LỜI MỞ ĐẦU
Đô thị với tốc độ hóa Đô thị hoá ngày càng cao là một xu thế tất yếu của các
quốc gia trên thế giới. Trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế – văn hoá - xã
hội của mỗi một quốc gia, các Đô thị đóng vai trò như những trung tâm hạt
nhân quan trọng.
Với vị trí xác định là trung tâm Hành chính và chính trị của Thủ đô Hà
Nội, trong những năm qua theo đường lối của Đảng, được sự quan tâm nhiều
mặt của Trung ương, Thành phố, đặc biệt là sự lãnh đạo, chỉ đạo thường
xuyên của Thành uỷ, UBND Thành phố, Đảng bộ chính quyền và nhân dân
Quận Ba Đình đã lỗ lực, quyết tâm thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ được
giao đạt được nhiều thành tựu trong phát triển Kinh tế – Xã hội: kinh tế tăng
trưởng nhanh và liên tục, Văn hoá - Xã hội có bước tiến bộ, xây dựng và quản
lý Đô thị chuyển biến tích cực. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì quá
trình xây dưng phát triển Đô thị tại Quận cũng diễn ra rất nhanh song chưa
đáp ứng được yêu cầu phát triển theo quy hoạch.Trong khi tốc độ Đô thị hoá
phát triển nhanh nhu cầu cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ phát triển nhiều khi
không được quản lý theo quy hoạch. Nếu công tác quản lý quy hoạch xây
dựng là tiền đề cho việc tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về xây dựng thì
Cấp phép xây dựng là nhiệm vụ trực tiếp để thực hiện xây dựng theo quy
hoạch và kiến trúc Đô thị.
Trong những năm qua, Quận Ba Đình đã có những biện pháp để quản lý
quy hoạch và xây dựng theo quy hoạch, nhất là trong vấn đề cấp giấy phép
xây dựng và coi đây là công tác trọng tâm để xây dựng và phát triển Cơ sở hạ
tầng Đô thị và kinh tế xã hội ngày. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn
còn những bất cập cần cần được xem xét có hướng giải quyết một cách hiệu
quả.
1
Là một sinh viên chuyên ngành Kinh tế và Quản lý Đô thị, qua thời gian
cách thức mà chính quyền Đô thị vận dụng các công cụ quản lý để tác động
vào các hoạt động xây dựng và phát triển Đô thị( chủ yếu là không gian vật
thể )nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
Trong điều lệ quản lý Đô thị ban hành kèm theo Nghị Định 91/CP ngày
17/8/1994 của Chính phủ đã xác định nội dung của Quản lý nhà nước về quy
hoạch Đô thị gồm:
a, Ban hành các quy định về quản lý quy hoạch xây dựng Đô thị
b, Lập, xét duyệt quy hoạch xây dựng Đô thị.
c, Quản lý việc cải toạ và xây dựng các công trình trong Đô thị theo quy
hoạch đô thị được duyệt.
d,Bảo vệ cảnh quan môi trường sống Đô thị.
e, Quản lý việc sử dụng và khai thác cơ sở hạ tầng kỹ thuật Đô thị.
g, Giải quyết tranh chấp, thanh tra và xử lý vi phạm những quy định về
quản lý Đô thị.
Trên thực tế để giảm bớt chồng chéo trong cấp quản lý Nội dung quản
lý quy hoạch và xây dựng Đô thị được cụ thể hoá thành những nhiệm vụ chủ
yếu sau:
3
1.1. Lập và xét quy hoạch xây dựng Đô thị.
Đây là một nội dung quan trọng, dựa trên quy hoạch chung xây dựng
Đô thị Thành phố xác định phương hướng, nhiệm vụ cải tạo và xây dựng Đô
thị về không gian kiến trúc, cơ sở hạ tầng, tạo lập môi trường sống thích hợp
có xét đến sự cân đối hài hoà giữa sự mở rộng Đô thị với sản xuất kinh doanh
đảm bảo an ninh quốc phòng và các hoạt động kinh doanh khác, với việc bảo
tồn các di tích lịch sử, cảnh quan thiên nhiên.
