TÁC ĐỘNG BIẾN DẠNG của CHƯƠNG TRÌNH tín DỤNG ưu đãi CHO SINH VIÊN NGHÈO học đại học - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
LỚP : K07401

Môn: Kinh tế công

Đề tài:

TÁC ĐỘNG BIẾN DẠNG CỦA
CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG ƯU ĐÃI
CHO SINH VIÊN NGHÈO
HỌC ĐẠI HỌC

Nhóm thực hiện :

TPHCM, ngày 7 tháng 6 năm 2015
1


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do nghiên cứu
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai! Thật vậy, đầu tư cho giáo dục là quốc
sách quan trọng của bất kì quốc gia nào trên thế giới. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập
quốc tế như ngày nay thì nguồn lực con người luôn là tài sản vô giá của mỗi quốc gia,
để phát triển kinh tế nhất là đối với các nước đang phát triển thiếu thốn cả về vốn lẫn
công nghệ thì không có chính sách nào hiệu quả hơn là đầu tư phát triển con người.
Nhận thức rõ điều đó, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đầu tư hợp lí cho giáo dục,
trong đó có bậc giáo dục đại học, bộ phận giữ vai trò quyết định trực tiếp trong việc đào
tạo ra nguồn lực đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Để tạo điều kiện cho sinh
viên được học tập trong môi trường tốt nhất, nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ về
xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng cũng như có chính sách hỗ trợ cho đội ngũ giảng

phương pháp: phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh,
phương pháp tổng hợp, định lượng, định tính trong quá trình thu thập, xử lí, hệ thống
nguồn tài liệu.

3


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Lý luận về chi tiêu công
1.1 Khái niệm chi tiêu công
Là các khoản chi tiêu của các cấp chính quyền, các đơn vị quản lý hành chính, các
đơn vị sự nghiệp được sự kiểm soát và tài trợ bởi chính phủ. Ngoài trừ các khoản chi
của các quỹ ngoài ngân sách, về cơ bản chi tiêu công thể hiện các khoản chi của ngân
sách nhà nước hàng năm được quốc hội thông qua.
1.2

Nhiệm vụ chi tiêu công

- Trợ cấp xã hội cho những thành viên trong xã hội, mà không có khă năng tự đảm
bảo được cho cuộc sống cho mình ( thương binh, người tàn tật, nạn nhân chiến tranh và
v.v.).
- Đảm bảo bảo hiểm bắt buộc trong những trường hợp bệnh tật, thất nghiệp và v.v.
- Sản xuất và tiêu thụ hàng hóa công cộng đáp ứng đòi hỏi của xã hội.
1.3 Chuyển dời lợi ích và tác động biến dạng của chương trình chi tiêu công
1.3.1 Chuyển dời lợi ích của chương trình chi tiêu công


Quá trình chuyển dời lợi ích chi tiêu công cộng liên quan hợp qui luật với


hc i hc khi khụng cú kh nng tr hc phớ. Trong khi hng hoỏ giỏo dc l mt loi
hng hoỏ khuyn dng cho vic vn hnh mt xó hi dõn ch thỡ Nh nc cn ng
ra gii quyt bi toỏn chi tiờu cho giỏo dc sao cho tho ỏng nht. Cụng c thc
hin iu ny l s dng chi tiờu cụng.
5


2.2 Can thiệp của chính phủ: Lựa chọn chính sách tín dụng cho sinh viên
Vốn vay của các ngân hàng thương mại cho giáo dục (với mức lãi suất “hợp lý”)
thường không có sẵn vì hầu hết sinh viên (hoặc gia đình của họ) không có đủ tài sản thế
chấp hoặc không có đủ bằng chứng để ngân hàng tin tưởng. Trong hầu hết các trường
hợp, chính phủ can thiệp bằng các biện pháp cấp vốn vay ban đầu, trợ cấp thanh toán lãi
suất, chịu rủi ro cho các trường hợp không trả nợ và chịu hầu hết các chi phí quản lý
chương trình cho vay.
2.3 Mục tiêu của chương trình tín dụng đối với học sinh sinh viên


Mục tiêu ngân sách (tạo thu nhập từ học phí)



Mở rộng hệ thống giáo dục



Mục tiêu xã hội (bình đẳng / tiếp cận giáo dục cho người nghèo)



