CON ĐƯỜNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC TÁC PHẨM
TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU CHO HỌC SINH MIỀN NÚI
HÒABÌNH
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Góp phần thực hiện Nghị quyết của Đảng về phái triển Giáo dụcĐào tạo ở các vùng miền núi
Nghị quyết II Ban chấp hành Trung ương khoá VIII trong phần định
hướng chiến lược phát triển GD-ĐT đã chỉ rõ: "Thực hiện công bằng xã
hội trong GD-ĐT... Phát triển giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số và các
vùng khó khăn, phấn đấu giảm chênh lệch về phát triển giáo dục giữa các
vùng lãnh thổ". Việc nghiên cứu vấn đề dạy văn ở miền núi nói chung,
dạy những TPVH cụ thể ở một vùng, một tỉnh miền núi nói riêng cũng là
nhằm tiến tới sự công bằng xã hội theo tinh thần nghị quyết của Đảng.
1.2. Đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới. Sự nghiệp đổi mới của Đảng đòi
hỏi ngành GD-ĐT phải đổi mới về phương pháp dạy học. Song đổi mới
như thế nào và bằng cách nào cho phù hợp và có kết quả ở từng vùng,
từng địa phương cụ thể là vấn đề đòi hỏi phải xuất phát lừ thực tiễn. Nhất
là đối với các tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong điều
kiện cuộc sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, mặt bằng văn hoá xã hội
còn ờ mức thấp thì việc đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề rất
khó khăn. Trong điều kiện đó, việc nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm tâm lý
và năng lực tiếp nhận của HS các dân tộc miền núi để góp phần vào việc
nâng cao hiệu quả của việc dạy học văn là một việc làm cần thiết có ý
nghĩa xã hội lớn. Đề tài nghiên cứu này góp phần giải quyết một trong
những vấn đề đó.
1.3. Thực trạng dạy - học văn ở miền núi Hoà Bình đòi hỏi tìm kiếm
những hiện pháp nâng cao hiệu quả
Môn văn là một môn học có nội dung phong phú đa dạng và phức tạp.
Dạy và học văn là hai hoạt động đòi hỏi nhiều sự sáng tạo của thầy và trò.
Vấn dề dạy và học các TP văn chương theo phương pháp mới đang là vấn
núi đã được công bố
Theo chúng tôi được biết đã có khoảng 30 bài báo, công trình nghiên cứu,
các luận án Tiến sỹ, Thạc sỹ của nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu tìm
hiểu về vấn đề dạy học văn ở miền núi. Song việc dạy và học văn ở miền
núi vẫn đang đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết.
Các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp lớn trong việc
nghiên cứu vấn đề dạy và học văn miền núi
Các công trình nghiên cứu đã nêu lên đặc điểm tâm lí của HS miền núi,
những khó khăn trong đời sống kinh tế, xã hội của nhân dân miền núi và
những hạn chế cùa HS miền núi khi học các TP văn chương. Hai công
trình có nhiều đóng góp vào sự nghiệp dạy và học văn ở miền núi là:
- Dạy và học văn ở miền núi (Vi Hồng-Trần Thế Phiệt - 1991).
- Luận án Tiến sĩ Giáo dục "Con đường hướng dẫn HS PTTH miền núi
chiếm lĩnh thế giới hình tượng trong TP văn chương" (Hoàng Hữu Bội,
1997).”
Các công trình nghiên cứu đã nêu lên đặc điểm tâm lí của HS miền núi,
những khó khăn trong đời sống kinh tế, xã hội của nhân dân miền núi và
những hạn chế của HS miền núi khi học các TP văn chương.
Luận án này kế tục những thành tựu của những công trình đi trước, đổng
thời góp phần bổ sung những nét đặc thù của HS miền núi Hoà Bình và
việc dạy học một TP cụ thể: Truyện Kiều.
3. Mục đích nghiên cứu
3.1. Từ thực tiễn điều tra khảo sát việc dạy và học một TPVH cụ thể:
Truyện Kiều ờ một số trường trung học của tỉnh Hoà Bình, luận án nhằm
phát hiện những khó khăn trở ngại của HS dân tộc ít người khi học một
TPVH cổ điển, đồng thời khai thác, phát huy những mặt mạnh của HS
miền núi trong việc cảm thụ TP văn chương.