Đồ án quy hoạch xây dựng Đô thị phải do các tổ chức chuyên môn
được Nhà nước công nhận lập ra và phải tuân theo các tiêu chuẩn quy phạm,
quy trình kỹ thuật của Nhà nước hoặc được Nhà nước cho phép sử dụng. Đồ
dựng các đường phố, soạn thảo quy chế quản lý xây dựng.
1.2. Soạn thảo và Ban hành các quy định về quản lý quy hoạch xây
dựng Đô thị.
Nghị quyết của Chính phủ dùng để ban hành các chủ trương chính sách,
biện pháp lớn, nhiệm vụ kế hoạch, ngân sách nhà nước và các mặt công tác
khác của Chính phủ. Nghị định của Chính phủ dùng để ban hành các quy định
nhằm thực hiện pháp luật, pháp lệnh của Quốc hội, các quy định về nhiệm vụ
quyền hạn, tổ chức bộ máy các cơ quan Nhà nước, các điều lệ, các quy định
về chế độ quản lý hành chính Nhà nước. Các văn bản pháp quy về quản lý
quy hoạch xây dựng đô thị là các văn bản về lập, xét duyệt quy hoạch và kế
hoạch xây dựng Đô thị , các văn bản về kiểm soát phát triển Đô thị theo quy
hoạch : Giới thiệu địa điểm, cấp chứng chỉ quy hoạch, xét duyệt các dự án đầu
tư ; giao đất cho thuê đất, lập thẩm định các thiết kế xây dựng, cấp giấy phép
đâù tư, cấp giấy phép xây dựng Đô thị, kiểm tra giám định chất lượng công
trình; lập hồ sơ hoàn công; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền
sở hữu công trình; các văn bản về thanh tra, kiểm tra giám, xử phạt hành chính
trong quản lý trật tự xây dựng Đô thị, các văn bản pháp quy định về chức
5
năng, nhiệm vụ của cơ quan, bộ máy quản lý quy hoạch và xây dựng Đô thị ,
quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật, chỉ dẫn thiết kế .. . có liên quan.
Những văn bản mà Nhà nước đã ban hành để góp phần vào công cuộc
xây dựng và quản lý Đô thị như:
- Nghị Định 48/CP ngày 05/05/1997 của Chính phủ về Xử phạt vi
phạm hành chính trong quản lý xây dựng, quản lý nhà và các công
trình kỹ thuật hạ tầng Đô thi.
- Nghị định số 04/CP ngày 10/01/1997 của CHính phủ về Xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đât đai.
- Quyết định 109/2001/QĐ-UB của UBND Thành phố về việc ban
xây dựng. Khi địa điểm đã được xác định, kiến trúc sư trưởng hoặc Sở xây
dựng cấp chứng chỉ quy hoạch theo đề nghị của chủ đầu tư. Sau khi dự án đã
được duyệt, chủ đầu tư phải làm các thủ tục nhận đất, xin cấp đất, xin cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy phép xây dựng tại cơ quan Nhà nước
cấp có thẩm quyền. Việc cấp giấy phép cải tạo và xâydựng phải căn cứ vào
giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất và sở hữu công trình, các điều kiện tối
thiểu vệ sinh, bảo vệ môi trường, các yêu cầu về quy hoạch kiến trúc Đô thị,
về mỹ quan công trình, cảnh quan Đô thị và các tiêu chuẩn, các quy phạm về
quy hoạch Đô thị và các quy định về xây dựng Đô thị.
Việc xây dựng các công trình ngầm duới các tuyến đường phố chính
của Đô thị phải được tiến hành đồng bộ, khơỉ công xây dựng cùng một lúc và
công trình ngầm phải hoàn thiện trước khi xây dựng trên mặt đất. Trong
trường hợp chưa đủ điều kiện xây dựng đồng bộ mà vẫn phải tiến hành từng
phần thì phải được Chủ tịch UBND Thành phố cho phép.
