Đặc điểm lây nhiễm ở người nhiễm hiv, aids và sự quan tâm chăm sóc hỗ trợ điều trị của cộng đồng tại phòng khám ngoại trú BV bắc giang - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y – DƢỢC

VŨ VĂN XUÂN

ĐẶC ĐIỂM LÂY NHIỄM Ở NGƢỜI NHIỄM HIV/AIDS VÀ SỰ QUAN
TÂM CHĂM SÓC HỖ TRỢ, ĐIỀU TRỊ CỦA CỘNG ĐỒNG TẠI PHÕNG
KHÁM NGOẠI TRÖ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC GIANG

CHUYÊN NGÀNH: Y HỌC DỰ PHÒNG
MÃ SỐ : 60.72.73

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Thái Nguyên - 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.Lrc-tnu.edu.vn


2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y – DƢỢC

VŨ VĂN XUÂN

ĐẶC ĐIỂM LÂY NHIỄM Ở NGƢỜI NHIỄM HIV/AIDS VÀ SỰ QUAN
TÂM CHĂM SÓC HỖ TRỢ, ĐIỀU TRỊ CỦA CỘNG ĐỒNG TẠI PHÕNG
KHÁM NGOẠI TRÖ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC GIANG

HIV/AIDS tỉnh Bắc Giang, lãnh đạo và cán bộ Bệnh viện Đa khoa và đặc biệt
cán bộ Phòng khám Ngoại trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡ và
tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành việc thu thập số liệu phục vụ luận
văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám đốc và toàn thể cán bộ nhân viên Sở
Y tế tỉnh Bắc Giang, nói tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập.
Tôi vô cùng biết ơn những người thân trong gia đình và bạn bè thân thiết đã
động viên, hỗ trợ tôi cả về tinh thần và vật chất trong suốt quá trình học tập.
Xin trân trọng cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2009
Vũ Văn Xuân

CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.Lrc-tnu.edu.vn


4

AIDS: (Acquired Immunodeficiency Syndrome): là hội chứng suy giảm miễn
dịch mắc phải do nhiễm một loại vi rút HIV gây nên.
BCS

: Bao cao su

BKT

: Bơm kim tiêm



: Người nhiễm HIV/AIDS

NTCH

: Nhiễm trùng cơ hội

QHTD

: Quan hệ tình dục

TCMT

: Tiêm chích ma tuý

TVXNTN

: Tư vấn xét nghiệm tự nguyện

UNAIDS

: Chương trình AIDS Liên Hợp Quốc
(Joinut United Nations Program on HIV/AIDS)

WHO

: (World Health Organization): Tổ chức y tế thế giới

MỤC LỤC


Thực trạng, người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị tại phòng
khám ngoại trú BVĐK tỉnh Bắc Giang.
Tình hình chăm sóc, hỗ trợ của gia đình và cộng đồng đối
với NN HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú BVĐK tỉnh
Bắc Giang
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung của người nhiễm HIV/AIDS
Hành vi nguy cơ và một số yếu tố liên quan ở NN
HIV/AIDS.
Sự chăm sóc, hỗ trợ của gia đình và cộng đồng đối với người
NN HIV/AIDS
BÀN LUẬN
Thực trạng về người nhiễm HIV/AIDS hiện đang điều trị tại
phòng khám ngoại trú BVĐK tỉnh Bắc Giang
Hành vi nguy cơ và một số yếu tố liên quan ở NN
HIV/AIDS.
Sự chăm sóc, hỗ trợ của gia đình và cộng đồng đối với người
NN HIV/AIDS
KẾT LUẬN
KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Trang
7



Tên bảng
Phân bố người nhiễm HIV/AIDS theo nhóm đối tượng

Trang
24

Bảng 3. 2

Phân bố người nhiễm HIV/AIDS theo độ tuổi và giới tính

25

Bảng 3. 3

Phân bố theo nghề nghiệp của NN HIV/AIDS

26

Bảng 3. 4

Phân bố NN HIV/AIDS theo trình độ học vấn và nơi cư trú.