Nhu cầu nhân lực

Nguồn tài trợ
Hình 2.1. Quy trình phân bổ vốn vay: Mô hình đơn giản
Sinh viên nộp đơn xin vay vốn cho các đơn vị chịu trách nhiệm phân bổ kinh phí
vốn vay (màu xám nhạt); kinh phí vốn vay được nhận từ nguồn tài trợ (màu đen). Cơ
quan này phẩn bổ kinh phí vốn vay cho các cơ quan phân bổ để từ đó sinh viên xin vay
vốn. Nguồn tài trợ của chương trình có thể xuất phát từ chính phủ, ngân hàng thương
mại (không được chính phủ hỗ trợ), quĩ chương trình vốn vay…
2.6 Lựa chọn đối tượng mục tiêu
Với số lượng vốn vay có hạn cùng với việc đáp ứng mục tiêu mà chương trình đặt ra để
nguồn vốn đến đúng đối tượng cần có cơ chế chọn đối tượng mục tiêu một cách rõ
ràng. Các chương trình tín dụng tập trung chủ yếu ở các đối tượng sau :
 Đối tượng sinh viên nghèo - những người xứng đáng được hỗ trợ nhiều nhất.
 Xét đến việc nâng cao hiệu quả trong của chương trình cho vay vốn, sẽ là tốt hơn
nếu tập trung vào đối tượng sinh viên có năng lực học tập tốt hơn. Những sinh viên này
ít có nguy cơ bỏ học hoặc lưu ban trong quá trình học, xin được việc làm tốt hơn và
nguy cơ không trả được nợ là thấp hơn.

học

Sinh

viên

những ngành nghề hiện
thiếu nguồn nhân lực
hoặc sẵn sàng làm việc ở
những vùng ít hấp dẫn

hơn


đi vay không có khả năng trả nợ hoặc không có ý muốn trả nợ. Giải quyết vấn đề này
bằng cách giảm bớt gánh nặng nợ cho người đi vay và có chế tài xử lý đối với hành vi
không chịu trả nợ.

8


CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG BIẾN DẠNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH
TÍN DỤNG ƯU ĐÃI CHO SINH VIÊN NGHÈO HỌC ĐẠI
HỌC
1. Tổng quan về chương trình tín dụng ưu đãi đối với HSSV
Nội dung chính sách tín dụng ưu đãi đối với học sinh sinh viên (HSSV) [1]:
1.1.1.

Phạm vi áp dụng

Hỗ trợ cho HSSV có hoàn cảnh khó khăn góp phần trang trải chi phí học tập, sinh
hoạt của HSSV trong thời gian theo học tại trường bao gồm: tiền học phí; chi phí mua
sách vở, phương tiện học tập, chi phí ăn, ở, đi lại.
1.1.2.

Đối tượng áp dụng

HSSV có hoàn cảnh khó khăn theo học tại các trường đại học (hoặc tương đương
đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và tại các cơ sở đào tạo nghề được thành
lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm:
HSSV mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại
không có khả năng lao động.
HSSV là thành viên của hộ gia đình thuộc các đối tượng:
- Hộ nghèo theo tiêu chuẩn quy định của pháp luật.

Lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất khi cho vay.
1.1.7. Trả nợ gốc và lãi tiền vay
Trong thời hạn phát tiền vay đối tượng được vay vốn chưa phải trả nợ gốc và
lãi; lãi tiền vay được tính kể từ ngày đối tượng được vay vốn nhận món vay đầu tiên
đến ngày trả hết nợ gốc.
Đối tượng được vay vốn phải trả nợ gốc và lãi tiền vay lần đầu tiên ngay sau
khi HSSV có việc làm, có thu nhập nhưng không quá 12 tháng kể từ ngày HSSV kết
thúc khoá học.
Mức trả nợ mỗi lần do Ngân hàng Chính sách xã hội hướng dẫn và được
thống nhất trong hợp đồng tín dụng.

2. Tình hình thực hiện và hiệu quả của chính sách tín dụng ưu đãi cho HSSV
2.1.

Tình hình thực hiện
Chương trình tín dụng đối với HSSV thực sự được triển khai từ tháng 3 -1998 [4].

