Cac thiet che dam bao quyen con nguoi cua LHQ, khu vuc va QG - Pdf 35

KHOA LUẬT – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
-----------------------------------

BÀI TẬP NHÓM
MÔN: LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TÊ
Chuyên đề 3&4:
Các thiết chế đảm bảo quyền con người của liên hợp quốc
Các thiết chế đảm bảo quyền người ở cấp độ khu vực và quốc gia
LỚP CAO HỌC LUÂÂT QUỐC TẾ K19
NHÓM 2:
Vũ Thị Hồng Dung

Vũ Thu Hà

Phạm Mỹ Dung

Phạm Trường Hải

Trần Thị Thùy Dương

Đỗ Thị Hằng

Phạm Thị Giang

Trần Ánh Hồng

Nguyễn Thị Thanh Hà

Nguyễn Thị Hương

Hà Nội, 4/2014

phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con
người.
Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia, cơ quan
nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người
thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được
ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như
là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những chuẩn mực này kết
tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người.
Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân
phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con

3


người. Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền con
người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai
đoạn lịch sử.
1.2. Nguồn gốc của quyền con người
Về nguồn gốc của quyền con người, có hai trường phái cơ bản đưa ra hai quan điểm trái
ngược nhau. Những người theo học thuyết về quyền tự nhiên (natural rights) cho rằng quyền con
người là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ
là thành viên của gia đình nhân loại. Các quyền con người, do đó, không phụ thuộc vào phong
tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức,
cộng đồng hay nhà nước nào; và không một chủ thể nào, kể cả các nhà nước, có thể ban phát hay
tước bỏ các quyền con người bẩm sinh, vốn có của các cá nhân.
Ngược lại với học thuyết về quyền tự nhiên là học thuyết về các quyền pháp lý (legal
rights), trong đó cho rằng các quyền con người không phải là những gì bẩm sinh, vốn có một
cách tự nhiên mà phải do các nhà nước xác định và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật
hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa. Như vậy, theo học thuyết về quyền pháp lý, phạm vi,

động lẫn nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến
việc bảo đảm các quyền khác, và ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp
hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác.
I.4.
-

Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người
Bộ luật Nhân quyền quốc tế

Bộ luật về Quyền con người bao gồm các văn kiện sau đây: Tuyên ngôn thế giới về Nhân
quyền năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội và Công ước quốc tế
về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (cùng hai Nghị định thư của Công ước).
Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền năm 1948 (Tuyên ngôn Nhân quyền):
Tuyên ngôn Nhân quyền được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948.
Tuyên ngôn Nhân quyền không phải là một Điều ước quốc tế, do đó, nó không trực tiếp xác lập
nghĩa vụ pháp lý cho các quốc gia, Tuyên ngôn Nhân quyền chỉ mang tính khuyến nghị.
Tuyên ngôn ghi nhận các quyền và tự do cơ bản của con người theo hai nhóm quyền chủ
yếu: nhóm các quyền dân sự, chính trị và nhóm các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. Tuyên ngôn
Nhân quyền không chỉ quy định và bảo vệ các quyền và tự do của con người mà còn xác định
những nghĩa vụ của các cá nhân tại cộng đồng họ sinh sống và tôn trọng các quyền và tự do của
những người khác phù hợp với trật tự công cộng, lợi ích và phúc lợi chung trong xã hội.
Công ước về các quyền dân sự và chính trị 1966:
Công ước là sự mở rộng và cụ thể hóa các quyền được bắt nguồn từ Tuyên ngôn Nhân
quyền 1948. Công ước ghi nhận quyền tự quyết của các dân tộc, việc ghi nhận này đã nhấn mạnh
giá trị, tầm quan trọng của các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới được đấu tranh giành
độc lập dân tộc, thực hiện quyền tự quyết của mình. Ngoài ra, Công ước cũng quy định tất cả các
quốc gia là thành viên của Công ước cam kết tôn trọng và đảm bảo cho mọi người trong phạm vi
lãnh thổ và thẩm quyền pháp lý của mình các quyền đã được ghi nhận trong Công ước này.
Công ước về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội 1966:
Ngoài việc ghi nhận quyền tự quyết của các dân tộc, Công ước xác định nghĩa vụ cho các

