i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------
-----------
MAI THỊ BÌNH
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA GIUN TRÒN
OESOPHAGOSTOMUM SPP. GÂY RA TRÊN LỢN TẠI HUYỆN BẠCH THÔNG,
TỈNH BẮC KẠN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Thú y
Khoa
: Chăn nuôi Thú y
Khóa học
: 2010 - 2014
: Thú y
Khoa
: Chăn nuôi Thú y
Khóa học
: 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn
: GS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan
Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên – 2014
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học, em xin trân trọng cảm ơn:
- Ban giám hiệu, Khoa chăn nuôi Thú y, cùng toàn bộ cán bộ, giảng
viên Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, đã giúp đỡ em chỉ
bảo em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
- Với lòng biết ơn chân thành em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới: GS.TS
Nguyễn Thị Kim Lan đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá
trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
- Phòng thí nghiệm Khoa chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông
Bảng 4.3:
Hình thái, kích thước của trứng giun tròn Oesophagostomum
spp............................................................................................. 35
Bảng 4.4:
Thời gian trứng nở và phát triển thành ấu trùng có sức.............. 36
Bảng 4.5:
Hình thái, kích thước của ấu trùng giun tròn Oesophagostomum
spp............................................................................................. 38
Bảng 4.6:
Sức đề kháng của trứng Oesophagostomum spp. với pH của
môi trường ................................................................................ 39
Bảng 4.7:
Thời gian thấy trứng Oesophagostomum spp. trong phân sau
khi gây nhiễm cho lợn ............................................................... 40
Bảng 4.8:
Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun tròn Oesophagostomum
spp. cho lợn trên thực địa .......................................................... 42
: Lớn hơn
O. dentatum
: Oesophagostomum dentatum
O. longicaudum
: Oesophagostomum longicaudum
cm
: Centimét
Cs
: Cộng sự
kg
: Kilogam
KL
: Khối lượng
/
: Trên
Nguyễn Thị Kim Lan đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá
trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
- Phòng thí nghiệm Khoa chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông
Lâm – Đại học Thái Nguyên, trạm Thú y huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn
thành khóa luận.
- Xin chân thành cảm ơn bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ,
động viên khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Thái Nguyên, ngày
tháng
Sinh viên
Mai Thị Bình
năm 2014
vi
3.3.3. Nghiên cứu biện pháp phòng trị Oesophagostomosis cho lợn ................ 24
3.4. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 25
3.4.1. Thu thập mẫu...................................................................................... 25
3.4.2. Phương pháp điều tra công tác phòng chống bệnh ký sinh trùng nói
chung, bệnh Oesophagostomosis nói riêng cho lợn ở địa phương ................. 25
3.4.3. Phương pháp lấy mẫu và xét nghiệm mẫu phân ................................... 25
3.4.4. Phương pháp xác định hình thái, kích thước của giun tròn
Oesophagostomum spp. .............................................................................. 26
3.4.5. Phương pháp theo dõi sự phát triển của trứng và ấu trùng giun tròn
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 45
I. Tài liệu tiếng Việt ..................................................................................... 45
II. Tài liệu dịch từ tiếng nước Ngoài............................................................. 49
III. Tài liệu Mạng ......................................................................................... 49
1
PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi lợn của nước ta có từ lâu đời và chiếm vị trí quan trọng
trong ngành chăn nuôi, cung cấp lượng thực phẩm lớn, có giá trị dinh dưỡng
cao. Ngoài ra, chăn nuôi lợn còn cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt và
một số phế phụ phẩm khác. Hoà nhập với sự phát triển của nền kinh tế thế
giới, nước ta đã và đang từng bước thay đổi, đặc biệt là trong lĩnh vực sản
xuất nông nghiệp. Trong đó, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói
riêng đang áp dụng theo những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như
con giống, thức ăn và công tác thú y, từ đó đàn lợn của nước ta tăng lên về cả
quy mô đàn và chất lượng thịt. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi luôn phải đối mặt
với tình hình dịch bệnh xảy ra ngày càng nhiều và phức tạp, trong đó có bệnh
ký sinh trùng. Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm ở nước ta, bệnh ký sinh trùng
đã diễn ra khá phong phú và đa dạng. Đàn lợn thường nhiễm ký sinh trùng với
tỷ lệ và cường độ nhiễm cao, trong đó có giun kết hạt (Oesophagostomum
spp.). Bệnh làm cho lợn còi cọc, sinh trưởng phát triển kém và làm giảm sức
đề kháng của lợn, từ đó làm giảm hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.
Huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn là một trong những tỉnh miền núi,
phương thức chăn nuôi còn hạn chế, chủ yếu là chăn nuôi tận dụng nhỏ lẻ
trong các hộ gia đình. Do vậy, công tác vệ sinh thú y còn chưa tốt nên khả
năng cảm nhiễm bệnh cao, đặc biệt là bệnh Oesophagostomum spp. ở lợn.
Xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thực tế chăn nuôi lợn ở huyện Bạch
Theo Skrjabin và cs (1963) [44], Phan Thế Việt và cs (1977) [41], giun tròn
Oesophagostomum spp. ở lợn có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như
sau:
Ngành: Nemathelminthes Shneider, 1873
Phân ngành: Nemathelmintha Shaneider và Schulz, 1940
Lớp: Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp: Secerentea Chitwood, 1933
Bộ: Rhabditida Chitwood, 1933
Phân bộ: Strogylata Railliet, 1916
Họ: Trichonematidae Cram, 1927
Phân họ: Oesophagostomatinae Railliet et Henr, 1913
Giống: Oesophagostomum Molin, 1861
Loài: Oesophagostomum dentatum Rudolphi, 1803
Loài: Oesophagostomum longicaudum Goodey, 1925
2.1.1.2. Đặc điểm hình thái và cấu tạo Oesophagostomum spp. ký sinh ở lợn
Đề cập đến hình thái và cấu tạo Oesophagostomum spp., Skrjabin và cs
(1963) [44] cho biết:
4
Loài O. dentatum: dài từ 7 – 14 mm, đầu được giới hạn với thân rõ rệt
bởi ngăn bụng sâu. Bao miệng dài tới thực quản hình đinh ghim. Con đực có
túi đuôi, hai gai giao hợp bằng nhau dài 0,90 – 0,94 mm. Con cái âm hộ nằm
gần hậu môn, hậu môn ở cách mút đuôi 0,255 – 0,265 mm.
Loài O. longicaudum: con đực dài 8,8 – 9,6 mm, lái dạng cái xẻng. Con
cái dài 8 – 11 mm, đuôi rất dài và thon, nhọn. Hậu môn nằm cách mút đuôi
0,453 – 0,543 mm. Âm hộ cách đuôi 0,906 – 0,951 mm.
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [12] cho biết: các loài thuộc giống
Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là, túi miệng hình ống rất nhỏ,
quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh cổ ;
5. Cơ quan điều chỉnh; 6. Túi đuôi cá gai giao hợp; 5. Lái; 6. Nón sinh
thể đực; 7. Nón sinh dục.
dục của con đực
(Nguồn: Phan Thế Việt và cs, 1977)
(Nguồn: Phan Thế Việt và cs, 1977)
[41]
[41]
Hình 2.3. Giun O. dentatum
Hình 2.4. Trứng giun O. dentatum
(Nguồn:http://courseware_s/kcxxl
(Nguồn: />
[53]
[54]
6
2.1.1.3. Vòng đời của Oesophagostomum spp. ở lợn
Hagsten (2000) [43] cho rằng: thực chất của bất kỳ chương trình khống
chế giun, sán nào thì việc phá vỡ vòng đời của chúng cũng là cần thiết. Do
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1.
Thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng cho lợn ở huyện
Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn ........................................................ 30
Bảng 4.2.
Hình thái, kích thước của giun tròn Oesophagostomum spp.
trưởng thành .............................................................................. 33
Bảng 4.3:
Hình thái, kích thước của trứng giun tròn Oesophagostomum
spp............................................................................................. 35
Bảng 4.4:
Thời gian trứng nở và phát triển thành ấu trùng có sức.............. 36
Bảng 4.5:
Hình thái, kích thước của ấu trùng giun tròn Oesophagostomum
spp............................................................................................. 38
Bảng 4.6:
Sức đề kháng của trứng Oesophagostomum spp. với pH của
môi trường ................................................................................ 39
Thí nghiệm ủ phân lợn có nhiễm trứng giun đũa, trứng Oesophagostomum
spp. và ấu trùng cảm nhiễm L3 của Oesophagostomum spp.; kiểm tra sau 7, 14,
28, 56 ngày ủ, kết quả cho thấy: trứng giun đũa không bị tiêu diệt, mặc dù khả
năng sống suy giảm; trứng Oesophagostomum spp. và ấu trùng cảm nhiễm L3 bị
phá huỷ trong 7 - 14 ngày đầu của quá trình ủ.
Theo Phan Địch Lân và cs (2002) [21], Phan Lục (2006) [26], Phạm Sỹ
Lăng và cs (2009) [20]: trứng Oesophagostomum spp. theo phân ra ngoài môi
trường, gặp điều kiện nhiệt độ 25 – 27oC, sau 10 – 17 giờ nở thành ấu trùng.
9
2.1.1.5. Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm (L3) ở ngoại cảnh
Theo Oparin P.G. (1958): ấu trùng gây nhiễm của Oesophagostomum
spp. có thể duy trì khả năng sống ở môi trường bên ngoài 13 tháng (dẫn theo
Phan Địch Lân và cs, 2002 [21]).