Nguồn vốn ban đầu của chương trình chỉ có 160 tỷ đồng, bao gồm 30 tỷ đồng từ ngân
sách và 130 tỷ đồng vay từ Ngân hàng Nhà nước, do Ngân hàng Công thương đảm
nhiệm, số tiền HSSV được vay mỗi tháng là 200.000 đồng với lãi suất 0.45%/tháng.
Đến năm 2003 mức vay được năng lên 300.000 đồng/tháng, đồng thời việc cho vay tín
dụng ưu đãi sinh viên được chuyển cho NHCSXH quản lý, số dư nợ đến thời điểm
chuyển giao khoảng 76 tỷ đồng.
Đến năm 2007 mức lãi suất vốn vay được điều chỉnh tăng lên 0.65%/tháng, và
được tính ngay khi người vay nhận tiền nhưng không thu liền mà đến khi HSSV ra
10


trường mới thu. Cùng với đó Ngân hàng CSXH có chế độ giảm lãi cho những học sinh
trả nợ trước thời hạn. Nếu trả nợ trước 4 năm trở lên, được giảm 30% lãi suất; trả nợ


cộng nguồn vốn Bộ Tài Chính cấp đến thời điểm này đã là 2500 tỷ đồng.
Về phía cho vay, tính đến cuối năm 2007 dư nợ cho vay HSSV đạt 2.803 tỷ đồng
với 630.159 sinh viên đang vay. Trong đó, doanh số cho vay từ 1/10/2007 theo quyết
định mới của Thủ tướng Chính phủ đạt 2.504,6 tỷ đồng với 596.354 HSSV đang vay
vốn. Cơ cấu nợ cụ thể: đại học và cao đẳng 1.930 tỷ đồng với 425.313 HSSV vay;
Trung cấp chuyên nghiệp 680 tỷ đồng với 157.447 HSSV được vay; học nghề (thời hạn
11


học trên một năm) 1.690 tỷ đồng với 37.773 HSSV được vay; học nghề dưới 1 năm là
43 tỷ với 9.626 HSSV được vay [7].
Trong năm học 2007-2008, tính đến hết tháng 5/2008 cả nước đã có 748.224 sinh
viên được vay vốn học tập, chiếm hơn 25% so với tổng số 3,1 HSSV các trường dạy
nghề, cao đẳng, đại học trong cả nước, tổng số tiền giải ngân đã trên 5.240 tỷ đồng

[8]

.

Như vậy, cứ 4 sinh viên thì có 1 sinh viên được vay vốn học tập. Song song theo đó
Ngân hàng CSXH cũng đã tổ chức các điểm giao dịch đến từng xã với trên 180 nghìn tổ
tiết kiệm và 8.779 điểm giao dịch lưu động để đồng vốn nhanh chóng đến tay các
HSSV khó khăn.
Tiếp theo quyết định số 157, Thủ tướng Chính phủ ban hành thêm Quyết định số
1675/QĐ-TTg vào ngày 19/ 11/ 2008 về tín dụng đối với HSSV nghèo, đồng thời giao
chỉ tiêu kế hoạch tăng trưởng tín dụng HSSV năm 2009 là 8.000 tỷ đồng. Nguồn vốn
mà Ngân Hàng CSXH đã giải ngân tính đến ngày 31/12/2008 đã hơn 9.535 tỷ đồng, thu
nợ 92 tỷ đồng và hiện còn hơn 1,2 triệu HSSV còn dư nợ, với số tiền 9.741 tỷ đồng.
Trong đó, dư nợ cho vay đối với HSSV học đại học, cao đẳng là 6.949 tỷ đồng với 883

nhất là những gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, vùng sâu, vùng xa, miền núi. Với
các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian trả nợ cùng với mức cho vay phù hợp với điều
kiện thực tế, chương trình thật sự đã ngày càng đi sâu vào đời sống của HSSV, thu hút
nhiều đối tượng HSSV tham gia. Hơn nữa, trong quá trình thực hiện nó cũng mang lại
nhiều hiệu quả thiết thực cho xã hội, nhà trường, gia đình HSSV.
Đối với HSSV: chương trình góp phần giảm gánh nặng chi phí hiện tại cho các
HSSV có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, đảm bảo một phần nguồn tài chính để
trang trải chi phí sinh hoạt, học tập, sách vở.... Từ đó tạo tâm lý vững chắc để HSSV
yên tâm học hành, trau dồi kiến thức, nâng cao và phát huy năng lực học tập, có nhiều
thời gian hơn để đầu tư cho việc học tập nghiên cứu, giảm gánh nặng làm thêm. Mặt
khác, thông qua chương trình vay vốn, HSSV ngày càng có trách nhiệm hơn với việc
học tập để sau khi ra trường dễ tìm kiếm việc làm, có mức lương cao trả nợ cho Chính
Phủ.
Đối với gia đình của HSSV: chương trình này giúp gia đình giảm bớt gánh nặng, lo
toan về tiền bạc để trang trải chi phí sinh hoạt, học tập và học phí của con.
Đối với nhà trường: Việc thực hiện chương trình cho vay tín dụng sinh viên giúp
cho nhà trường đảm bảo kịp thời trong công tác thu học phí, giảm tỷ lệ bỏ học giữa
chừng do không có tiền trang trải học phí. Đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo, cơ sở
vật chất của trường cũng như năng lực học tập, nghiên cứu của sinh viên.
13