công đồng quốc tế là thành viên công ước.
Vấn đề thực thi các quốc ước quốc tế cơ bản trên của các quốc gia được đặt dưới sự giám
sát bởi các ủy ban, nhóm công tác được thành lập theo Công ước.
II. CÁC THIÊT CHÊ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI CỦA LIÊN HỢP
QUỐC
2.1. Đại hội đồng – Liên hợp quốc
2.1.1. Quyền hạn và chức năng
Đối với vấn đề nhân quyền, quyền hạn và chức năng của Đại hội đồng được ghi nhận rõ
ràng tại điều 13 (1b) của hiến chương Liên hợp quốc giao cho Đại hội đồng “đề xướng những
nghiên cứu và thông qua những khuyến nghị” với mục đích “thực hiện các quyền con người và
các quyền tự do cơ bản đối với mọi người không biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn
giáo”. Khác với hội đồng bảo an, đại hội đồng chỉ thông qua các khuyến nghị, nghị quyết kể cả
các nghị quyết thông qua các điều ước quốc tế. Những khuyến nghị này không mang tính ràng
buộc về mặt pháp lí.
2.1.2. Thực tiễn hoạt động và hiệu quả
Bên cạnh việc thông qua những khuyến nghị và nghị quyết về các vấn đề liên quan, đặc
biệt là các vấn đề về quyền con người, Đại hội đồng còn thông qua các văn kiện khác có giá trị là

6


những văn bản thiết lập các tiêu chuẩn đặc biệt về quyền con người. Những văn bản này bao
gồm các điều ước quốc tế về quyền con người mà nếu các quốc gia thành viên Liên hợp quốc
chấp nhận tham gia, chúng sẽ trở thành những văn kiện có giá trị ràng buộc đối với quốc gia đó.
Ở giai đoạn đầu tiên của Liên hợp quốc, từ năm 1946 đến 1948, đại hội đồng đã thông
qua một loạt các nghị quyết về quyền con người, tái khẳng định nguyên tắc của luật pháp quốc tế
áp dụng đối với các tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh. Những nguyên tắc này thể hiện
rõ trong Hiến chương Tòa án Nuremberg và các phán quyết của tòa này. Năm 1946, Đại hội
đồng tái tuyên bố rằng diệt chủng là một tội ác vi phạm luật quốc tế và mở ra quá trình pháp điển
hóa nhanh chóng các quy định trừng trị loại tội phạm này. Và công ước ngăn ngừa và trừng trị

ninh thế giới. Những giải pháp mà HĐBA thực hiện gồm: cứu trợ nhân đạo, trừng phạt kinh tế và
can thiệp quân sự.
Theo điều 34, Hội đồng bảo an “có thẩm quyền điều tra mọi tranh chấp hoặc tình thế có
thể dẫn đến sự bất hòa quốc tế hoặc gây ra tranh chấp và xác định xem tranh chấp ấy hoặc tình
thế ấy nếu kéo dài có thể đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế hay không”. Như vậy trong trường
hợp có sự vi phạm nghiêm trọng quyền con người một cách rõ ràng và ở mức độ cao, Hội đồng
bảo an hoàn toàn có khả năng xác định tại điều 39 của hiến chương ( hội đồng bảo an đã ra
những quyết định về chế độ phân biệt chủng tộc A-pác- thai của Nam Phi, sự hiện diện của chế
độ này ở Na-mi-bi-a và hành động của I-rắc trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1990-1991
đặc biệt đối với người Cuốc). Hơn nữa hội đồng bảo an có đủ thẩm quyền thay mặt Liên hợp
quốc để thông qua và áp dụng các biện pháp cưỡng chế nếu sự việc không được giải quyết một
cách thỏa đáng.
Thông qua việc sử dụng thẩm quyền được hiến chương giao cho, Hội đồng bảo an là cơ
quan quyết định cuối cùng về những vấn đề liên quan bao gồm cả vấn đề quyền con người.
2.2.2. Thực tiễn và hiệu quả hoạt động
Hội đồng bảo an là cơ quan duy nhất của Liên hợp quốc có thẩm quyền ban hành các
quyết định mang tính mệnh lệnh. Khi một vấn đề nảy sinh có liên quan đến hòa bình và an ninh
quốc tế được báo cáo, Hội đồng sẽ thông qua các khuyến nghị hoặc đề nghị với mục đích khuyến
khích các bên đi đến biện pháp hòa giải. Nếu không hiệu quả, Hội đồng sẽ thực hiện các cuộc
điều tra hoặc làm trung gian hòa giải của các bên trannh chấp bằng cách gửi phái đoàn của mình
hoặc bổ nhiệm một đại diện của Hội đồng đến hiện trường gặp gỡ các bên có liên quan. Khi
xung đột xảy ra ở mức độ nghiêm trọng và có nguy cơ đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế
hội đồng sẽ tiến hành các biện pháp cưỡng chế. Mặc dù hội đồng bảo an đã và đang đóng một
vai trò tích cực trong việc ngăn ngừa, giải quyết các xung đột quốc tế, khu vực và bảo vệ quyền
con người nhưng thẩm quyền và trách nhiệm của Hội đồng không phải đã được thực hiện một
cách có hiệu quả. Nhiều cuộc xung đột, diệt chủng lẽ ra phải được ngăn chặn kịp thời nếu Hội
đồng bảo an đưa ra được các quyết định nhanh chóng như trường hợp thảm sát và diệt chủng ở
Rwanda.
2.3. Hội đồng kinh tế và xã hội
2.3.1. Chức năng và quyền hạn đối với những vấn đề nhân quyền

thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền; thúc đẩy và bảo vệ quyền được phát triển; cung cấp hỗ trợ kỹ
thuật cho các hoạt động về nhân quyền trong hệ thống Liên hợp quốc, điều phối các chương trình
truyền thông và giáo dục về nhân quyền của Liên hợp quốc; tham gia đối thoại với các chính phủ
về vấn đề nhân quyền; hỗ trợ các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm thúc đẩy, bảo vệ nhân quyền;
điều phối các hoạt động nhân quyền của Liên hợp quốc; xây dựng và củng cố hoạt động của bộ
máy nhân quyền của Liên hợp quốc.
Với chức năng trên, Cao ủy nhân quyền có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực thi
các nhiệm vụ về nhân quyền của Liên hợp quốc.
2.5. Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc
Được thành lập năm 2006 với thành phần gồm 47 quốc gia đại diện để thay thế Uỷ ban
của Liên hợp quốc về quyền con người (the UN Commission on Human Rights được thành lập
trong năm 1946 là cơ quan hoạch định chính sách về quyền con người trong hệ thống Liên hợp
quốc). Hàng năm Hội đồng họp ở Giơnevơ để xem xét, phát triển, mã hoá những tiêu chuẩn quốc

9


tế mới về quyền con người và đóng góp những ý kiến cho các chính phủ. Từ năm 2006, Hội
đồng tổ chức tiến hành Đánh gia tổng thể định kỳ (Universal Periodic Review) tình hình thực
hiện quyền con người quyền con người ở 192 quốc gia thành viên Liên hợp quốc với mỗi năm
với 48 nước. Mỗi quốc gia sẽ đuợc các quốc gia khác đánh giá 4 năm một lần.
Hội đồng nhân quyền là một trong ba hội đồng quan trọng nhất của Liên hợp quốc.
Chức năng của Hội đồng nhân quyền:
Thúc đẩy công tác giáo dục, đào tạo và học tập về nhân quyền, cũng như các dịch
vụ tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật và tăng cường năng lực, đáp ứng các nhu cầu tham vấn của các quốc
gia về các vấn đề còn quan tâm;
Hội đồng nhân quyền của LHQ đồng thời cũng là một diễn đàn nơi tiến hành các
cuộc đối thoại, trao đổi về các vấn đề nhân quyền;
Hội đồng có chức năng tham vấn, gợi ý cho Đại hội đồng trong vấn đề sửa đổi,, bổ
sung và hoàn thiện pháp luật quốc tế trong lĩnh vực quyền con người;