3.2. Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học TP Truyện Kiều của
- Vận dụng lý luận tiếp nhận vào nghiên cứu giảng dạy TP Truyện Kiều ở
một số trường Trung học miền núi Hoà Bình, luận án đã bổ sung vào lý
luận phương pháp dạy học văn học phần phương pháp giảng dạy VHTĐ
Việt Nam cho một đối tượng cụ thể: HS phổ thông miền núi Hoà Bình.
- Minh hoạ thêm cho yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học văn học hiện
nay: Trong điều kiện khó khăn và còn nhiều hạn chế của các trường miền
núi, việc áp dụng các yêu cầu đổi mới dạy và học văn theo tinh thần phát
huy trí lực HS vẫn có thể thực hiện được và vẫn thu được những kết quả
khả quan.
6.2. Về mặt thực tiễn
Góp phần giải quyết một trong những khó khăn của việc dạy và học văn ở
các trường miền núi. Hạn chế khoảng cách tiếp nhận, đề xuất những biện
pháp cụ thể nâng cao hiệu quả dạy học TP Truyện Kiều cho HS phổ
thông miền núi Hoà Bình.
7. Bố cục của luận án: Gồm 3 phần, 1 phần phụ lục.
7.1.
7.2.
Phần mở đấu: 15 trang.
Phần nội dung: Gồm 3 chương:
+ Chương 1: Truyện Kiều với vấn đề tiếp nhận của học sinh phổ thông
miền núi Hoà Bình. (53 trang).
+ Chương 2: Biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học TP Truyện Kiều cho
HS phổ thông miền núi Hoà Bình. (56 trang).
+ Chương3: Thiết kế thể nghiệm một số bài giảng văn Truyện Kiểu ở các
trường PT miền núi Hoà Bình (52 trang).
7.3. Phần kết luận: 3 trang.
Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ điêu luyện. Với Nguyễn Du tiếng
Việt văn học của thời đại đã được nâng lên một đỉnh cao chói lọi.
Nghệ thuật thơ lục bát đạt trình độ tinh xảo.
Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, sinh động, mạch lạc.
Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật tài tình, sâu sắc.
Nghệ thuật tả cảnh phong phú, sinh động hấp dẫn.
* Hạn chế của Truyện Kiều là tư tưởng định mệnh và sự mâu thuẫn trong
tư tưởng của Nguyễn Du, vừa chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, vừa
chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo.
1.2.2. Khoảng cách trong tiếp nhận Truyện Kiều là hiện tượng thường
gặp trong quá trình học văn của học sinh miền núi Hoà Bình.
1.2.2.1. Mỗi TPVH được nhà văn xây dựng một hệ thống hình tượng, một
kết cấu, một hình thức nghệ thuật khác nhau. Do đó phương thức tiếp
nhận các TPVH khác nhau. Những khó khăn khi tìm hiểu giá trị nội dung,
nghệ thuật của Truyện Kiều luôn là những khoảng cách trong tiếp nhận
đối với HS.
1.2.2.2. Trải qua qui luật tinh lọc của công chúng và sự sàng lọc nghiệt
ngã của thời gian. Truyện Kiều đã tồn tại và ngày càng khẳng định sức
sống bất tử của nó. Truyện Kiều là TP được nhiều tầng lớp nhân dân Việt
Nam cũng như nhiều độc giả nước ngoài yêu thích. Nguyễn Du đã được
tổ chức UNESCO công nhận là Danh nhân văn hoá thế giới.
1.2.2.3. Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du dựa khá sát vào cốt truyện Kim
Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân.
Không có Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thì không có
Truyện Kiều của Nguyễn Du. Trong Truyện Kiều Nguyên Du đã phải sử
dụng tới 1.289 điển tích, điển cố, những câu chuyện trong lịch sử Trung
Quốc. Đó là những khó khăn lớn gây cản trở cho quá trình tìm hiểu TP
của HS nhất là đối với HS miền núi Hoà Bình
-Vốn hiểu biết, vốn từ ngữ của HS khi học Truyện Kiều .
-Năng lực cảm thụ của HS trước một câu Kiều, một đoạn Kiều.
-Ý thức, sự say mê học tập của HS đối với TP Truyện Kiều.
Địa bàn - Đối tượng và thời gian khảo sát:
- 9 trường THPT và THCS trong tỉnh Hoà Bình.