27

Bảng 3. 5

Tình trạng hôn nhân của NN HIV/AIDS

28


Bảng 3. 11

Tiêm chích ma tuý trong tháng qua và dùng chung BKT ở

33

người NN HIV/AIDS
Bảng 3. 12

Mức độ TCMT trong 1 tháng qua ở người TCMT bị nhiễm

33

HIV/AIDS
Bảng 3. 13

Loại bạn tình trong 12 tháng qua của người nhiễm HIV

34

Bảng 3. 14

Trung bình số lần QHTD trong 30 ngày qua với các loại bạn

35

tình
Bảng 3. 15


37

Bảng 3. 19

Tư vấn xét nghiệm HIV của người nhiễm HIV/AIDS

38

Bảng 3. 20

Thái độ của gia đình đối với người nhiễm HIV/AIDS

38

Bảng 3. 21

Thái độ của cộng đồng đối với người nhiễm HIV/AIDS

39

Bảng 3. 22

Đơn vị hỗ trợ và loại hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS

39

Bảng 3. 23

Người nhiễm HIV/AIDS nhận được các hỗ trợ cho phòng


chuyển đổi hình thức sử dụng ma tuý từ hút, hít sang tiêm chích ngày càng tăng
đã kéo theo sự bùng phát HIV/AIDS ở nhiều châu lục đặc biệt là châu Á. Số
người nghiện chích ma tuý nhiễm HIV chiếm 76% tổng số người nhiễm HIV ở
Malaysia; 64 % ở Việt Nam; 55 % ở Myama và 50 % ở Trung Quốc. [12]
Tại Việt Nam, trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tháng
12/1990 ở thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1991 – 1992 phát hiện thêm 11 người,
năm 1993 dịch bùng nổ lần đầu tiên phát hiện 1.100 người nhiễm, tập trung chủ
yếu ở các tỉnh phía nam, hầu hết trong các nhóm nghiện chích ma tuý. Từ cuối
năm 1993 – 1997, dịch tiếp tục lan tràn trong nhóm nghiện chích ma tuý mại
dâm có ít nhất 65% số phát hiện là người NCMT. Năm 1997 – 1999 dịch bùng
nổ lần thứ 2, xảy ra ở các tỉnh phía Bắc trong nhóm NCMT, tập trung chủ yếu ở
lứa tuổi trẻ từ 18 – 29. Số nhiễm HIV lên tục tăng qua các năm [12] [15]: Tính
đến 31/6/2009 số người nhiễm HIV được phát hiện là 149.653 người; Số người
nhiễm AIDS là 32.400 người; Số người tử vong do AIDS 43.265 người. [51]
Bắc Giang là một tỉnh có khu công nghiệp lớn của Việt Nam. Tại Bắc
Giang, đã phát hiện các trường hợp nhiễm HIV đầu tiên vào năm 1996, sau đó là
2 đối tượng NCMT, 100% số huyện/thành phố có người nhiễm, 172/229 (71%)
số xã/phường/thị trấn có người nhiễm, từ đó cho tới nay số nhiễm HIV/AIDS
liên tục tăng hàng năm. Tính đến ngày 31/5/2009 con số người nhiễm HIV/AIDS
ở Bắc Giang đã lên tới 2889 người, trong đó 1.511 người chuyển sang giai đoạn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.Lrc-tnu.edu.vn


9

AIDS, 519 người đã chết do AIDS, [45]. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng
đây là số liệu báo cáo, con số phát hiện chưa phản ánh đúng tình hình nhiễm

Chƣơng 1
TỔNG QUAN
1.1. Thực trạng lây nhiễm HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam
1.1.1. Trên thế giới

Đã qua tròn

hai thập kỷ kể từ khi trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được