Tòa ít có thẩm quyền về vấn đề nhân quyền, mặc dù vấn đề này là vấn đề cốt lõi, quan
trọng trong Hiến chương Liên Hợp Quốc.
2.6.2. Thực tiễn và hiệu quả hoạt động
Hầu hết các công ước, điều ước quốc tế về quyền con người không chứa đựng các quy
định thừa nhận thẩm quyền của Tòa nên các vụ việc trực tiếp có liên quan đến vấn đề này mà
Tòa xét xử là rất ít ỏi. Song không vì thế mà vai trò của Tòa với vấn đề con người hạn chế. Thực
tế cho thấy các quyết định của Tòa, các phán quyết mà Tòa đưa ra trong một số vụ việc đã đặt ra
những nguyên tắc cơ bản có ảnh hưởng quan trọng đến việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.
Với chức năng tư vấn, Tòa đã đưa ra những ý kiên tư vấn về quyền con người, tạo tiền đề pháp
lý quan trọng cho việc củng cố và phát triển luật quốc tế về quyền con người.
2.7. Các thiết chế đảm bảo quyền con người khác của Liên hợp quốc
Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đẩy mạnh việc thực hiện và bảo vệ các
quyền của trẻ em.
Vụ tiến bộ của phụ nữ trong Liên hợp quốc (DAW) làm việc trực tiếp với Uỷ ban về
xoá bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) và tích cực đẩy mạnh lồng ghép quyền con người
của phụ nữ với các hoạt động quyền con người quốc tế.
Quỹ phát triển phụ nữ của Liên hợp quốc (UNIFEM) có những chương trình và dự
án đặc biệt để thúc đẩy và bảo vệ quyền phụ nữ.
Tổ chức Giáo dục, văn hoá và khoa học của Liên hợp quốc (UNESCO) đẩy mạnh
việc thực hiện quyền con người trong những lĩnh vực hoạt động của tổ chức này.
Quỹ Dân số của Liên hợp quốc (UNFPA) tập trung vào các quyền sức khỏa sinh
sản, bình đẳng giới, tăng cường quyền năng cho phụ nữ. Vấn đề quyền con người được chú trọng
lồng ghép vào các chương trình dân số và phát triển.
Chương trình phòng chống HIV/AIDS của Liên hợp quốc (UNAIDS) coi trọng vấn
đề quyền con người trong các chương trình và dự án của mình.
III. CÁC THIÊT CHÊ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở CẤP ĐỘ KHU VỰC
VÀ QUỐC GIA
3.1. Các thiết chế bảo đảm quyền con người ở cấp độ khu vực
3.1.1. Khu vực Châu Âu
Châu Âu là tổ chức khu vực có hệ thống bảo vệ quyền con người phát triển nhất trên thế

Tổ chức các quốc gia Châu Mỹ được thành lập năm 1948 tại Hội nghị Liên Mỹ lần thứ 9.
Tuyên ngôn Châu Mỹ về quyền và nghĩa vụ của con người 1949 (Tuyên ngôn Châu
Mỹ)
Bản tuyên ngôn được xem như văn kiện nhân quyền quốc tế đầu tiên, vì nó xuất hiện sớm
hơn cả Tuyên ngôn Nhân quyền toàn cầu. Các quyền được quy định trong Tuyên ngôn Châu Mỹ
bao gồm các nhóm quyền về dân sự, chính trị và nhóm quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. Bên cạnh
việc quy định các nhóm quyền cụ thể trên, Tuyên ngôn quy định các nghĩa vụ cụ thể cho công
dân Châu Mỹ như: nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ có trách nhiệm với cộng đồng, xã hội,
nghĩa vụ quân sự, giáo dục, đóng thuế…
Công ước Nhân quyền Châu Mỹ 1969

12


Công ước Nhân quyền tập trung quy định chi tiết về các quyền dân sự và chính trị. Các
quyền về kinh tế, văn hóa và xã hội được quy định riêng rẽ tại một điều khoản riêng. Các quyền
kinh tế, văn hóa và xã hội sau đó được quy định trong Nghị định thư San Salvador.
Ủy ban Liên Mỹ về nhân quyền 1959
Ủy ban Liên Mỹ về nhân quyền là một trong hai cơ quan chính của Tổ chức các quốc gia
Châu Mỹ nhằm thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người.
Chức năng chính của Ủy ban nhằm thúc đẩy nhận thức về quyền con người ở Châu Mỹ,
cung cấp cho các quốc gia thành viên các dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực quyền con người, chuẩn
bị các báo cáo và các nghiên cứu, tiếp nhận, phân tích và điều tra các khiếu kiện của các cá nhân
liên quan đến những vi phạm quyền con người….Ủy ban có nhiệm vụ đệ trình báo cáo hàng năm
về tình hình nhân quyền lên Đại hội đồng của Tổ chức các quốc gia Châu Mỹ.
Tòa án Liên Mỹ về Nhân quyền
Tòa án Liên Mỹ có thẩm quyền tư vấn và thẩm quyền xét xử.
Tòa án là một tổ chức tư pháp độc lập mà mục tiêu là để áp dụng và giải thích các Công
ước Châu Mỹ. Để thực hiện mục tiêu này, Tòa án có hai chức năng là chức năng tư pháp và chức
năng tư vấn. Đối với chức năng tư pháp, chỉ có Ủy ban và các quốc gia thành viên của Công ước