Thời gian khảo sát: Trong 2 năm học 1998-1999 và 1999-2000.
Nội dung phương thức khảo sát:
Phát phiếu điều tra để HS tự ghi những ý kiến của mình. Sau khi thu thập
kết quả, chúng tôi tiến hành tổng hợp phân tích các số liệu.
2.1.4. Kết quả điều tra:
HS miền núi Hoà Bình có nhiều khó khăn, hạn chế trong quá trình
học tập TP Truyện Kiều. Những khó khăn hạn chế đó đã tạo nên những
khoảng cách rất lớn trong tiếp nhận TP. Muốn nâng cao chất lượng, hiệu
quả dạy học TP phải có những biện pháp khắc phục khó khăn, hạn chế
đó.
Chúng tôi cũng đã tiến hành khảo sát một số phiếu dối với HS
trường THPT Nguyễn Huệ thị xã Hà Đông để có số liệu so sánh đối chiếu
chất lượng với HS miền núi Hoà Bình.
Nhận xét khoảng cách tiếp nhận ở học sinh miền núi Hoà Bình khi học
tác phẩm Truyện Kiều
2.2.1 Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho học tập, phục vụ cho việc học
văn học còn thiếu thốn
So sánh điều kiện học tập của học sinh nông thôn miền núi với các em
học sinh ở khu vực thị xã ta thấy rõ những khoảng cách về điều kiện học
tập. Qua bảng so sánh (bảng 20) ta thấy sự cách biệt khá xa về những
điều kiện phục vụ cho học tập của học sinh ở các vùng khác nhau.
Điều kiện phục vụ cho việc học tập TP Truyện Kiều còn hạn chế
Từ bảng tổng hợp (bảng 21) chúng ta thấy những điều kiện về cơ sở vật
rất cao.
Người giáo viên dạy văn phải chú ý nét tâm lý cộng đồng này để phát huy
nhũng yếu tố tích cực, dùng số đông lôi cuốn số ít, khơi dậy cảm xúc
cộng đồng trong tiếp nhận văn chương.
3.2.2. Tâm lý tự ti
HS miền núi thường ít nói, e dè, ngại ngùng khi tiếp xúc chỗ đông người,
sự e ngại này dẫn đến thiếu tự tin. Đó là những biểu hiện của tâm lý tự ti
của HS miền núi.
HS miền núi thường có lòng tự trọng cao. Các em thích được động viên,
khích lệ, rất say mê văn học, thích hoạt động văn nghệ. Giáo viên phải
biết tổ chức cho các em hoạt động, đưa các em vào các hoạt động văn
nghệ, thể dục thể thao. Đó chính là giúp các em khắc phục tâm lý tự ti,
tạo sự hoà đồng, mạnh dạn cho các em.
3.2.3. Tâm lý khép kín
HS miền núi thường ít cởi mở, không dễ dàng bộc lộ tâm sự. Biểu hiện
của tâm lý này là sự trầm lặng một mình, không bộc lộ thái độ của mình
trước những vấn đề đặt ra.
Truyền thụ văn học cần một tâm lý "cởi mở", do đó phải giải toả tâm lý
khép kín trong HS. Sự cởi mở trong giao tiếp, trong học tập là yếu tố hết
sức quan trọng để giúp các em giải toả tâm lý khép nép, mặc cảm, giúp
các em mạnh dạn tự tin trong cuộc sống.
3.2.4 Bản chất thật thà, bộc trực, chất phác
Hồn hậu, nhậy cảm nhân văn là thế mạnh của học sinh miền núi trong
cảm thụ văn chương. Cuộc sống gần gũi thiên nhiên, quan hệ giữa mọi
người giản đơn, ít có những va chạm đã tạo nên sự thật thà. bộc trực, chất
phác của người dân miền núi. Văn học mang tính chân thực nhưng không
thể ngây ngô đồng nhất văn chương với cuộc sống thực. HS miền núi
đem tính thật thà vào quá trình tìm hiểu, chiếm lĩnh văn học thì đó là một
là người sáng tác lại, bổ sung, hoàn thiện các giá trị của VBVH, đồng thời
là người xác nhận giá trị của TPVH. HS là bạn đọc đặc biệt vì các em
cùng lứa tuổi, cùng trình độ. Khi đến với TPVH các em có cùng mục đích
là mục đích học tập, cùng đi theo định hướng của người giáo viên. TPVH
có tác động trở lại với bạn đọc, cung cấp những hiểu biết mới, làm thay
đổi nhận thức cho bạn đọc.