Đối với toàn xã hội: Bằng chương trình tín dụng ưu đãi cho HSSV, chính phủ cùng
các bộ, ban ngành có liên quan đã trực tiếp làm giảm bớt tỷ lệ HSSV bỏ học, tạo cho xã
hội nguồn lao động chất lượng, có tay nghề, có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất
đạo đức, từ đó nâng cao năng suất lao động tạo ra càng nhiều giá trị thặng dư cho nền
kinh tế. Hơn nữa thông qua chương trình này về mặt ngắn hạn chương trình có thể hạn
chế những bất ổn và tệ nạn cho toàn xã hội vì làm giảm tỷ lệ bỏ học, về mặt dài hạn có
thể làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao thu nhập bình quân trên đầu người cho nền
kinh tế.



Hộ cận nghèo là đối tượng vay nhiều nhất với 624 ngàn hộ, vay gần 7.000 tỷ đồng,
chiếm 50% tổng số hộ được vay

[12]

. Từ năm 2007, số hộ này luôn tăng cho đến nay,

ngược hoàn toàn với số hộ nghèo được vay vốn đang có xu hướng giảm.
Nếu như đối tượng được vay vốn hỗ trợ theo Quyết định của Thủ tướng gồm HSSV
là thành viên của các gia đình thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, và hộ có hoàn cảnh khó
khăn đột xuất thì một phần không nhỏ nguồn vốn lại không đến với những đối tượng
này và kết quả là hàng ngàn sinh viên không nghèo vẫn được vay vốn. Theo báo cáo
của các chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội, đến 31/12/2008, số tiền cho vay sai
đối tượng là 10 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 0,1%. Đến thời điểm 30/4/2009, số tiền cho vay sai
đối tượng đã giảm xuống còn 5,4 tỷ đồng, chiếm 0,07%. Lý do cho vay sai đối tượng là
các tổ tiết kiệm bình xét chưa đúng đối tượng được vay vốn, do có sự nể nang, cảm tình
cũng như do một phần nhận thức chưa đúng chính sách nên đã xác nhận chưa đúng đối
tượng được thụ hưởng.
Cụ thể như theo kết quả khảo sát Chương trình tín dụng sinh viên, học sinh từ 9.838
hộ gia đình thuộc 1.619 tổ tiết kiệm và vay vốn ở 154 xã, phường, thị trấn An Giang...
phát hiện 446 hộ gia đình thuộc 81 xã không thuộc đối tượng vay vốn, chiếm tỷ lệ 4,5%
số hộ kiểm tra. Nguyên nhân chủ yếu là do việc xác nhận đối tượng vay chưa chuẩn xác
của UBND cấp xã. Trong đó, phát hiện có 55 UBND cấp xã xác nhận cho 262 hộ sai
đối tượng với số tiền 995 triệu đồng. Dù UBND, hội đoàn thể và tổ tiết kiệm vay vốn
động viên, giải thích, nhưng đến cuối tháng 4.2009 mới xử lý dứt điểm được các trường
hợp sai sót này.
Một ví dụ khác là tại Đồng Tháp, theo Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh, đến 42008 đã có 12.271 HSSV vay tổng số tiền gần 57 tỉ đồng. Qua kiểm tra ở 30 xã phường
đã phát hiện 215 trường hợp chính quyền địa phương xác nhận không đúng nên ngân

