MỘT số KINH NGHIỆM ôn LUYỆN PHẦN lí LUẬN văn cọc CHO học SINH đội TUYỂN HSG môn NGỮ văn - Pdf 35

MÔN VĂN

M

M

M V

MỘT SỐ KINH NGHIỆM ÔN LUYỆN PHẦN LÍ LUẬN VĂN
CHO HỌ S N
ỘI TUY N HSG MÔN NGỮ VĂN

ỌC

I. Kinh nghiệm giảng dạy kiến thức lí luận văn học
1. Cần trang bị cho học sinh các khái niệm, thuật ngữ cơ bản của lí luận văn học theo
từng chuyên đề, bài học cụ thể như: Tác phẩm văn học (Đề tài, chủ đề, tư tưởng, hình
tượng nghệ thuật, ngôn ngữ, kết cấu,... ), Đặc trưng của văn học (Tính tư tưởng, tính
hình tượng, tính sáng tạo),…
2. Cần vận dụng kiến thức lí luận vào tác phẩm một cách cụ thể, thiết thực, sát hợp,
tránh chung chung, giáo điều. Giáo viên cần chỉ cho học sinh thấy một vấn đề lí luận
có môn hình vạn trạng cách thể hiện trong từng tác phẩm khác nhau. Chỉ ra được
những điều đó có nghĩa là học sinh vừa hiểu rõ hơn về kiến thức lí luận vừa nắm chắc
tác phẩm văn học. Khi đó, kiến thức lí luận và kiến thức tác phẩm mới có thể hòa
quyện với nhau như một thể thống nhất hài hòa và chặt chẽ. Học sinh sẽ không còn
thấy học lí luận là nặng nề, khô khan, giáo điều và khiên cưỡng mà ngược lại, kiến
thức lí luận sẽ đi vào tác phẩm như một điều tự nhiên. Việc vận dụng lí luận sẽ được
thực hiện một cách nhuần nhuyễn, uyển chuyển, hiệu quả.
Ví như, khi cần làm rõ đặc điểm quan trọng nhất của tác phẩm trữ tình là bộc
lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc của con người, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh
triển khai như sau: Trong thơ trữ tình, nguyên tắc chủ quan là nguyên tắc cơ bản

Lor-ca trong bài “Đàn ghi ta của Lor-ca”, Thanh Thảo đã diễn tả tất cả nỗi đau đớn
bằng một chi tiết ám ảnh:
“tiếng ghi ta ròng ròng
máu chảy”
Dòng máu kia sẽ chẳng thể chảy tràn cùng âm thanh của tiếng đàn ghi ta nức
nở nếu không được thôi thúc từ chính những nhịp đập thổn thức trong trái tim của
Thanh Thảo. Ta chợt nhớ đến những tiếng đàn như khóc như than dưới năm đầu ngón
tay rỉ máu của Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du; tiếng đàn “ôm sầu
mang giận ngẩn ngơ”, “não nuột” khiến cho “Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi”, nhất là
“dòng lệ chan chứa hơn người” của vị Giang Châu Tư Mã trong “Tỳ bà hành” của
Bạch Cư Dị. Nếu không có sự hòa nhịp của cả ba linh hồn, ba trái tim ấy thì làm sao
có được bản nhạc tuyệt diệu đến vậy.
Như vậy, nghệ sĩ chân chính là người có trái tim luôn đập rộn ràng cùng với
từng hơi thở mà cuộc sống đã ban tặng cho mình. Nhưng kì diệu hơn là ngay cả khi
họ đã cạn máu, tàn hơi, đã lìa bỏ cõi trần thế thì những trái tim chân chính ấy vẫn đập
mãi với đời. Hãy đọc lời ước nguyện thật chân thành, cảm động của Tố Hữu trước
khi từ giã cõi đời, ta sẽ hiểu điều đó:
Xin tạm biệt cuộc đời yêu quý nhất
Còn mấy vần thơ một nắm tro
Thơ gửi bạn đời, tro bón đất
Sống là cho và chết cũng là cho.
Mặt khác, hướng vào trái tim không có nghĩa là nhà thơ quay lưng lại với cuộc
sống bên ngoài để chìm đắm hoàn toàn trong thế giới cảm xúc biệt lập, trong ốc đảo
cái tôi của mình. Gõ vào trái tim cũng là một cách nói nhắc nhở nhà thơ phải biết mở
rộng cánh cửa lòng mình để đón nhận cuộc sống bên ngoài đang ùa vào, để trái tim
cùng hòa nhịp với những biến động của cuộc đời bên ngoài. Để rồi khi cuộc sống đã
2