Các tổ chức cá nhân sử dụng công trình kiến trúc phải giữ gìn, duy trì
hình thể kiến trúc công trình và trồng cây xanh cho phù hợp với quy hoạch
xây dựng Đô thị đã đựơc phê duyệt. UBND Quận phải đảm bảo cho các
7
đường phố, quảng trường, nhà ga, vườn hoa, công viên, cầu cống, hầm ngầm
được chiêu sáng và có tên gọi cho công trình đó, các công trình kiến trúc phải
có số đăng ký theo quy định của Nhà nước để quản lý.
Việc bố trí, lắp đặt các biển báo thông tin, quảng cáo, tranh tượng ngoài
trời của các tổ chức cá nhân có ảnh hưởng đến bộ mặt kiến trúc Đô thị và mỹ
quan đường phố phải có giấy phép lưu hành của Sở văn hoá và giấy phép xây
dựng của Kiến trúc sư trưởng hoặc Sở xây dựng của Thành phố. Các loại cây
xanh tiếp cận mặt phố chính đều phải trồng theo quy hoạch và do cơ quan có
thẩm quyền cho phép trồng hoặc chặt bỏ để đảm bảo yêu cầu sử dụng và mỹ
quan Đô thị, cải tạo về khí hậu vệ sinh môi trường và không làm hư hỏng các
- Địa điểm dự kiến xây dựng và nguồn gốc cũng như hiện trạng khu đất
đó.
- Ý đồ đầu tư : chức năng công trình Đô thị có nhiệm vụ cung cấp
chứng
chỉ quy hoạch để làm cơ sở cho các chủ đâù tư tiến hành lập dự án khả thi
thiết kế công trình .
- Cở sở để cấp chứng chỉ quy hoạch là: đơn xin cấp chứng chỉ quy
hoạch
của chủ đầu tư, quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt, các
tiêu chuẩn, quy phạm và xây dựng đô thị, vệ sinh môi trường, an toàn ...được
cơ quan Nhà nước ban hành hoặc cho phép sử dụng.
Trong chứng chỉ quy hoạch cần xác định rõ nhứng yêu cầu về vệ sinh
an toàn phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường. Các yêu cầu về sử dụng đất
đai, chức năng khu đất, loại công trình cấm xây dựng, kiến trúc và cảnh quan
Đô thị như: màu sắc, vật liệu, mái...Quan hệ giữa địa điểm xây dựng với tổng
thể, giới hạn khu đất trong chỉ giới xây dựng và đường đỏ, mục đích sử dụng
9
đất, mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất... Chứng chỉ quy hoạch là cơ sở pháp
lý để các nhà quản lý xây dựng Đô thị cấp phép xây dựng.
1.4. Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
Nội dung thanh tra, kiểm tra viẹc thực hiện quy định quản lý quy hoạch
xây dưụng Đô thị là phát hiện các vi phạm về quy hoạch xây dựng ở Đô thị
mà thực tế thường phát sinh như: phát hiện và xử lý các trường hợp cấp giấy
phép xây dựng không đúng thẩm quyền, phát hiện và xử lý các trường hợp cấp
giấy phép xây dựng không đúng thẩm quyền, phát hiện các đơn vị thi công
không có tư cách pháp nhân, phát hiện hành vi xây dựng phá dỡ công trình
không có giấy phép hoặc làm không đúng với giấy phép; vi phạm việc bảo vệ
địa bàn Thành phố. UBND Thành phố ra quy định về “ cấp giấy phép xây
dựng trên địa bàn Thành phố Hà Nội ” ( ban hành kèm theo Quyết định
109/2001/QĐ-UB ngày 8/11/2001 của UBND Thành phố Hà Nội ).
2.1. Mục đích và yêu cầu của cấp giấy phép xây dựng.
Cấp giấy phép xây dựng các công trình nhằm tạo cho các tổ chức, cá nhân, hộ
gia đình thực hiện xây dựng các công trình nhanh chóng, thuận tiện.