Những con số trên chỉ giúp ta khái quát được số trường hợp sử dụng nguồn vốn sai
mục đích. Tuy nhiên, vấn đề ở đây không phải là những con số đơn thuần này mà quan
trọng hơn là “biểu hiện cụ thể bên trong” của chúng.
Theo đại diện các cơ quan chức năng TP HCM, họ tỏ ra e ngại vì không ít người
vay vẫn nợ học phí trong khi được cấp gần 50 tỷ đồng vốn ưu đãi cho học sinh, sinh
viên vay[16]. Bà Ngô Thị Bích Hồng-Phó phòng nghiệp vụ Ngân hàng chính sách TP
HCM cho biết [16]: “Không loại trừ khả năng sinh viên đầu tư vốn vay để sắm trang thiết
bị đắt tiền như xe máy, laptop nên không còn tiền đóng học phí. Nhiều sinh viên trình
bày lý do vay vốn với ngân hàng là để kinh doanh”. Một trường hợp khác “đầu tư” hết
vào điện thoại di động đắt tiền, cá độ bóng đá, không bao lâu điện thoại di động, xe
máy cũng không cánh mà bay[17].
Có thể có ý kiến cho rằng xe máy, laptop tuy là những hàng hóa xa xỉ đối với sinh
viên nhưng nó là cần thiết và cần phải có để việc học tập được tốt hơn. Quan điểm này
hoàn toàn không sai. Tuy nhiên, nếu đánh đổi giữa khoảng tiền phải nộp học phí để có
được những xa xỉ phẩm này thì lúc đó chúng không còn là phương tiện hỗ trợ học tập
mà chúng trở thành công cụ cản trở việc học tập. Bỡi lẽ không đóng tiền học phí thì
không được học (theo qui chế 43) và như vậy mục đích của chương trình đã bị chệch
17


hướng. Khi đó, chương trình tín dụng không những không hỗ trợ học sinh sinh viên
nghèo mà trở thành hỗ trợ các cơ sở sản xuất những sản phẩm này.
Bên cạnh đó, việc nguồn vốn bị sử dụng sai mục đích còn tính đến trường hợp sinh viên
sử dụng nó để kinh doanh. Không thể phủ nhận đây là một việc làm tốt- cần phải có
hoài bão như vậy. Tuy nhiên, vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng khi lấy nguồn vốn “ngắn”
(4 triệu cho mỗi lần rút tiền và 8 triệu cho cả năm học từ chương trình) để nuôi nguồn
vốn dài cộng thêm những rủi ro có thể xảy ra trong kinh doanh.
Vậy đâu là nguyên nhân cho hiện tượng này? Đầu tiên phải kể đến ý thức của đối tượng
được vay vốn. Một bộ phận đã cố tình sử dụng nguồn vốn này sai mục đích. Một bộ
phận khác dường như chưa nắm được mục đích của chương trình. Họ vay tiền theo



phận này có cơ hội tiếp cận giáo dục mà lại làm cho sinh viên nghèo trước đã khó khăn
nay lại càng khó khăn hơn. Đặc biệt, một số gia đình với tư tưởng “đầu tư hôm nay để
đổi đời trong tương lai” nhờ cơ hội nghề nghiệp được mang đến từ giáo dục thì cũng
đành chấp nhận vay với mức lãi suất cao từ người cho vay. Bỡi lẽ nếu không vay thì
không được đến trường và tương lai nghèo lại càng nghèo hơn. Điều này đặt ra một dấu
hỏi lớn: phải chăng nguồn vốn từ chương trình đã bị phân phối ngược? Nếu thực tế này
xảy ra vấn đề công bằng có còn được đảm bảo nữa hay không?
Đây quả thật là một thực tế đáng buồn. Bởi lẽ chính sự thông thoáng cũng như ưu
đãi của chính sách dành cho sinh viên lại tạo ra tác dụng ngược như vậy. Điều này gợi
lên một nghịch lí trong công tác quản lí của chính phủ: quá “nhẹ phần cứng”. Nghĩa là
nếu sự thông thoáng và ưu đãi trên được đảm bảo dựa trên một chế tài “đủ mạnh” thì
trường hợp trên đã không xảy ra. Bên cạnh đó, sự thiếu chặt chẽ trong việc xác định đối
tượng được hưởng ưu đãi cũng như sự lỏng lẻo trong khâu kiểm tra giám sát từ phía địa
phương cũng như nhà trường cũng là một trong những nguyên nhân tạo ra biến dạng
này.
3.4