Skrjabin (1963) [44] cho biết: ấu trùng cảm nhiễm Oesophagostomum
spp. sống lâu hơn ở môi trường ẩm thấp, súc vật nhiễm bệnh này chủ yếu trên
đồng cỏ ẩm ướt và khi uống nước ở những ao, đầm nhỏ cũng như máng nước lâu
ngày không cọ rửa. Những ấu trùng cảm nhiễm có sức đề kháng với nhiệt độ
cao và nhiệt độ thấp, với sự làm khô và với tác động của các nhân tố hoá học
tốt hơn so với ấu trùng của các giai đoạn trước. Ngoài ra, ấu trùng cảm nhiễm
có khả năng di chuyển theo hướng thẳng đứng hay nằm ngang.
Nghiên cứu về ấu trùng cảm nhiễm của Oesophagostomum spp., người
ta thấy sức đề kháng của nó với nhiệt độ khá cao: ở nhiệt độ - 15oC, độ ẩm
93% ấu trùng cảm nhiễm sau 24 giờ có khả năng hoạt động trở lại khi đưa
về nhiệt độ môi trường xung quanh. Các ấu trùng này cũng có thể sống sót
trong môi trường axit được tổng hợp nhân tạo tương tự như môi trường axit
trong dạ dày.
Nhiệt độ quá cao sẽ tác động bất lợi đến sự phát triển của ấu trùng và ấu
trùng có thể bị chết. Mưa có ảnh hưởng quan trọng đến sự phân tán của ấu
chủ hấp thụ chất độc, sinh ra những biến loạn khác nhau, nhưng thường thấy
nhất là biến loạn thần kinh và tuần hoàn. Nói chung, chất độc do ấu trùng bài
tiết mạnh hơn so với chất độc của ký sinh trùng trưởng thành.
- Tác động truyền bệnh: giun, sán bám vào các niêm mạc, gây thương
tích, phá vỡ phòng tuyến thượng bì, mở đường cho các vi khuẩn trong môi
trường xâm nhập cơ thể, vi khuẩn gây bệnh khác ghép với bệnh ký sinh trùng.
Ký sinh trùng và vi khuẩn thường kết hợp làm tổn hại thêm cho ký chủ.
11
Skrjabin và cs (1963) [44] đã mô tả chi tiết cơ chế sinh bệnh của
Oesophagostomum spp. như sau:
Bệnh lý do Oesophagostomum spp. phụ thuộc trực tiếp vào giai đoạn
phát triển của ký sinh vật. Ở giai đoạn ấu trùng, Oesophagostomum spp.là
nguyên nhân gây “bệnh hạt ruột”, còn giai đoạn trưởng thành, chúng gây ra
bệnh Oesophagostomum spp. (Oesophagostomatosis) đường ruột. Nếu như
gia súc tái nhiễm bệnh này thì ở gia súc đó cùng một lúc thấy có cả giai đoạn
hạt và giai đoạn giun trưởng thành ở ruột.
Giai đoạn hạt được coi là giai đoạn bệnh nguy hiểm hơn cả. Sau khi ấu
trùng được nuốt cùng với thức ăn và nước uống vào ruột, chúng nhanh chóng
chui sâu vào niêm mạc, tới hạ niêm mạc. Ở chỗ ấu trùng chui vào tạo thành
những hạt mà mắt thường có thể nhìn thấy được. Niêm mạc ở chỗ này sưng,
sung huyết, trên mặt có những hạt nhỏ, chính giữa có nhân màu vàng. Trong
các hạt, ấu trùng hoặc ở trạng thái tự do (chui vào chưa được bao lâu), hoặc
trong những kén (già hơn); những hạt này có thể ăn sâu vào lớp cơ của ruột.
Qua thời gian nhất định, ấu trùng từ hạt chui vào ruột. Sau khi ấu trùng
chui ra khỏi hạt, ở chỗ chúng cư trú tạo thành những chấm sẹo.
Trong thời gian phát triển hạt, ở thành ruột xuất hiện triệu chứng bệnh
(cơn đau do loét). Cùng với sự thối rữa các hạt (vào ngày thứ 7 sau khi cảm
nhiễm), ấu trùng chui ra khỏi hạt để vào ruột, lợn bị đau bụng, gầy còm, bỏ ăn, ỉa
longicaudum đạt đến giai đoạn trưởng thành sau 50 ngày cảm nhiễm.