thật đầy trong tim thì thơ sẽ tràn ra đầu ngọn bút như lời Tố Hữu tâm niệm. Một nghệ

chưa đủ độ chín, thì dù muốn nhà thơ cũng không thể có được những tác phẩm giá trị
mà chỉ có những dòng chữ nửa vời, sống sượng, gượng ép, vô hồn, giả tạo. Chính vì
vậy, Tố Hữu đã từng viết: “Thơ chỉ tràn ra khi cuộc sống trong tim đã thật đầy”.
4. Khi trích dẫn ý kiến, học sinh không nhất thiết phải ghi lại đầy đủ từng câu, từng
từ. Việc này vừa khiến cách em phải ghi nhớ quá nhiều, quá ôm đồm vừa có thể dẫn
đến nhớ sai, dễ gây nhầm lẫn. Vì thế, sau khi giúp học sinh hiểu được đúng tinh thần,
3


tư tưởng của nhận định, giáo viên chỉ cần yêu cầu các em nhớ được những từ, cụm từ
quan trọng nhất mà đôi khi chúng ta tạm gọi là từ khóa. Cách làm này giúp các em
không phải ghi nhớ máy móc, giáo điều quá nhiều mà rèn luyện khả năng ghi nhớ
chủ động, sáng tạo. Hơn nữa, khi trích dẫn như vậy, bài viết của các em sẽ không gây
cảm giác lan man, sáo rỗng, khoe kiến thức mà trúng vấn đề.
Chẳng hạn, khi bàn về đặc trưng của truyện ngắn, ta có thể triển khai như sau :
Truyện ngắn là tác phẩm tự sự có quy mô, dung lượng nhỏ, vì thế, mỗi truyện ngắn
có thể ví như “một lát cắt” của hiện thực cuộc sống. Về đặc điểm kết cấu, cốt truyện,
truyện ngắn thường hướng tới việc khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản
chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người. Nếu ví tiểu thuyết
như một dòng sông thì truyện ngắn là một "khúc sông", nhưng qua khúc sông ấy phải
cho người đọc thấy cả dòng sông. Cho nên sự kiện phải được dồn nén, chọn lọc. Bút
pháp trần thuật của truyện ngắn thường là chấm phá. Vì thế, yếu tố quan trọng bậc
nhất của truyện ngắn là những chi tiết "cô đúc", có dung lượng lớn và lối hành văn
mang nhiều "ẩn ý", tạo cho tác phẩm những "chiều sâu chưa nói hết" (Từ điển thuật
ngữ văn học). Vì thế, cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian,
không gian hạn chế, thường ít có nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Đến lượt mình, các sự
kiện đó lại được hình thành từ nhiều chi tiết nghệ thuật. Không có chi tiết nghệ thuật
thì các sự kiện trong tác phẩm tự sự cũng trở thành vô hồn. Bởi truyện ngắn có nhiều
chi tiết cô đúc nên người đọc phải phát huy khả năng liên tưởng, tưởng tượng để cảm
nhận và thấu hiểu hết những ý nghĩa hàm ẩn.