Đảm bảo quản lý việc xây dựng theo quy hoạch và tuân thủ các quy
định của pháp luật có liên quan: Bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, môi trường,
bảo tồn các di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh và các công trình kiến
trúc có giá trị ; phát triển kiến trúc mới, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc và sử
dụng hiệu quả đất đai xây dựng công trình.
Trên cơ sở cấp giấy phép xây dựng làm căn cứ để kiểm tra giám sát thi
công, xử lý các vi phạm về trật tự xây dựng, lập hồ sơ hoàn công và đăng ký
sở hữu hoặc sử dụng công trình.
2.2. Đối tượng phải xin phép xây dựng.
Các đối tượng phải xin phép xây dựng bao gồm;
11
- Nhà ở riêng lẻ của Nhân dân không thuộc đối tượng miễn giấy phép
xây dựng được quy định tại điều 33 Quy chế quản lý đầu tư và Xây dựng (ban
hành theo Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ).
- Các công trình thuộc các dự án của tư nhân, tổ chức kinh doanh không
thuộc doanh nghiệp Nhà nước, không sử dụng vốn ngân sách Nhà nước hoặc
vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà
nước.
- Các công trình của cơ quan ngoại giao và tổ chức quốc tế, các công
trình tôn giáo chủ đầu tư xin cấp giấy phép xây dựng phải cóp trách nhiệm
chấp hành đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật và giấy phép xây dựng
quyền giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích làm nhà ở, chuyên dùng
trong quá trình thực hiện các chính sách về đất đai qua từng thời kỳ của Nhà
nước mà người được giao đất, thuê đất vẫn liên tục sử dụng từ đó đến nay.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng tạm thời do cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền cấp có tên trong sổ địa chính, giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền
thuộc chế độ cũ cấp cho nguời sử dụng và không có khiếu kiện, không có
tranh chấp.
- Giấy tờ thừa kế nhà, đất. Giấy tờ chuyển nhượng đất đai, mua bàn nhà
ở kèm theo quyền sử dụng đất ở được UBND phường xác nhận , thẩm tra lô
đất đó không có tranh chấp và được UBND cấp Quận xác nhận kết quả thẩm
tra của UBND phường.
- Giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở theo hướng dẫn thông tư số 47/BXD –
XDCBĐT ngày 5/8/1989 và thông tư số 02/BXD- ĐT ngày29/4/1992 của
BXD hướng dẫn thực hiện ý kiến của Thường trực hội đồng Bộ trưởng về việc
hoá giá nhà cấp III, cấp IV tại các Đô thị từ trước ngày 15/10/1993 hoặc từ
15/10/1993 đến trước ngày 5/7/1994 mà trong giá nhà đã tính đến giá đất ở
của nhà đó.
13
Trong trường hợp hộ gia đình không có loại giấy tờ về quyền sử dụng
đất theo quy định nhưng được UBND cấp phường thẩm tra là đất đó đang sử
dụng không có tranh chấp, được UBND cấp Quận xác nhận kết quả thẩm tra
của UBND phường thì cũng được xét cấp giấy phép xây dựng ( thời gian thẩm
tra không quá 10 ngày và thời gian xác nhận không quá 7 ngày )
2.4. Chủ thể quản lý công tác cấp phép xây dựng.
* Chủ tịch UBND Quận
Chủ tịch UBND Thành phố phân cấp cho Chủ tịch UBND quận cấp giấy
phép xây dựng mới và cải tạo nhà ở riêng lẻ thuộc sở hữu tư nhân có quy mô
từ 5 tầng trở xuống, không hạn chế diện tích sàn xây dựng và cấp giấy phép
giáo bị hư hỏng, xuống cấp.
- Có văn bản chấp thuận hoặc không chấp thuận cho chủ đầu tư đối với
các công trình tôn giáo xây dựng mới(Nhà, tượng, bia, đài, tháp và các công
trình nhằm mục đích thờ tự).
* Sở văn hoá thông tin có trách nhiệm:
Có giấy phép về nội dung quảng cáo, tượng đài và tranh hoành tráng
theo yêu cầu của Chủ đầu tư hoặc thoả thuận bằng văn bản khi có yêu cầu của
cơ quan cấp giấy phép xây dựng.