Ăn chặn tiền trong nguồn vốn hỗ trợ sinh viên nghèo

Lợi dụng chủ trương cho sinh viên nghèo vay vốn của Chính phủ, cán bộ một số
địa phương đã cố tình gây khó dễ cho người dân khi đến lĩnh tiền rồi tìm cách xà xẻo.
Nhiều tờ báo như Dân Trí, Tiền Phong, Lao Động đã đưa thông tin về tình trạng này.
Báo Dân Trí cung cấp thông tin:
Tại thôn Bắc Thọ xã Ngư Lộc (huyện Hậu Lộc, Thanh Hoá), bà Hoàng Thị Phương
cho biết: "Tôi vay 8.000.000 đồng bị "cấn" mất 110.000 đồng. Khi nghe tin sắp có báo
chí về, chi hội phụ nữ thôn đã triệu tập cuộc họp yêu cầu những người được vay vốn
phải ký vào biên bản đóng góp quỹ tự nguyện 55.000 đồng một hội viên". Còn ông Tô
Ngọc An (thương binh 4/4) ấm ức: "Tôi được vay đợt 1 cho con trai ăn học là 4 triệu

vấn đề sẽ hoàn toàn khác. Bên cạnh đó, còn chưa kể ảnh hưởng đến các đối tượng vay
vốn thì hai tác động này cũng khác nhau.
Với việc nguồn vốn đến sai đối tượng thì đối tượng bị ảnh hưởng là những trường
hợp nằm trong đối tượng áp dụng của chương trình. Còn trường hợp này thì đối tượng
bị ảnh hưởng còn phải kể đến cả các hộ nghèo không có con em là học sinh sinh viên.
Bỡi lẽ, với trường hợp “giả nghèo” thì bộ phận “cần được hỗ trợ” bị loại khỏi danh sách
“hộ nghèo” do phải nhường “suất” cho các trường hợp “giả nghèo” (vì tỷ lệ hộ nghèo
tại một số địa phương chỉ có một tỷ lệ nhất định). Điều này không những khiến cho họ

20


không được hưởng ưu đãi từ chương trình này mà có thể không được hưởng ưu đãi từ
các chương trình ưu đãi khác của chính phủ.
Ngoài ra, việc “giả nghèo” để được vay vốn còn gây ra các hiện tượng tiêu cực
trong xã hội. Tại rất nhiều địa phương, các hộ gia đình có con học đại học tìm cách
“chạy chọt” để có sổ hộ nghèo, và nhiều địa phương lại tự ý đưa ra những tiêu chí riêng
để xét hộ nghèo. Một số vụ việc đã được báo Đất Việt nêu ra như: 9 cán bộ chủ chốt
của xã Thanh Xuân (Thanh Chương - Nghệ An), trong đó có gia đình chủ tịch, Bí thư
xã bỗng dưng biến thành hộ nghèo để vay vốn SV cho con, hay ở xã Quế Phong, huyện
Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam có hơn 1.400 hộ, trong đó có 544 hộ nghèo, chiếm 38%.
Phớt lờ quy định của Chính phủ, chính quyền xã Quế Phong (Quế Sơn, Quảng Nam) tự
ý bình xét cấp sổ hộ nghèo trên tiêu chí… có con học ĐH. Vì tiêu chí xét nghèo kỳ cục
đó, nhiều hộ dân tại xã Quế Phong có con là sinh viên đều tìm cách để “chạy chọt” sổ
hộ nghèo. Thực tế, phần lớn các hộ này đều có công việc, thu nhập ổn định, nhà cửa
khang trang. Đảng uỷ xã giải thích rằng: “Những hộ trên có con là sinh viên, lương cán
bộ thôn xã không bao nhiêu nên được chính quyền ưu ái xét hộ nghèo”.
Như vậy mục đích của chương trình không những không đạt được mà còn làm ảnh
hưởng đến những người nghèo đang thực sự cần hỗ trợ do đó rất cần những chính sách
cứng rắn để chương trình mang lại những kết quả tốt đẹp như mục tiêu nó đề ra.

03/2010

1335000
1800000

Cơ cấu dư nợ (tỷ đồng)
Đại học- Trung cấp
Học nghề
Cao đẳng
1930
6949
11630

680
2199

1690
593

Tổng dư nợ
(tỷ đồng)
2803
9741
17842
19900

(Nguồn số liệu: [10], [11], [12], [13])

Nhìn vào bảng trên, chúng ta có thể thấy được song song với số lượng sinh viên
được vay vốn ngày càng tăng cũng kèm theo với hiện tượng dư nợ cũng tăng nhanh.

học trong cả năm học là 12.821 em[16]. Trong học kì I năm học 2006-2007 theo thống kê
từ Bộ GD-ĐT, các trường ĐH, CĐ trên toàn quốc đã kỷ luật, cảnh cáo và buộc thôi học
296.445 sinh viên. Trong đó buộc thôi học gần 14.000 sinh viên do vi phạm quy chế

[17]

.