a. Giải thích, bình luận ý kiến (2,0 điểm):
- Qua tác phẩm văn học, nhà văn lí giải cuộc sống, con người: Tác phẩm văn học thể
hiện những cách giải thích, đánh giá, nhận xét, nói tóm lại là thể hiện tư tưởng, quan
điểm của nhà văn về thời đại, cuộc sống, con người.
- Những suy nghĩ, lí giải của nhà văn trong tác phẩm văn học gắn với cảm xúc mãnh
liệt:
+ Sự lí giải của nhà văn về cuộc sống, con người không giống với cách lí giải của các
nhà triết học, xã hội học, sử học… bởi lẽ sự lí giải của các nhà khoa học này phải đáp
ứng yêu cầu khách quan, không mang tính chủ quan.
+ Trái lại, tác phẩm văn học là sự lí giải tràn đầy cảm xúc của nhà văn (vai trò của
cảm xúc trong sáng tạo nghệ thuật): Nhà văn luôn gắn sự lí giải với cảm xúc. Thông
qua cảm xúc, nhà văn thể hiện những lí giải của mình về cuộc sống bằng thái độ yêu
ghét, trân trọng, đồng tình, phê phán, tố cáo...
- Đôi khi, cảm xúc của nhà văn thể hiện một cách tinh tế, gián tiếp, bề ngoài tưởng
như “dửng dưng, lạnh lùng” nhưng thực chất, bên trọng luôn ẩn chứa cảm xúc dâng
trào.
b. Chứng minh (8,0 điểm):
* Đoạn văn trong “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam (3,0 điểm):
- Đoạn văn diễn tả tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật Liên sau khi đoàn tàu đêm đi qua
phố huyện, đây là hoạt động cuối cùng trong một ngày và cũng là những dòng suy
tưởng cuối cùng của Liên trước khi chìm vào giấc ngủ. Vì thế, chúng mang tính tổng
kết, chiêm nghiệm.
- Đây là giây phút bình lặng, sâu lắng hiếm hoi trong cõi lòng Liên bởi tâm hồn đa
cảm của cô không còn phải nhìn thấy những hình ảnh gợi bao nỗi buồn, bao ưu tư,
5


ước vọng của phố huyện nữa. Đoàn tàu đêm đã đi qua nên cô cũng không còn gì phải
mong mỏi, chờ đợi trong ngày hôm nay nữa: “Những cảm giác ban ngày lắng đi
trong tâm hồn Liên và hình ảnh thế giới quanh mình, mờ mờ đi trong mắt chị. Tưởng

tơ cảm xúc thật mong manh, mơ hồ, tinh tế và giăng vào hồn người đọc bằng những
câu văn thật mượt mà, trữ tình, đầy chất thơ. Phố huyện là một xó tối bị người đời bỏ
quên, nhưng bằng lòng yêu thương con người, Thạch Lam đã không quên họ. Để đến
bây giờ, bao thế hệ độc giả vẫn ngày ngày đi về phố huyện trong trang văn của ông
6