phát hiện tại Mỹ, loài người hiện nay vẫn đang đứng trước hiểm họa của đại
dịch HIV/AIDS.
Trên thế giới kể từ 6/1981, phát hiện được 5 thanh niên có quan hệ tình
dục đồng giới ở Los Algeles (Mỹ) cùng mắc một chứng bệnh giống nhau và
cùng tử vong. Đến tháng 5/1983 thì phát hiện gia virus HIV tại viện Pasteur
Paris (Pháp), đến tháng 6/2006 theo ước tính cuả Tổ chức Y tế Thế giới AIDS đã
lan tràn tới 180 quốc gia và trên 60 triệu người đã bị nhiễm vi rút này [42].
Hiện có hơn 33 triệu người sống chung với HIV, đó là con số báo cáo của
Chương trình phối hợp phòng, chống AIDS của liên hợp quốc(UNAIDS) công
bố trước thềm hội nghị quốc tế về AIDS tại Mexico.Theo báo cáo, các nỗ lực
mạnh mẽ trên toàn cầu trong cuộc chiến chống lại căn bệnh thế kỷ đặt kết quả, số
người bị chết vì AIDS trên thế giới giảm liên tiếp trong hai năm (2006 – 2007).
[43], sau hơn hai thập niên gia tăng. Khoảng hai triệu người trên thế giới đã chết
vì AIDS trong năm 2007, giảm so với mức 2,1 triệu người năm 2006. Tuy nhiên
UNAIDS khảng định còn nhiều việc cần phải làm để đối phó với dịch AIDS.
Trong số 33 triệu người sống chung với AIDS năm 2007, có 2,7 triệu ca nhiễm
mới, trong khi số ca nhiễm mới HIV giảm ở một số nước như Campuchia,
Myanmar và Thái Lan thì nó lại tăng lên ở nhiều nước như Trung Quốc,
Indonosia, Kenya, Mozambique, Papua New Guinea, Nga, Ukraine và Việt Nam
[43].Thậm chí tại một số nước giàu như Đức, Anh...Số ca nhiễm mới HIV cũng


HIV nhiều chỉ đứng sau thành phố Hồ Chí Minh. Tiếp là các tỉnh, Yên Bái, Cao
Bằng và Bắc Kạn. Đáng mừng là Hà Nội, Quảng Ninh vốn là nững nơi có đông
người nhiễm HIV/AIDS nay đã giảm đáng kể. Quảng Ninh đứng ở vị trí thứ 7,
sau Hải Phòng và Hà Nội, Bà Rịa – Vũng Tàu. [ 44 ], [ 45 ]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.Lrc-tnu.edu.vn


12

Trong 6 tháng đầu năm nay, đại dịch HIV ở nước ta đang gia tăng với tốc
độ chóng mặt. Số ca nhiễm HIV đã tăng cao gấp 2 lần so với cùng kỳ năm 2007.
Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu cho biết “ Trong số ca nhiễm HIV thì có
tới 83,3% ở độ tuổi 20 – 39 ; Tỷ lệ nam giới cao gấp 4 lần so với nữ giới” [45].
Những con số thống kê cho thấy nguy cơ báo động về lực lượng lao động của
nước ta trước mối đe doạ của đại dịch này, theo thống kê từ Cục phòng chống
HIV/AIDS, đa phần các trường hợp nhiễm HIV ở nước ta nghiện chích ma tuý
hoặc liên quan đến ma tuý, con đường lây nhiễm bệnh chủ yếu hiện nay là do sử
dụng chung bơm kim tiêm và quan hệ tình dục không an toàn; 100% tỉnh/ thành
nước ta có người nhiễm HIV [45]. Tại một số địa phương, tỷ lệ người nghiện
chích ma tuý quan hệ tình dục với gái mại dâm cũng đang tăng mạnh như: An
Giang (43,3%), Đà Nẵng (35,2%), Cần Thơ(28,9%)...Đại dịch đã tràn vào nước
ta tới mức đáng lo ngại thế nhưng, đến nay có 32% xã phường triển khai Chương
trình bao cao su; 19% xã phường triển khai Chương trình bơm kim tiêm và
lượng bơm kim tiêm phát ra chỉ đáp ứng được khoảng 15% - 20% nhu cầu thực
tế [45]
Đối tượng nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam đa dạng, có ở mọi địa phương,
diễn biến phức tạp. Đối tượng nhiễm HIV ở Việt Nam không còn tập trung trong


37.585

2

Quảng Ninh

606,71

3

Hà Nội

14.419

4

Hải Phòng

6.288

5

Nghệ An

3.370

6

Thái Nguyên

dân tộc anh em, trong đó người các dân tộc thiểu số chiếm 12,9%; có 9 huyện, 1
thành phố, trong đó có 6 huyện miền núi và 1 huyện vùng cao (Sơn Động) với
229 xã/phường/thị trấn. Bắc Giang là tỉnh có nhiều đầu mối giao thông quan
trọng đi quan một số tỉnh phía Bắc (Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng
Sơn, Tuyên Quang). Phía Tây tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Phía Nam Quảng Ninh
thuộc các tỉnh lộ chạy qua, Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang tập trung nhiều khu công
nghiệp lớn như khu công nghiệp đình trám, một số cây ăn quả như vải thiều Lục
Ngạn, Những đặc điểm về kinh tế, văn hoá, xã hội này làm cho Bắc Giang là địa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.Lrc-tnu.edu.vn