tộc, Nghị định thư và các văn kiện khác được phê chuẩn bởi các quốc gia có liên quan.
3.1.4. Khu vực Châu Á – ASEAN
- Hiến chương ASEAN
Hiến chương ASEAN ra đời năm 2007 đã đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của
ASEAN, Hiến chương đã khẳng định rõ tư cách pháp lý của ASEAN “là một tổ chức hợp tác
khu vực liên chính phủ”.
Hiến chương là văn kiện pháp lý nền tảng và quan trọng nhất của ASEAN. Hiến chương
thể hiện rõ cam kết của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á trong việc thiết lập một cơ quan
Nhân quyền ASEAN.
Ủy ban Nhân quyền ASEAN
Ủy ban Nhân quyền ASEAN được thành lập năm 2010, hoạt động dựa trên các nguyên
tắc chung của Luật quốc tế như tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ của
các quốc gia. Trên cơ sở đó, Ủy ban cũng tôn trọng các nguyên tắc đặc thù của nhân quyền quốc
tế như: tính toàn thể, tính không tách rời nhau, phục thuộc lẫn nhau và tính tương quan của tất cả
quyền con người và các quyền tự do cơ bản. Cùng với việc ghi nhận các nguyên tắc chung như
trên, Ủy ban cũng đề cập đến các nguyên tắc đặc thù riêng của ASEAN như: tôn trọng bản sắc
dân tộc của tất cả các nước ASEAN, tôn trọng sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ và tôn giáo
giữa các nước ASEAN, nhấn mạnh các giá trị chung trên tinh thần thống nhất đa dạng.
Mục đích của Ủy ban: thúc đẩy, bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của nhân
dân các nước ASEAN; bảo vệ quyền của người dân ASEAN được sống trong hòa bình, tôn trọng
và thịnh vượng. Bên cạnh đó, quy chế của Ủy ban còn hướng đến các mục đích bao trùm hơn
như: tăng cường hợp tác khu vực nhằm hỗ trợ cho các quốc gia trong việc thúc đẩy, bảo vệ nhân
quyền và mục đích duy trì các tiêu chuẩn nhân quyền được quy định trong Tuyên ngôn Nhân
quyền 1948, Tuyên bố và chương trình hành động Viên, các văn kiện quốc tế khác.
Ủy ban được xác định rõ là một cơ quan tư vấn. Chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban tập
trung chủ yếu vào các hoạt động: nghiên cứu, phát triển chính sách chiến lược về bảo vệ nhân
quyền, thu thập thông tin, cung cấp các dịch vụ tư vấn về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền, tham

14


niên, trong đó nêu các kiến nghị về chính sách
- Đưa ra khuyến nghị với Chính phủ về việc đăng ký hay gia nhập các công ước cũng như
các cơ chế quốc tế khác về nhân quyền;
- Điều tra các vụ vi phạm nhân quyền. Ủy ban có quyền tiếp nhận các khiếu nại và tiến
hành các cuộc điều tra theo tiến trình riêng, có quyền khá rộng lớn trong việc thu thập và tiếp
nhận chứng cứ, thẩm vấn các nhân chứng, triệu tập nhân chứng và thu thập tài liệu.31 Dù chức