và cùng rung lên bao cung bậc cảm xúc thương cảm giống như ông dành cho những
kiếp người nơi đây.
* Đoạn thơ trong bài “Sóng” của Xuân Quỳnh (3,0 điểm):
- Sóng luôn thao thức nhớ bờ (không ngủ được) bất kể giới hạn không gian (dưới
lòng sâu, trên mặt nước), thời gian (ngày đêm). Thủ pháp đối lập được vận dụng tài
tình. Tưởng rằng chỉ ở trên mặt nước con sóng mới sục sôi, cuộn trào, vậy mà ngay
cả khi chìm vào trong lòng đại dương yên tĩnh, sâu thẳm, con sóng vẫn không chịu
ngủ yên mà vẫn cồn cào vì nỗi nhớ bờ. Đó là những con sóng ngầm. Quả thật trong
tình yêu dường như không có giới hạn nào là không thể đến. Một nỗi nhớ mang tên
vĩnh cửu bởi có lẽ từ khi đại dương đầu tiên xuất hiện trên trái đất đến tận bây giờ,
chưa bao giờ mặt biển lặng sóng, chưa bao giờ sóng ngủ yên dù chỉ trong phút giây.
- Giống như em luôn nhớ về anh: cồn cào, da diết, thao thức, thường trực, đau đáu.
Nhưng người con gái không thể thao thức trong nỗi nhớ đến ngàn năm như con sóng.
Để tồn tại, người ta vẫn phải đi vào giấc ngủ như một điều tất yếu. Nỗi nhớ người yêu
không thể khiến cô gái thao thức mãi mãi nhưng nỗi nhớ ấy vẫn vẹn nguyên ngay cả
trong giấc ngủ. Nếu sóng nhớ bờ đến mức không ngủ được thì em nhớ anh đến mức
ngay cả khi ngủ không thể quên được. Có lẽ, với một con người, nỗi nhớ như thế
cũng đã đến tận cùng rồi. Xuân Quỳnh đã thành công trong một câu thơ vừa chân
thành vừa sâu sắc. Trong bài “Tự hát” ta cũng thấy sự chân thành, sâu sắc như thế:
“Em trở về đúng nghĩa trái tim em… cả khi chết đi rồi”.
- Khổ năm là khổ thơ duy nhất kéo dài đến sáu câu như thể hiện tình cảm trào dâng,
chan chứa phá vỡ cả khuôn khổ nhỏ hẹp của hình thức thơ ca.
- Đoạn thơ là sự lí giải về nỗi nhớ của người phụ nữ trong tình yêu. Xuân Quỳnh đã

Trả lời:
a. Giải thích, bình luận:
- Văn chương luôn nhận thức và phản ánh cuộc sống muôn hình muôn vẻ, trong đó
con người chính là đối tượng trung tâm và quan trọng bậc nhất. Nhưng cuộc sống nói
chung và thế giới tâm hồn con người nói riêng lại là một thế giới vô cùng phong phú,
phức tạp và chứa đầy bí ẩn. Ở đó luôn tồn tại nhiều phương diện đối lập nhau, có cả
cái tốt lẫn cái xấu, cả cái thiện lẫn cái ác, mảng sáng lẫn mảng tối,...
- Mặt khác, khi phản ánh cuộc sống, văn học luôn đề cao cái nhìn chân thực, đầy đủ,
toàn diện và sâu sắc. Bởi vậy, nhà văn chỉ có thể hoàn thành được sứ mệnh cao cả
của mình khi biết nhìn chăm chú, nhìn thẳng, nhìn sâu vào hiện thực để phản ánh
được những góc khuất, mặt trái, những cái xấu xa, đen tối, đồng thời khám phá được
những vẻ đẹp trong con người và cuộc đời. Đó chính là cách để văn chương vừa góp
phần loại bỏ những cái xấu vừa ngợi ca những cái đẹp. Để rồi, cái đích cuối cùng mà
văn chương đưa người đọc tới chính là làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn, như
nhà văn Thạch Lam từng khẳng định: Văn chương phải là thứ khí giới tinh thần thanh
cao và đắc lực để vừa tố cáo và thay đổi cái thế giới giả dối, tàn ác vừa làm cho lòng
người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn. Văn học được coi là nhân học chính
bởi giá trị và chức năng đó.
- Muốn làm được điều ấy thì dù nói về điều tốt hay điều xấu, nhà văn phải luôn giữ
vững cái nhìn chân thực và nhân văn, nghiêm khắc và bao dung: “Nói nghệ thuật tức
nói đến sự cao cả của tâm hồn. Đẹp tức là một cái gì cao cả. Đã nói đến cái đẹp là
nói đến cao cả. Có khi nhà văn tả một cái rất xấu, một tội ác, một tên giết người,
nhưng cái nhìn cách miêu tả cái đó phải là cao cả.” (Nguyễn Đình Thi).
8


- Đây là một ý kiến sâu sắc, toàn diện, phù hợp với tư tưởng, quan điểm của nhiều
nhà văn chân chính, tiến bộ. Ý kiến trên đã nêu lên những tiêu chuẩn để đánh giá giá
trị của một tác phẩm văn chương đích thực, đồng thời đặt ra yêu cầu đối với nhà văn
trong quá trình sáng tác.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status