*Các tổ chức liên quan khác
Để thực hiện cấp phép xây dựng cho các công trình, trong trường hợp cần
thiết cơ quan cấp giấy phép xây dựng có thể xin ý kiến các tổ chức liên quan,
các tổ chức liên quan có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho cơ quan cấp
phép xây dựng.
2.5. Căn cứ để cấp giấy phép xây dựng.
Để xét cấp giấy phép xây dựng cơ quan cấp giấy phép xây dựng phải dựa vào
các căn cứ sau;
15
2.5.1. Hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng do chủ đầu tư buộc làm ba bộ,
một bộ trả cho người xin phép xây dựng, hai bộ nộp cho cơ quan cấp giấy
phép xây dựng.
2.5.2. Quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phê duyệt.
2.5.3. Thiết kế xây dựng công trình đã được lập thẩm định và phê duyệt
theo quy định tại điều 36 của NGhị định 52/1999/NĐ-CP và hướng dẫn của
Bộ Xây Dựng.
2.5.4. Quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy phạm về kiến trúc, quy hoạch, xây
dựng, vệ sinh môi trường và các văn bản có liên quan.
chữa, mở rộng.
Đối với các công trình là di tích văn hoá, lịch sử danh lam thắng cảnh
được Nhà nước công nhận phải có giấy phép của Bộ trưởng bộ văn hoá thông
tin và phải tuân theo các quy định của pháp luật về Bảo vệ và sử dụng di tích
lịch sử văn hoá danh lam thắng cảnh. Nếu là các công trình tôn giáo phải có
văn bản chấp thuận của Ban tôn giáo Thành phố và của UBND Thành phố.
Việc quản lý đầu tư xây dựng và thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng các
công trình tôn giáo phải tuân thủ các quy định Đ12 của Nghị định
26/1999/NĐ-CP ngày 19/4/1999 của Chính phủ về hoạt động tôn giáo
2.8. Trình tự cấp phép xây dựng.
Các công trình xây dựng Đô thị theo thông tư hướng dẫn cấp giấy phép
xây dựng và căn cứ theo NĐ 91/CP ngày 17/8/1994 ban hành điều lệ quản lý
quy hoạch Đô thị và NĐ 177/CP ngày 20/10/94 ban hành điều lệ quản lý đầu
tư và xây dựng của Chính phủ gồm các bước sau:
a, Tiếp nhận và phân loại hồ sơ xin phép xây dựng.
17
Cơ quan cấp giấy phép xây dựng có nhiệm vụ cử cán bộ có đủ tư cách thẩm
quyền và nhân lực tiếp nhận hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng, kiểm tra nội
dung và quy cách hồ sơ, sau đó phân loại ghi vào sổ theo dõi công trình.
Khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ (đơn xin phép xây dựng, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và nhà ở, các giấy tờ liên quan đến nguồn gốc của thửa đất
như Bằng khoán điền thổ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đây …).
Cơ quan tiếp nhận hồ sơ ghi mã vào số vào phiếu nhận, có chữ ký cuả bên
giao và bên nhận hồ sơ. Sau đó cán bộ hẹn ngày giải quyết vào giấy nhận hồ
sơ và được lập thành 2 bản, một bản giao cho chủ đâù tư và một bản lưu tại cơ
quan cấp giấy phép xây dựng. Trường hợp từ chối tiếp nhận hồ sơ xin cấp
giấy phép xây dựng thì người tiếp nhận hồ sơ phải trả lời rõ lý do từ chối cho
vệ cảnh quan môi trường thì cơ quan cấp giấy phép xây dựng phải tổ chức lấy
ý kiến tư vấn của Hội đồng kiến trúc quy hoạch.
Trường hợp phát sinh các khiếu nại trong việc cấp giấy phép xây dựng
thì ngừời khiếu nại phải làm đơ. Cơ quan cấp giấy phép xây dựng nhận đơn
và trả lời đương sự biết.
c, Thẩm tra hồ sơ, quy định cấp giấy phép xây dựng và thu lệ phí.