1.3. Khoảng cách trong tiếp nhận văn chương
Khoảng cách là độ chênh, sự xa cách giữa sự tiếp nhận thẩm mỹ của bạn
đọc với một VBVH. Khoảng cách thẩm mỹ dược tạo nên bởi sự phong
phú đa dạng, sự tiềm ẩn trong ngôn ngữ, trong hình tượng văn học của
TPVH và từ chủ quan người đọc. Để nâng cao chất lượng dạy - học văn
phải thu hẹp dần khoảng cách thẩm mỹ, làm cho khoảng cách tiếp nhận
giữa HS với TPVH ngắn lại.
1.4. Tầm đón nhận VH trong quá trình tiếp nhận văn chương
Tầm đón nhận VH là tầm hiểu biết về VH của người tiếp thu văn học. Nó
phụ thuộc vào tác động của TPVH, nó được bổ sung và điều chỉnh trong
quá trình tiếp nhận VH của bạn đọc. Muốn nâng cao chất lượng dạy- học
văn phải nâng cao tầm đón nhận cho HS, phải tiến hành đồng bộ nhiều
hoạt động nội và ngoại khoá cho HS. Sự lựa chọn của bạn đọc là quá
trình thanh lọc trong tiếp nhận văn chương.
1.5. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học văn trong nhà trường phổ
thông đòi hỏi phải nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm Truyện Kiều
1.5.1. Trước đây, dạy học văn trong nhà trường thực hiện theo hướng
thầy giảng trò nghe, thầy là người cảm thụ hộ, trò là người tiếp thu, sao
chép lại ý thầy. Giờ giảng văn trở nên nặng nề, nhiều HS sợ học văn,
chán học văn.
1.5.2. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học văn hiện nay của Bộ GDĐT là hoàn toàn đúng đắn. Với phương pháp mới người HS sẽ chủ động,
là bạn đọc đồng sáng tạo, tự khám phá, tự rung động trước những áng văn
là một vấn đề cơ bản, có tính chất quyết định. Một trong những khó khăn
của HS miền núi khi tiếp nhận TP văn chương là vấn đề các em phải vượt
qua sức cản của "hàng rào ngôn ngữ", giáo viên phải giúp HS vượt qua
hàng rào ngăn cách đó. HS miền núi học Truyện Kiều phải vượt qua
những khó khăn rất lớn về ngôn ngữ. Để khắc phục khó khăn, hàng ngày
phải bồi dưỡng cho các em vốn từ ngữ tiếng Việt, tạo cho các em có tư
duy song ngữ,
Bồi dưỡng kiến thức ngôn ngữ cho HS miền núi cần thông qua một số
công việc cụ thể sau:
+ Cho HS lập sổ tay dùng từ.
+ Yêu cầu HS lập sử dụng từ đặt câu.
+ Yêu cầu HS ghi chép những đoạn thơ, đoạn văn hay, học thuộc, học tập
cách dùng từ trong các đoạn văn, đoạn thơ ấy.
+ Cho HS tập diễn đạt, tập nói trong các giờ thảo luận trên lớp.
2.3. Từng bước nâng cao tầm văn hoá cho học sinh
Nâng cao tầm văn hóa cho HS là bồi dưỡng kiến thức văn hoá xã hội cho
các em, rút ngắn khoảng cách tiếp nhận của các em với TP. Thế giới
Truyện Kiều là một thế giới khác lạ với đời sống thường nhật của các em.
Một trong những nhiệm vụ của người giáo viên dạy văn là phải nâng cao
tầm văn hoá cho HS. Để nâng cao tầm văn hoá cho HS miền núi, cần tập
trung vào một số hoạt động: tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ, tham quan, giao
lưu văn hoá, thi sáng tác thơ văn...