Miaxnikova (1946) khi nghiên cứu gây nhiễm thực nghiệm cho lợn con
bằng ấu trùng O. dentatum đã cho biết, sự tạo thành các hạt ký sinh trong
thành ruột xảy ra vào hai ngày sau khi cảm nhiễm. Đến ngày thứ 20, những ấu
trùng này ra khỏi hạt và vào ruột, ở đây chúng phát triển thành giun trưởng
thành vào ngày thứ 43 (dẫn theo Skrjabin và cs, 1963 [44]).
Theo Phan Lục (2006) [26], Chu Thị Thơm và cs (2006) [37]: ở ruột có
những u kén nhỏ bằng đầu đinh ghim hay hạt đậu, có điểm màu vàng, bên
trong có ấu trùng giun. Kết tràng thường bị viêm và đôi khi thấy vài nghìn u
kén ở ruột. Có khi u kén bị hoại tử, bên trong có mủ. Có những u kén đã
thành chấm sẹo. Niêm mạc ruột già sung huyết, xuất huyết, trong xoang ruột
có nhiều Oesophagostomum spp. trưởng thành.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [20] cho biết: sau khi nhiễm giun 5 ngày, ở
niêm mạc ruột già lợn thấy những u kén nhỏ. Ở giữa kén này có điểm màu
vàng, bên trong có ấu trùng giun. Tới ngày thứ 7 – 8 thì kết tràng bị viêm có
mủ. Có khi có tới vài nghìn u kén ở trong một đoạn ruột, u kén to bằng hạt
đậu, có khi chỉ dài 0,1 cm.
2.1.2.3. Chẩn đoán bệnh Oesophagostomum spp. lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [12]: chẩn đoán bằng phương
pháp xét nghiệm phân kiểm tra trứng Oesophagostomum spp. Tuy nhiên,
14
phương pháp này ít ý nghĩa vì trứng giun Oesophagostomum spp. giống trứng
các loài giun xoăn dạ dày, ruột nên rất khó phân biệt. Vì vậy, phải nuôi trứng
nở thành ấu trùng cảm nhiễm, sau đó phân ly ấu trùng theo phương pháp
Baerman và kiểm tra hình thái, cấu tạo của ấu trùng cảm nhiễm dưới kính
hiển vi để định loài. Có thể phân biệt một số ấu trùng cảm nhiễm thuộc bộ
Strongylida như sau:
+ Ấu trùng giun tròn Dictyocalus: mút
2.1.2.4. Phòng, trị bệnh Oesophagostomosis cho lợn
* Biện pháp phòng bệnh
Theo quan điểm của Skrjabin (1963) [44], muốn thanh toán bệnh giun,
sán phải phòng bệnh có tính chất chủ động. Dùng tất cả mọi phương pháp vật
lý (ánh sáng, nhiệtđộ), cơ giới, hoá học, sinh vật học...để tiêu diệt giun, sán
trên cơ thể ký chủ, ở ngoại cảnh, ở tất cả các giai đoạn phát dục (trứng, ấu
trùng, giun, sán trưởng thành).
Phạm Hữu Doanh và cs (1995) [2] cho biết: lợn rất mẫn cảm với bệnh
ký sinh trùng, vì vậy chỉ cho lợn ăn rau, bèo khi đã rửa sạch sẽ và định kỳ tẩy
giun sán bằng các thuốc đặc hiệu. Thức ăn, nước uống phải luôn luôn sạch.
Biện pháp hữu hiệu để phòng chống bệnh giun, sán ở gia súc là biện
pháp phòng trừ bệnh tổng hợp, nghĩa là ở những vùng sinh thái nhất định,
đồng thời sử dụng nhều biện pháp có hiệu quả đối với tất cả các giai đoạn
phát triển của giun, sán ở môi trường cũng như trong cơ thể vật chủ (Nguyễn
Thị Lê và cs, 1996) [23].
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11], biện pháp phòng bệnh tổng
hợp đối với các bệnh giun tròn nói chung ở lợn gồm:
- Diệt căn bệnh trong cơ thể lợn: định kỳ tẩy giun cho lợn, mỗi năm tẩy
mấy lần là tuỳ điều kiện của từng vùng và từng loại lợn.
- Diệt căn bệnh bên ngoài: trứng giun khuếch tán ra bên ngoài là
nguyên nhân chủ yếu làm căn bệnh lan tràn, cần thực hiện các biện pháp sau:
+ Có thể diệt trứng giun bằng cách ủ phân hoặc các biện pháp lý hoá.
Các loại thuốc hoá học diệt trứng giun ở ngoại cảnh có hiệu quả như: creolin,
axit cacbonic, dung dịch NaOH 3% ...
+ Thường xuyên quét dọn phân và rơm rác ở chuồng lợn, thay ổ cho
lợn, máng ăn, dụng cụ chăn nuôi cần định kỳ sát trùng. Đối với sân chơi có
16
thể hót lớp đất bề mặt rồi phủ một lớp đất mới và rắc vôi bột ở trên. Ngoài ra,