Căn cứ vào hồ sơ xin phép xây dựng, có ý kiến tham vấn, chứng chỉ quy
hoạch các quy chuẩn, tiêu chuẩn về xây dựng và các văn bản pháp luật có liên
quan, cơ quan cấp giấy phép xây dựng thẩm tra hồ sơ, kiểm tra tại thực địa đó
quyết định hay từ chối cấp giấy phép xây dựng. Trước khi trao giấy phép xây
dựng, cơ quan cấp giấy phép xây dựng thu lệ phí theo quy định của Nhà nước.
Sau khi tiếp nhận giấy phép xây dựng, chủ đầu tư phải thông báo ngày khởi
công cho cơ quan cấp giấy phép xây dựng và chính quyền sở tại biết. Trong
thời hạn 12 tháng kể từ ngày nhận được giấy phép xây dựng mà công trình
chưa khởi công thì chủ đầu tư phải xin phép gia hạn ( thời gian gia hạn thêm
là 12 tháng, quá thời gian trên thì giấy phép xây dựng không còn giá trị ).
19
Khi có nhu cầu sửa đổi bổ xung giấy phép xây dựng chủ đầu tư phải có
văn bản giải thích lý do, nội dung sửa đổi.
d, Giải quyết khiếu nại tố cáo.
Khi nhận được khiếu nại tố cáo về việc cấp giấy phép xây dựng thì cơ quan
cấp giấy phép xây dựng phải cử cán bộ có thẩm quyền nhận đơn và trả lời cho
chủ đầu tư. Trường hợp chủ đầu tư vẫn không thống nhất ý kiến trả lời của
người địa diện cơ quan cấp giấy phép xây dựng tùi Trưởng phòng cơ quan cấp
giấy phép xây dựng phải trực tiếp gặp và giải quyết khiếu nại tố cáo đối với
chủ đầu tư. Nếu chủ đầu tư vẫn không nhất trí với cách giải quyết của cơ quan
Thủ trưởng cơ quan cấp giấy phép xây dựng thì khiếu kiện lên cơ quan cấp có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
hợp lệ. Cơ quan cấp giấy phép xây dựng xem xét và quyết định thay đổi, bổ
sung GPXD trong thời gian không quá 10 ngày kể từ khi nhận được đơn giải
trình của chủ đầu tư kèm theo bản vẽ mới hợp lệ.
Khi tiến hành định vị công trình và thi công móng chủ đầu tư phải báo
cáo bằng văn bản cho cơ quan cấp giấy phép xây dựng biết trước 7 ngày để cử
cán bộ đến kiểm tra, xác minh tại hiện trường và xác nhận việc thi công công
trình đúng giấy phép xây dựng đã cấp. Nếu quá 2 ngày so với ngày hẹn trong
giấy báo của chủ đầu tư mà cơ quan cấp giấy phép xây dựng không cử người
đến kiểm tra, xác minh hiện trường, thì chủ đầu tư mới được tiếp tục triển khai
thi công công trình. Mọi sai sót do việc kiểm tra chậm trễ gây ra, cơ quan cấp
giấy phép xây dựng phải chịu trách nhiệm.
Trong quá trình thi công còn lại chủ đầu tư phải thi công theo đúng
GPXD được cấp, đảm bảo chất lượng công trình xây dựng và theo quy định
của pháp luật.
21
CHƯƠNGII: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ QUY HOẠCH VÀ CẤP GIẤY
PHÉP XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH
Giới thiệu chung về Quận Ba Đình quận Ba Đình.
Ba Đình có vị trí đặc biệt quan trọng, là trung tâm chính trị- hành chính
Thủ đô nói riêng và cả nước nói chung, nơi đặt trụ sở của nhiều cơ quan Trung
22
ương Đảng và Nhà nước, có nhiều đơn vị bộ đội, đại sứ nước ngoài đóng trên
địa bàn.
