Kỷ yếu hội nghị khoa học và công nghệ toàn quốc về cơ khí - Lần thứ IV
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ HỮU HẠN (h-FEM, p-FEM) CHO
PHÂN TÍCH DAO ĐỘNG CỦA KẾT CẤU DÀN PHẲNG
A REFINED FINITE ELEMENT METHOD (h-FEM, p-FEM) APPLIED TO FREE
VIBRATION ANALYSIS OF STRUSS STRUCTURES
Đỗ Văn Hiến
Khoa Cơ khí Chế tạo máy,
Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TPHCM
TÓM TẮT
Trong bài báo này, hai phiên bản làm mịn h-FEM và p-FEM sẽ được áp dụng trong
phân tích dao động cho bài toán dàn phẳng. Khác với phương pháp phần tử hữu hạn chuẩn,
mỗi phần tử thanh sẽ có nhiều hơn hai nút và các nút này sẽ được chọn làm nút làm giàu. Độ
chính xác và hiệu quả của phương pháp sẽ được so sánh với các kết quả đã được công bố
trong các công trình nghiên cứu trước đó (so sánh với phương pháp CEM và GFEM) qua các
ví dụ số. Kết quả nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng p-FEM cho kết quả hội tụ tốt hơn h-FEM.
Từ khóa: dàn, phương pháp phần tử hữu hạn, phương pháp phần tử composite, dao
động tự do
ABSTRACT
In this paper, an application of h-version and p-version Finite Element Method (FEM)
to free vibration analysis of plane trusses is presented. The h-FEM and p-FEM are developed
by enriching the standard Finite Element Method. The frequencies obtained by this method
convege with previous publishes such as CEM and GFEM. This research shows that p-FEM
gives a better result than h-FEM.
Keywords: Truss, FEM, p-FEM, h-FEM,CEM, GFEM, adaptive GFEM, free vbiration.
1. GIỚI THIỆU
Kết cấu kỹ thuật ngày càng cao hơn, mảnh hơn, nhẹ hơn và rẻ hơn. Máy móc, xe hơi và
máy bay được chế tạo với vật liệu nhẹ hơn và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật cao hơn. Ảnh hưởng
động học ngày càng được chú ý và, trong hầu hết các trường hợp, phân tích dao động của kết
cấu rất cần thiết. Có một vài phương pháp phân tích dao động có thể được tìm thấy trong các
(1)
Hay
n
ue ( x ) = ∑ N i ( x )ui
(2)
i =1
Ở đây, N i ( x ) là các hàm dạng bậc n-1; ui là chuyển vị dọc trục của nút thứ i thuộc
phần tử và nó là bậc tự do q i của véctơ chuyển vị nút phần tử {q e } .
Đối với h-FEM, tác giả sử dụng hàm nội suy tuyến tính. Còn p-FEM tác giả sử dụng
hàm nội suy bậc hai và ba trong phân tích dao động của dàn. Đối với PPPTHH chuẩn, bài
toán dàn mỗi phần tử có 2 nút và số bậc tự do cho mỗi nút 2 (bài toán dàn phẳng) và 3 (cho
bài toán dàn không gian). Khi áp dụng h-FEM và p-FEM thì mỗi phần tử thanh có nhiều hơn
2 nút và số bậc tự do mỗi nút cũng khác nhau. Cụ thể, đối với bài toán dàn phẳng các nút biên
ở mỗi phần tử hình 1 sẽ có 2 bậc tự do (các nút q 1 và q 2 ), các nút bên trong chỉ có một bậc tự
do (các nút c 1 , c 2 ,...),. Do đó, theo cách tiếp cận này cần phải thay đổi vị trí các nút trên phần
tử và ma trận xoay.
Hình 1: Các nút trong phần tử thanh
Tương tự như PPPTHH chuẩn, chúng ta cũng xây dựng ma trận độ cứng phần tử k e và
ma trận khối lượng me .
k e = ∫ BT DBdV
(6)
M e = T eT me T e
(7)
Đối với trường hợp phẳng, ma trận xoay T e được xây dựng như sau:
lij
0
0
Te =
0
0
mij
0
0
0
0
0
0
0
0
0
1
0
0
0
(8)
Hình 2: Tọa độ phần tử dàn trong trường hợp 2D
Ở đây, lij , mij là các cosin chỉ phương của trục phần tử trong hệ tọa độ tổng và L là
chiều dài của phần tử ij được tính bởi L =
lij cos
=
=
γ
x j − xi
L
(x
− xi ) + ( y j − yi ) .