15


năng bán tư pháp của SUHAKAM khá rộng, Ủy ban bị cấm điều tra bất cứ khiếu nại nào liên
quan đến các cáo buộc vi phạm nhân quyền đang nằm trong tiến trình điều tra xét xử của tòa án,
kể cả đề nghị phúc thẩm hoặc các vụ việc mà tòa án đã có phán quyết cuối cùng32. Các khiếu nại
cá nhân có thể được gửi đến trực tiếp hoặc qua thư từ, email, điện thoại hoặc fax.
3.2.2. Ủy ban Nhân quyền quốc gia của Hàn Quốc (NHRCK) đã đi vào hoạt động từ
tháng 11/2001 và có chức năng:
- Xây dựng các chính sách về nhân quyền thông qua việc tiến hành các nghiên cứu về
nhân quyền và đưa ra các khuyến nghị về chính sách và phân tích luật, chính sách và kinh
nghiệm triển khai thực tế dưới gọc độ nhân quyền. Ủy ban cũng có trách nhiệm rà soát và tiến
hành nghiên cứu về việc xây dựng luật, chính sách và thực tiễn triển khai liên quan đến nhân
quyền và đưa ra các ý kiến, kiến nghị về nhiều vấn đề nhân quyền, bao gồm cả việc Hàn Quốc
tham gia và thực hiện các Công ước quốc tế về nhân quyền. Lãnh đạo các cơ quan nhận được các
khuyến nghị này cần tôn trọng và thực hiện các kiến nghị của Ủy ban. Trong trường hợp không
thực hiện, các cơ quan liên quan cần có hình thức giải trình hợp lý với Ủy ban. Ngoài ra, Ủy ban
có quyền đưa các ý kiến của mình lên tòa án theo yêu cầu hoặc theo đề xuất riêng khi vụ việc
liên quan đến việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền.
- Điều tra các vụ phân biệt đối xử, vi phạm nhân quyền và hỗ trợ giải quyết vụ việc. Công
việc gồm cả điều tra, kể cả tại hiện trường, các vụ vi phạm nhân quyền do các cơ quan trung
ương và địa phương gây ra hoặc các vụ tại các trung tâm giam giữ và bảo vệ pháp luật cũng như
hỗ trợ cho các nạn nhân. Ủy ban cũng có thẩm quyền đối với các vụ do các đối tượng, tổ chức tư

- Đóng vai trò Cơ quan chính của Chính phủ trong việc đảm bảo Chính phủ thực hiện
đúng các nghĩa vụ của mình theo các hiệp ước quốc tế và khu vực và các Công ước về quyền con
người;
- Khuyến khích các nỗ lực và phối hợp với các cơ chế khác trong lĩnh vực liên quan nhằm
thúc đẩy và bảo vệ quyền con người; và
- Thực hiện các chức năng Ủy ban thấy cần thiết cho việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con
người.
3.2.4. Ủy ban Nhân quyền Uganda (UHRC) được thành lập theo Hiến pháp năm 1995
và có chức năng:
Chủ động điều tra hoặc dựa trên khiếu nại 47của các cá nhân hoặc nhóm cá nhân;
- Thăm nhà tù, trại giam hoặc các cơ sở liên quan nhằm đánh giá và kiểm tra điều kiện
giam giữ tù nhân và đưa ra khuyến nghị.
- Xây dựng các chương trình nghiên cứu, giáo dục và thông tin nhằm thúc đẩy tôn trọng
quyền con người;
- Đưa ra khuyến nghị đối với Quốc hội về các biện pháp hiệu quả để thúc đẩy quyền con
người, bao gồm các điều khoản về bồi thường cho các nạn nhân và gia đình của họ;
- Tạo ra và duy trì nhận thức trong xã hội về các điều khoản của Hiến pháp là luật cơ bản
của người dân Uganda;

17


- Giáo dục và khuyến khích công chúng bảo vệ Hiến pháp khỏi các hình thức lợi dụng
hoặc vi phạm;
- Xây dựng, thực hiện và giám sát thực hiện các chương trình nhằm nâng cao nhận thức
của người dân về quyền công dân cũng như các quyền và nghĩa vụ của họ;
- Giám sát chính phủ trong việc thực hiện đúng các công ước quốc tế và các nghĩa vụ về
quyền con người; và
- Thực hiện các chức năng khác theo quy định của luật pháp.
3.2.5. Viện Nhân quyền của Đức (GIHR) được thành lập với tư cách là một Hiệp hội