Quận Ba Đình nằm ở phía Tây Bắc nội thành Thủ đô Hà Nội, Phía Bắc
Ngọc Khánh, Thành Công, Giảng Võ…). Các khu nhà ở của nhân dân xen lẫn
các làng cũ thì xây dựng mang tính tự phát không có quy hoạch, việc đầu tư
hạ tầng kỹ thuật không đồng bộ.
Một đặc thù của quận Ba Đình là một quận còn nhiều đất nông nghiệp
( tập trung chủ yếu tại các phường Cống Vị, Ngọc Hà và Đội Cấn với diện tích
khoảng trên 100 ha) nên việc thu hồi, chuyển đổi chức năng sử dụng đất nông
nghiệp sang đất đô thị, đất ở như thế nào cho hợp lý có tính khả thi để tránh
tình trạng sử dụng đất nông nghiệp sai mục đích, gây khó khăn bức xúc trong
quản lý xây dựng và quản lý trật tự xây dựng- đô thị ở các khu vực này.
Bảng tổng hợp đất đơn vị ở
TT Loại đất
1
2
3
4
5
6
7
8
Đất khu phố cũ
Đất làng truyền thống
Đất ở cải tạo, xây mới theo quy hoạch
Đất ở ngoài đê
Đất công trình công cộng
Đất nhà trẻ, trường cấp 1,2
Đất cây xanh
Đất đường nhánh
Tổng cộng
24
Vạn Phúc, khu Đội Cấn …Quá trình Đô thị hoá diễn ra nhanh chóng trong đó
nhu cầu về nhà ở và giải phóng mặt bằng ngày càng trở lên cấp bách. Quận Ba
Đình là địa bàn có vị trí trọng yếu nên thường xuyên được sự quan tâm chỉ
đạo, lãnh đoạ của Thành phố và Trung ương về mọi mặt nói chung trong công
tác xây dựng về quản lý Đô thị nói riêng.Với sự cố của các ngành, các cấp từ
Thành phố đến Quận, công tác quản lý quy hoạch Đô thị và cấp giấy phép ở
Quận đã được những kết quả:
Trong những năm 2000-2002 Quận đã giao cho UBND 12 phường
trong Quận tổ chức quản lý quy hoạch trên cơ sở bản đồ quy hoạch chi tiết tỷ
lệ 1/2000 của Quận Ba Đình đã được UBND Thành phố phê duyệt theo quyết
định 68/2000/QĐ-UB ngày 14/7/2000 của UBND Thành phố Hà Nội do Viện
quy hoạch Đô thị – Nông thôn- Bộ xây dựng thiết lập tháng 6/1999.
Quận đã tổ chức công khai quy hoạch để mọi người dân được biết và
thực hiện theo quy hoạch. Quận đã hoàn thành công tác GPMB 3 tuyến đường
Voi Phục – Cầu giấy, Giang Văn Minh- Đội Cấn, Viện Vật lý - Đê Bưởi( giai
đoạn 1). Ngoài những kết quả mà Quận đã đạt được trong những năm qua còn
tồn tại nhiều thực trạng trong quản lý quy hoạch:
Quận có bản đồ quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 đã được UBND Thành
phố duyệt và đã có những quy hoạch dự kiến đất phục vụ các công trình công
cộng nhưng hiện nay chưa có dự án triển khai cụ thể. Các phường có tốc độ
Đô thị hoá cao và có nhiều biến động về xây dựng như: Ngọc Hà, Phúc Xá,
Cống Vị, Đội Cấn…chưa có bản đồ chi tiết tỷ lệ 1/500.Bên cạnh đó tình trạng
xay dựng tự phát, tự do cấp đấ, giới thiệu địa điểm, lấn chiếm đất xây dựng
không theo quy hoạch đã phát triển bừa bãi và đang diễn ra hàng ngày chưa có
biện phát kiểm soát triệt để. Đây là một hiện tượng phổ biến và đang là mối đe
doạ lớn cho sự phát triển lành mạnh của Thành phố Hà Nội nói chung và của
Quận Ba Đình nói riêng. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ tiêu kinh tế – xã