2
học của dàn. Tần số dao động tự do thu được sau khi phân tích được trình bày trong bảng 1.
Kết quả phân tích cũng chỉ ra rằng, cả hai cách tiếp cận h-FEM và p-FEM hội tụ với lời giải
được giải bằng CEM và GFEM.
Bảng 1: Tần số dao động tự do của dàn gồm bảy thanh
FEM
(ndof=6)
CEM[3,8]
(ndof=13)
GFEM[5,8]
(ndof=41)
h-FEM
h-FEM
p-FEM
p-FEM
ω (rad/s)
(ndof=20)
(ndof=69)
(ndof=13)
(ndof=20)
1741.66
1647.785
1740.840
1744.798
1741.196
1741.210
1740.840
03
3341.3752
3119.12
3111.326
3136.623
3113.594
3117.085
3111.403
4825.087
06
8315.4006
7380.83
7379.482
7719.317
7409.903
7430.303
7429.357
07
8047.93
7499.144
7850.122
7530.508
8100.925
12051.90
10477.443
11457.831 10565.54
12324.403
10687.263
Mode
ndof: bậc tự do sau khi khử điều kiện biên
Các dạng mode của mô hình dàn gồm bảy thanh như hình 4. Ở các mode thấp thì
PPPTHH chuẩn và p-FEM tương đối giống nhau, khác so với h-FEM. Ở các mode cao hơn thì
sự khác nhau về dạng mode của FEM, h-FEM và p-FEM là rõ ràng.
Mode 01
Mode 02
Mode 03
Mode 06
Hình 4: Các dạng mode
3.2. Dàn phẳng gồm 15 thanh
Dao động tự do của dàn phẳng tạo thành từ 15 thanh sẽ được phân tích để minh họa cho
679.7863
680.062
679.825
679.789
679.786
02
1149.296
1139.2077
1139.2005
1140.320
1139.358
1139.237
1139.200
03
1612.350
2715.759
2600.4840
2600.4054
2613.366
2602.228
2602.863
2600.420
06
2968.220
2813.7161
2813.6172
2830.688
2816.014
2816.731
2813.648
3807.703
09
5134.736
4475.3514
4475.0017
4549.053
4485.368
4505.052
4475.956
10
5399.565
4702.0397
4701.6210
4784.691
4713.268
6356.792
6499.753
6335.244
13
7586.0742
6443.7249
6442.6448
6670.976
6474.604
6637.304
6452.215
14
8462.5861
7380.3957
7380.3513
ω (rad/s)
ndof: bậc tự do sau khi khử điều kiện biên
Phương pháp phần tử hữu hạn phân tích dao động của dàn có thể được cải thiện bằng
cách áp dụng hai phương pháp làm mịn h-FEM và p-FEM. Kết quả phân tích cũng chỉ ra
rằng, cả hai cách tiếp cận này hội tụ với lời giải được giải bằng CEM và GFEM.
Tương tự như ví dụ 1, các dạng mode của cũng tương tự giống nhau ở các mode thấp
FEM, p-FEM và khác với h-FEM. Ở các mode cao hơn thì sự khác biệt rõ ràng.
Mode 01
Mode 03
Mode 11
Mode 13
Hình 6: Các dạng mode
KẾT LUẬN
Phân tích dao động tự do của dàn phẳng dùng h-FEM và p-FEM đã được trình bày trong
bài báo này. Kết quả phân tích cũng chỉ ra rằng hai cách tiếp cận trên hội tụ so với các
888
Kỷ yếu hội nghị khoa học và công nghệ toàn quốc về cơ khí - Lần thứ IV
phương pháp CEM và GFEM đồng thời p-FEM cho lời giải chính xác hơn h-FEM, CEM và
GFEM do chi phí tính toán lớn hơn. Do vậy có thể áp dụng p-FEM cho phân tích dao động tự
do của các kết cấu dàn phức tạp trong thực tế.
REFERENCES