14

bàn tương đối phức tạp và khó kiểm soát, Các địa bàn trọng điểm về buôn bán và
sử dụng ma túy là Tân Yên, thành phố Bắc Giang và Hiệp Hòa; các dịch vụ vui
chơi giải trí, nhà nghỉ, khách sạn cùng với hoạt động mại dâm phát triển tại thành
phố Bắc Giang, huyện Lạng Giang, Hiệp Hòa. theo kết quả điều tra vẽ bản đồ
điểm nóng về ma túy, mại dâm năm 2007, số người nghiện chích ma túy trên địa
bàn tỉnh tiếp cận được là 2.789 người; số gái mại dâm là 830 người, tập trung
chủ yếu tại thành phố Bắc Giang, huyện Lạng Giang, Tân Yên, Hiệp Hòa, Lục
Ngạn. Hàng Năm, có khoảng 50.000 lượt người dân của tỉnh Bắc Giang cũng
tiếp nhận trung bình hàng năm khoảng 20.000 lượt người là học sinh, sinh viên,
công nhân trong các khu công nghiệp, xây dựng, bộ đội... Đó là những yếu tố
nguy cơ làm tăng tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng và bên cạnh những mặt
tích cực đã có nhiều thuận lợi cho sự phát triển các loại hình tệ nạn xã hội, trong
đó có tệ nạn ma tuý và mại dâm - nguyên nhân chính làm cho Bắc Giang nhanh
chóng trở thành một điểm nóng của đại dịch HIV/AIDS trong vài năm gần đây.


2005

2006

2007

2008

31/5/2009

Số nhiễm HIV

1832

2038

2555

2798

2.889

Số chuyển AIDS

584

971

1313


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.Lrc-tnu.edu.vn


16

sóc y tế theo O`Brien F nghiên cứu trên 40.000 người hiến máu ở Ca na đa năm
2006 cho thấy có khoảng 0,25% người hiến máu lần đầu và 0,13% người hiến
máu nhắc lại đã dấu không cho biết về việc mình đã từng chích ma túy [55].
+ Các yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV của người NCMT
Tính đến 12/2008 cả nước có hơn 173,600 người nghiện chích ma túy,
giảm 4,700 người (2,6% so với cuối năm 2007), năm 2008 phát hiện mới 20,206
người nhiễm HIV (giảm 7.368 bằng 26,6% so với năm 2007),[50]. Hành vi sử
dụng ma tuý không an toàn khá phổ biến trong nhóm NCMT, là nguyên nhân
chính làm họ nhiễm HIV. Các nghiên cứu hiện nay tại một số thành phố khác
nhau cho thấy gần 1/3 người NCMT ở Braxin và 2/3 ở Thái Lan thường xuyên
dùng chung BKT. Theo kết quả của một nghiên cứu năm 1998 trên nhóm NCMT
tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam, tỷ lệ dùng chung BKT khá cao 71,5% đến
100%. Năm 1997, nghiên cứu trên 227 người NCMT tại tỉnh Quảng Đông,
Trung Quốc, Wei.L và cộng sự thấy răng 65% đối tượng dùng chung BKT và tỷ
lệ dùng BCS thấp dẫn đến tỷ lệ hiện nhiễm trong quần thể này là 22%. Nghiên
cứu thuần tập trên 579 người NCMT tại Valencia, Tây Ban Nha từ năm 1987 –
1992 cho thấy người mượn BKT có nguy cơ nhiễm HIV cao gấp 6,9 lần và có từ
2 bạn tình trở lên nguy cơ nhiễm gấp 3,5 lần. Không tiệt trùng BKT cũng dẫn
đến nhiễm HIV, nghiên cứu trên 182 đối tượng NCMT ở Longdao, tỉnh Vân
Nam, Trung Quốc, kết quả nhóm NCMT thường xuyên dùng bơm kim tiêm luộc
sôi có nguy cơ nhiễm HIV thấp hơn nhóm không luộc sôi dụng cụ chích.
Bộ trưởng Bộ y tế Nguyễn Quốc Triệu cho biết tính đến 12/2008: Một số

