự tham gia của quốc gia, vùng
lãnh thổ vào quá trình gắn kết các quốc gia, vùng lãnh thổ với các nước khác trong
mục tiêu chung là duytrì hòa bình và an ninh. Điều này đòi hỏi các nước hội nhập
quốc tế về an ninh – quốc phòng phải tham gia vào các thỏa thuận song phương
hoặc đa phương về an ninhquốc phòng trên cơ sở các nguyên tắc chia sẻ và liên kết
các nội dung: mục tiêu chung, đối tượng hoặc kẻ thù chung, tiến hành các hoạt
động chung về đảm bảo an ninhquốc phòng.
d) Hội nhập quốc tế về văn hóaxã hội:
Hội nhập quốc tế về văn hóaxã hội là quá trình mở cửa, trao đổi văn hóa của
nước này với các nước khác; chia sẻ các giá trị văn hóa, tinh thần của nước mình
với khu vực và thế giới; tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ của khu vực và thế giới
để bổ sung, hoàn thiện nền văn hóa dân tộc của nước mình; tham gia vào các tổ
chức hợp tác và phát triển văn hóagiáo dục và xã hội khu vực; hợp tác với các

mại Thế giới (WTO). Hiện nay, 153 quốc gia và vùng lãnh thổ đã tham gia với tư
cách thành viên chính thức của Tổ chức WTO. Trong hơn thời gia qua, Tổ chức
thương mại thế giới đã phát triển mạnh mẽ hệ thống các quy tắc về thương mại
quốc tế, bao gồm hầu hết các lĩnh vực của quan hệ kinh tế giữa các thành viên ở
xxi


hầu hết các lĩnh vực: hàng hóa, dich vụ, dệt may, gia dầy, hàng rào kỹ thuật thương
mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử, hải quan, giám định hàng hóa, quy
tắc xuất xứ, quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại,… Các quy định
chung của WTO đã trở thành nền tảng của tất cả các thỏa thuận kinh tế khu vực
hay song phương trên thế giới hiện nay.
Ở cấp độ khu vực, quá trình hội nhập phát triển rất nhanh trong những thập
niên 1960 và 1970, đặc biệt “nở rộ” từ thập niên 1990 trở lại đây. Hàng loạt tổ
chức và thể chế khu vực đã ra đời ở khắp các châu lục. Các tổ chức và thể chế khu
vực hiện nay đã có mặt ở hầu hết các khu vực. Các tổ chức và thể chế khu vực về
chính trịan ninh kinh tế là nhiều nhất.
Bên cạnh các cấp độ toàn cầu và khu vực, quá trình hội nhập giữa các nước
còn được điều tiết bởi các hiệp định liên kết song phương, dưới dạng hiệp ước liên
minh (chính trị, an ninh, quốc phòng), hiệp định đối tác toàn diện, hiệp định đối tác
chiến lược, hiệp định kinh tếthương mại (BFTA, BCU…). Từ cuối thập niên 1990
trở lại đây, xu hướng ký kết các hiệp định đối tác chiến lược và hiệp định mậu dịch
tự do (BFTA) phát triển đặc biệt mạnh mẽ. Hầu hết các nước đều đã ký hoặc đang
trong quá trình đàm phán các BFTA. Thậm chí, có nước hiện đã ký hoặc đàm phán
tới hàng chục hiệp định BFTA (Singapore, Thái Lan, Nhật, Úc…). Điều này được
lý giải chủ yếu bởi bế tắc của vòng đàm phán Đôha và những ưu thế của BFTA so
với các hiệp định đa phương (dễ đàm phán và nhanh đạt được hơn; việc thực hiện
cũng thuận lợi hơn).
Như vậy có thể thấy hội nhập quốc tế đã trở thành một xu thế lớn của thời đại
ngày nay. Chung ta đang sống trong một thế giới hội nhập sâu, rộng hay nói một

Nhà nước vào tháng 11 năm 1991.
Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1991 xác định rõ chủ trương “độc lập tự chủ,
đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại” với phương châm “Việt Nam
muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình,
độc lập và phát triển”, đánh dấu bước khởi đầu tiến trình hội nhập trong giai đoạn

xxiii


mới của nước ta. Nhờ chủ trương này, Việt Nam đã đẩy lùi được chính sách bao
vây cô lập của các thế lực thù địch, không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế
đối ngoại song phương và đa phương sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu
tan rã. Một cơ chế hợp tác mới ra đời, vận hành theo những quy luật mà hôm nay
chúng ta đã rất quen thuộc: cơ chế thị trường. Đây là một cột mốc quan trọng đánh
dấu bước khởi đầu của Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ
mới. Triển khai Nghị quyết Đại hội VII, Nghị quyết Trung ương 3 (Khoá VII) về
chính sách đối ngoại và kinh tế đối ngoại đã cụ thể hoá hơn nữa chính sách đối
ngoại của Việt Nam “phát huy những điểm đồng, hạn chế những điểm bất đồng”
và nêu rõ chủ trương mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế, trong đó nhấn
mạnh “cố gắng khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế như
Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu
Á (ADB)..., mở rộng hợp tác với các tổ chức khu vực, trước hết là ở Châu Á Thái
Bình Dương”.
Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996 xác định sự cần thiết phải xây dựng một
nền kinh tế mới hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu. Từ
đó, Đảng đưa nhiệm vụ đối ngoại lên một tầm cao mới: “Nhiệm vụ đối ngoại trong
giai đoạn tới là củng cố môi trường hoà bình và tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa
để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước”
và “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”. Đây là lần đầu tiên Nghị quyết
của Đảng đề cập đến việc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mục

bên ngoài, hội nhập phải là sự thay đổi, đổi mới từ ngay bên trong nền kinh tế.
Những nhiệm vụ cụ thể đã được đề ra để tích cực, chủ động hội nhập là “Chủ động
chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, luật pháp và nhất là về những sản phẩm mà
chúng ta có khả năng cạnh tranh để hội nhập thị trường khu vực và thị trường
quốc tế. Tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán hiệp định thương mại
với Mỹ, gia nhập APEC và WTO. Có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các
cam kết trong khuôn khổ AFTA”.
Đại hội Đảng lần thứ IX năm 2001 đã khẳng định tính tất yếu, đánh giá bản
chất của toàn cầu hoá và cơ hội cũng như thách thức đối với Việt Nam khi tham
gia quá trình này: "Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày
xxv



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status