Ngoài ra còn phải kể đến một bộ phận nghỉ học giữa chừng vì thiếu điều kiện, các lý do
khách quan... Với hi vọng tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận giáo dục để sử dụng kiến
thức này nuôi sống bản thân trong tương lai kèm theo trách nhiệm hoàn trả vốn vay khi
họ có thu nhập, thực trạng trên đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ vấn đề một cách
nghiêm túc hơn. Thật sự gánh nặng lại đè lên đôi vai của nhà nước. Trợ cấp cho chương
trình vay ở mức quá lớn có xu hướng làm ảnh hưởng đến mục tiêu đích thực của vốn
vay và trên thực tế đã chuyển vốn vay vô hình thành khoản cho không gây ảnh hưởng
đến ngân sách.
Bên cạnh việc người vay không có khả năng trả nợ như đã phân tích ở trên, nguồn vốn
thu hồi khó còn do người vay cố tình không trả nợ hay thoái thác nợ. Tình hình này
cùng với nhu cầu vay vốn của học sinh, sinh viên đang tăng cao và nguồn vốn cho vay
bị hạn chế nên dẫn tới nhiều thời điểm các ngân hàng đã không đáp ứng được kịp thời
nhu cầu vay vốn của học sinh, sinh viên thuộc các hộ nghèo của 62 huyện nghèo nói
riêng và học sinh, sinh viên cả nước nói chung. Thực trạng này đặt chính phủ vào một
tình thế vô cùng khó khăn, cho vay tiếp đễ “hỗ trợ” sinh viên trong tình trạng nguồn
vốn eo hẹp hay là dừng chương trình. Bỡi lẽ nếu cho vay tiếp nhưng việc thu hồi nợ gặp
khó khăn như đã phân tích ở trên cùng với việc Chính phủ tăng mức cho vay đối với
HS-SV lên thì khả năng thu hồi vốn còn khó khăn hơn. Nếu cho vay mà không thu hồi
được thì chỉ được một thời gian sẽ “vỡ quỹ”.
Vậy nhà nước sẽ thu hồi vốn bằng cách nào, nguồn vốn sẽ được tiếp sức nhờ đâu và ai
sẽ là người trả nợ? Để giải quyết vấn đề này thật sự là một vấn đề khó khăn và có thể
giải quyết được hay không chính là ở khả năng quản lí của chính phủ!

Đối với những đối tượng gặp khó khăn trong việc trả nợ, nhà nước nên có biện pháp
giảm nhẹ gánh nặng trả nợ cho họ. Tạm thời hoãn trả nợ đối với sinh viên ra trường có
mức thu nhập thấp (thấp hơn một ngưỡng nào đó) nhưng vẫn phải trả lãi suất. Tương tự
như vậy, một kế hoạch trả nợ theo hình thức tăng dần (mặc dù vẫn dựa trên nguyên tắc
cho vay có lãi suất) có thể giúp làm giảm gánh nặng đối với sinh viên.
Bên cạnh đó, nhà nước cần kết hợp với các ban ngành địa phương kiểm tra thường
xuyên tiến độ cũng như tình hình thực hiện tại các địa phương để kịp thời đưa ra các
biện pháp xử lý trong những trường hợp có vi phạm, tiêu cực nảy sinh. Với các trường
hợp cố tình không trả được nợ, nhà nước cần áp dụng các biện pháp mạnh gây áp lực về
đạo đức thông qua công bố tên của những đối tượng ngoan cố không trả nợ.
Ngoài ra, để có thể nắm rõ sâu và sát tình hình cho vay tại các địa phương chính phủ
cũng có thể cho lập đường dây nóng để người dân liên lạc được dễ dàng hơn.
Có thể thấy việc điều hành một cách hiệu quả chương trình cho vay thường gặp khó
khăn do không thẩm định tài chính phù hợp, không lập kế hoạch trước, giám sát và
đánh giá. Rõ ràng là cần phải xây dựng năng lực nghiên cứu và đánh giá của các

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status