HIV ở mức cao như: Điện Biên 14,96%, Hà Nội 12,25%, Hải Phòng là 10,75%
[50]. Quan hệ tình dục không an toàn là nguy cơ lây nhiễm HIV đặc biệt người
nghiện chích ma tuý có quan hệ tình dục với gái mại dâm nhưng tỷ lệ dùng bao
cao su thấp. Người ta thấy rằng 83,00 % người NCMT ở Rio De Janeiro (Braxin)
không sử dụng bao cao su với bạn tình thường xuyên và 63, 00% không bao giờ
dùng với bạn tình không thường xuyên. Theo nghiên cứu của Moes và các tác
giả khác năm 1991 ở Nairobi, kênia trên 500 GMD, 80,00% trong số đó đã bị
nhiễm HIV. Một GMD có trung bình 4 bạn tình một ngày, sau khi can thiệp phát
BCS và điều trị STDs miễn phí cho số phụ nữ đó thì việc sử dụng BCS tăng từ
10,00% lên 80,00%, ngăn chặn được khoảng 10.200 trường hợp nhiễm mới
trong một năm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.Lrc-tnu.edu.vn


18

1.3. Tình hình chăm sóc, hỗ trợ và điều trị ngƣời nhiễm HIV/AIDS tại Việt
Nam và tỉnh Bắc Giang
1.3.1. Tình hình chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam.
Tính đến nay, Việt Nam có 149.653 người nhiễm HIV hiện còn sống,
32.400 người bị nhiễm AIDS và 43.265 người tử vong do AIDS. Dự báo sự lây
lan người nhiễm HIV/AIDS trong toàn quốc rất nhanh. Như vậy nhu cầu về
chăm sóc và điều trị HIV/AIDS đang ngày càng gia tăng nhanh chóng. Hiện nay
tại Việt Nam thời gian từ khi nhiễm HIV đến các giai đoạn tiếp theo và AIDS là
bao lâu và phụ thuộc những yếu tố gì cũng đang là một vấn đề cần được quan
tâm tìm hiểu, sự thành công và thất bại của chăm sóc và điều trị cho người có
HIV phụ thuộc rất nhiều vào công tác dự phòng bắt đầu từ khi người bệnh có

viên 2 người; Hộ lý 1 người; cấp phát thuốc 1 người; cộng tác viên 10 người
Vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiến hành các nghiên cứu tại phòng khám
ngoại trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang để xác định thực trạng về chăm sóc
và hỗ trợ, điều trị người nhiễm HIV/AIDS, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp
can thiệp nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch vào các nhóm đối tượng có nguy
cơ cao và đặc biệt là ngăn chặn hữu hiệu sự lây lan dịch HIV/AIDS vào cộng
đồng, cũng như thực hiện công tác quản lý, chăm sóc và hỗ trợ, điều trị người
nhiễm HIV/AIDS đặt hiệu quả tốt hơn và làm cho cuộc đời của những người
nhiễm HIV/AIDS được sống lâu hơn, khoẻ mạnh hơn..[7], [10].
Đứng trước thực trạng số người nhiễm HIV/AIDS mới vẫn tiếp tục có xu
hướng gia tăng, trong khi đó số người chuyển sang giai đoạn AIDS ngày càng
nhiều đòi hỏi tỉnh Bắc Giang có những giải pháp cụ thể đối với nhóm này nhằm
hạn chế tác động đến kinh tế – xã hội do HIV/AIDS gây ra. Những giải pháp này
đã được thể hiện trong “Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam
đến năm 2010 và tầm nhìn 2020” với nội dung: phát triển hệ thống chăm sóc, hỗ
trợ toàn diện: tăng cường khả năng tiếp cận với dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ cho
người nhiễm HIV/AIDS và phát huy tính chủ động tham gia của người nhiễm
HIV/AIDS và chống phân biệt đối xử.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.Lrc-tnu.edu.vn


20

Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CƢÖ

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status