2.4. Khơi dậy và phái triển cảm xúc nhân văn tiềm ẩn ở học sinh miền núi
Mục đích của việc dạy văn là phải xây dựng cho HS cảm hứng nhân văn
cao đẹp. HS miền núi sinh ra và lớn lên ở những vùng rừng núi bao la,
hùng vĩ, cuộc sống gần gũi với thiên nhiên tươi đẹp đã tạo cho các em
một tâm hồn khoáng đạt, trong sáng, tiềm ẩn những cảm xúc nhân văn
sâu sắc. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để người giáo viên dạy văn có thể
THÔNG MIỀN NÚI HÒA BÌNH
1. Mục đích thể nghiệm:
Chứng minh tính hiệu quả của các biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học
TP Truyện Kiều cho HS phổ thông miền núi Hòa Bình.
2. Thời gian - Địa bàn thể nghiệm
-Thời gian thể nghiệm: Thể nghiệm trong năm học 1999-2000
- Địa bàn thể nghiệm: Tiến hành ở 4 đơn vị thuộc 4 huyện trong tỉnh
Hoà Bình.
- Trường THPT Năng khiếu Hoàng Văn Thụ - Hoà Bình.
- Trường THPT Mai Châu.
- Trường PT cấp 2-3 Mường Bi - Tân Lạc
- Trường PT cấp 2-3 Đà Bắc.
3. Nội dung - Phương pháp tiến hành thể nghiệm
3.1. Nội dung thể nghiệm: Áp dụng các biện pháp nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học TP Truyện Kiều cho HS phổ thông miền núi Hoà Bình. Qua
các bài:
+ Bài: Thúc Sinh từ biệt Thuý Kiều (lớp 10 tiết 88 - 89).
+ Bài; Trao duyên
(lớp 10 tiết 84 - 85).
+ Bài: Mã Giám Sinh mua Kiều
(lớp 9 tiết 37).
+ Bài; Kiều ở Lẩu Ngưng Bích
(lớp 9 tiết 38).
3.2. Phương pháp thể nghiệm: Tiến hành dạy có đối chứng với các lớp thể
cho HS miền núi Hoà Bình là một vấn đề vừa có tính khoa học, vừa có
tính thực tiễn. Luận án đã góp phần thực hiện của đường lối phát triển
văn hoá, giáo dục miền núi của Đảng và Nhà nước ta đề ra.
2. Khoảng cách trong tiếp nhận là một hiện tượng có tính quy luật.Giữa
từng cá nhân với nhau có khoảng cách, giữa các lứa tuổi có khoảng cách;
giữa hai vừng, hai địa phương có khoảng cách...; giữa các dân tộc trong
một cộng đồng quốc gia cũng cỏ khoảng cách...Vấn đề là khoảng cách
lớn hay nhỏ còn phụ thuộc vào nhìều yếu tố khác như lâm lý, điều kiện xã
hội, kinh tế, trình độ văn hóa. Trong việc dạy học, xác định dược khoảng
cách tiếp nhận của đối tuợng HS là một việc làm quan trọng và cần
thiết .Nó giúp cho người giáo viên dạy văn xác định được đối tượng tiếp
nhận của mình để có cách tổ chức và phương pháp truyền thụ thích hợp.
Xác định khoảng cách tiếp nhận của HS miền núi là để tìm các biện pháp
rút ngắn, thu hẹp khoảng cách ấy. Vì thế khi nghiên cứu, tìm hiểu các vấn
đề về miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số phải nhìn nhận một cách toàn
diện. Không nên nhìn một cách phiến diện, chỉ nhìn thấy những yếu kém,
hạn chế, thậm chí còn quá cường điệu những vấn đề đó lên; phải nhìn
thấy được cả những mặt mạnh, mặt tích cực của miền núi để vừa khắc
phục được những mặt hạn chế, yếu kém, vừa phát huy được những mặt
mạnh, mặt tích cực trong các hoạt động xã hôi cũng như trong học tập.
Đó là vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận để rút ngắn khoảng cách, nâng
cao hiệu quả học tập văn học của học sinh miền núi Hoà Bình.
Tiếp nhận văn học là một hoạt động vừa có tính chất xã hội, vừa có tính
chất tâm lý và mang nậng màu sắc chủ quan. Từ việc xác định khoảng
cách tiếp nhận của HS miền núi Hòa Bình khi học TP Truyện Kiều của
Nguyễn Du, chúng tôi để xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học
TP Truyện Kiều cho HS phổ thông trung học vùng đất này. Đó là những
công việc cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế của HS miền núi Hoà