khẳng định thành tựu và uy tín của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người tại đất nước mình,
đồng thời có những đóng góp trong đấu tranh vì quyền con người trên thế giới.
Từ khi thực hiện đổi mới, đất nước ta đã thu được nhiều thành tựu trong phát triển mọi
mặt, từ chính trị tới kinh tế, xã hội, văn hóa. Đặc biệt, từ sau Đại hội VIII của Đảng (năm 1996),
thực hiện chủ trương “tích cực, chủ động hội nhập quốc tế”, nước ta càng có những bước tiến
nhanh trong việc cải thiện quyền con người.
Với chủ trương đổi mới đúng đắn, nhất là trong phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề
xã hội, đất nước đã có bước tiến đáng kể trong cải thiện điều kiện, mức sống của người dân.
Bằng nội lực và sự giúp đỡ, cộng tác với Liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ trên thế giới,
Việt Nam đã có bước tiến nhanh chóng trong xóa đói, giảm nghèo, trở thành nước điển hình
thành công, được thế giới thừa nhận. Sau 20 năm, tỷ lệ người nghèo đã giảm từ trên 60% xuống
còn dưới 10%; nâng mức thu nhập bình quân lên khoảng 1.540 USD/người vào năm 2012 và
bước vào ngưỡng các nước thu nhập trung bình. Vấn đề an sinh xã hội, bảo đảm chăm sóc sức
khỏe, giáo dục,... được cải thiện đáng kể.
Hội nhập tích cực, chủ động với thế giới, nước ta đã thực hiện nhiều đổi mới, hoàn thiện
thể chế chính trị, hệ thống luật pháp. Đặc biệt, trong hệ thống luật pháp, đã sửa đổi Luật Đầu tư,
Luật Công ty, các quy định pháp luật về xuất cảnh, quốc tịch, nhận con nuôi theo tinh thần cởi
mở, thông thoáng; ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, Luật Báo chí, Luật Xuất bản,... Do
vậy, trên thực tế, các quyền dân sự, chính trị của người dân, bao hàm các quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, quyền tự do đi lại, quyền tham gia đời sống chính trị, quyền của người dân tộc
thiểu số, của nhóm yếu thế trong xã hội,... được nhận thức, tôn trọng và được bảo đảm tốt hơn.
Những thành tựu đó được người dân trong nước và thế giới ghi nhận, đánh giá cao.
thuận lợi và khó khăn, thách thức trên con đường phát triển hơn nữa quyền con người của
đất nước. Thuận lợi rõ nhất là sự phát triển nhận thức lý luận của Đảng ta, nhận thức của các
tầng lớp nhân dân về tầm quan trọng, ý nghĩa của vấn đề quyền con người đã được nâng lên rõ
rệt. Những thể chế pháp lý của nhà nước pháp quyền đã được hình thành và ngày càng hoàn
thiện, tạo khuôn khổ để bảo đảm trên thực tế các quyền con người. Thể chế kinh tế thị trường
cũng đã hình thành và từng bước hoàn thiện, tạo điều kiện để bảo đảm quyền tự do sở hữu và
kinh doanh của cá nhân. Điều kiện tiếp cận với các nguồn thông tin của người dân ngày càng
thuận lợi hơn. Việt Nam được xếp thứ hai ở châu Á về tăng trưởng viễn thông và số người sử

người dân tại các địa phương đó, làm xấu hình ảnh của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.
4.2. Phương hướng và giải pháp trong giải quyết vấn đề quyền con người ở Việt
Nam
- Chủ động, tích cực tham gia các công ước và diễn đàn quốc tế về quyền con người trong
phạm vi toàn cầu và khu vực.
Ngoài hai công ước lớn là Công ước về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội và Công ước
về quyền dân sự, chính trị, thế giới coi 7 công ước sau hợp thành “cốt lõi” của quyền con người:
Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (thông qua năm 1966 có hiệu lực năm
1969); Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt với phụ nữ (thông qua năm 1979, có hiệu
lực năm 1981); Công ước về chống tra tấn (thông qua năm 1984, có hiệu lực năm 1984); Công
ước về quyền trẻ em (thông qua năm 1989, có hiệu lực năm 1989); Công ước về quyền của
người khuyết tật (thông qua năm 2006, có hiệu lực năm 2008); Công ước về bảo vệ quyền của
lao động di cư và gia đình họ (thông qua năm 1990, có hiệu lực năm 2003). Việt Nam đã tham

20


gia hầu hết các công ước này. Ngày 7-11-2013, nước ta chính thức là thành viên của Công ước
về chống tra tấn.
Trong điều kiện của hội nhập quốc tế, nước ta có số lượng lao động di cư đông và ngược
lại, có số lượng lao động nhập cư ngày càng lớn, do vậy, đã đến lúc chúng ta nên tham gia Công
ước về bảo vệ quyền của lao động di cư và gia đình họ.
- Tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp lý theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh”.
- Tăng cường pháp chế trong bảo vệ quyền con người.
- Tăng cường hợp tác quốc tế, sẵn sàng đối thoại về quyền con người, đồng thời đấu tranh
với những đòi hỏi và luận điệu phi lý từ bên ngoài.
- Tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, lấy sức mạnh kinh tế làm nền tảng lâu dài cải thiện
quyền con người, đồng thời làm sức hút với quốc tế và ngăn cản các thế lực muốn lợi dụng vấn
đề quyền con người để can thiệp vào nước ta.




Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status