Luận văn tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngoài nguồn vốn từ trong nước thì vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những nguồn lực quan trọng góp phần thúc đẩy
phát triển kinh tế quốc gia và địa phương 1, đặc biệt là đối với tỉnh Bến Tre, tạo điều kiện
đảm bảo an sinh xã hội qua tạo việc làm và thu nhập. Vì vậy, việc thu hút đầu tư các nhà đầu
tư/doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (viết tắt là doanh nghiệp FDI) là một ưu
tiên không chỉ ở cấp quốc gia mà còn ở góc độ phát triển của tỉnh Bến Tre.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ
chức thương mại thế giới (WTO) thì việc thu hút doanh nghiệp FDI là hết sức cần thiết. Để
thực hiện được điều đó, tỉnh luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để hỗ trợ nhà đầu tư từ
lúc nhà đầu tư mới bắt đầu tìm hiểu dự án đến thực hiện các thủ tục để đăng ký đề nghị cấp
giấy chứng nhận đầu tư và quá trình triển khai dự án sau giấy chứng nhận đầu tư. Các quy
trình, thủ tục đầu tư được cải cách theo hướng chỉ có một cơ quan đầu mối tiếp nhận xử lý
và trả kết quả cho nhà đầu tư và tập trung hỗ trợ xuyên suốt cho doanh nghiệp trước, trong
và sau giấy chứng nhận đầu tư. Với những chính sách hỗ trợ của tỉnh, hiện nay, toàn tỉnh có
khoảng 2.500 doanh nghiệp, trong đó thu hút được 50 doanh nghiệp FDI, đứng hạng thứ 3
về vốn và số dự án trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long2.
Tuy nhiên, so với tiềm năng của tỉnh, việc thu hút doanh nghiệp FDI trong nhiều
năm qua vẫn còn khiêm tốn, chưa có những dự án quy mô lớn, thật sự tác động đến phát
triển công nghiệp của tỉnh, công nghệ sản xuất còn ở mức trung bình do phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Một trong những nguyên nhân đó là i) việc khủng
hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng đến nền kinh tế của rất nhiều tỉnh, thành trong cả nước,
đặc biệt là việc thu hút doanh nghiệp FDI của 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nói chung,
1 Social
Sciences, “Ánh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế (của
nước nhận đầu tư)”. [Đọc từ: http://voer.edu.vn/m/anh-huong-cua-dau-tu-truc-tiepnuoc-ngoai-doi-voi-nenkinh-tecua-nuoc-nhan- dau-tu/5568e3801. (Đọc ngày:
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chung: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhà đầu tư
trực tiếp nước ngoài đầu tư vào tỉnh Bến Tre, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh thu hút doanh nghiệp FDI tại tỉnh Bến Tre trong thời gian tới.
3 Euro
Capital, “IMF dự báo kinh tế Việt Nam chưa phục hồi vào năm 2009”. [Đọc từ:
http://www.eurocapital.vn/Home/Default.aspx?
tabid=148&pzoneid=458&zoneid=536&distid=2370 1 (Đọc ngày: 29/07/2015) ^
^
4 Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bến Tre. [Đọc từ: http://dpibentre.gov.vn/index.php?Module=Content&Action=view&id=1441.
(Đọc
ngày
28/07/2015)
5 Thiên Nhiên (23/10/2009), “Biến đổi khí hậu và giái pháp ứng phó ở Bến Tre”. [Đọc
từ: http://www.baomoi.com/Bien-doi-khi-hau-va-giai-phap-ung-pho-o-BenTre/c/3390457.epi[. (Đọc ngày 28/7/2015)
Luận văn tốt nghiệp
Mục tiêu cụ thể: Nghiên cứu cần giải quyết các mục tiêu cụ thể như:
i) Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tư tại tỉnh Bến Tre
trong giai đoạn từ 1987 đến 2013.
ii) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhà đầu tư nước ngoài vào tỉnh Bến Tre;
iii) Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong việc thu hút các doanh
nghiệp FDI tại tỉnh Bến Tre trong thời gian tới.
3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thông qua bảng câu hỏi được thiết kế sẵn.
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
-
Ý nghĩa khoa học:
+ Phân tích một số, hệ thống các mô hình và thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp
Luận văn tốt nghiệp
nước ngoài đã được sử dụng rộng rãi hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam.
+ Qua đó nêu bật sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh thu hút doanh
nghiệp FDI tại tỉnh Bến Tre nói riêng, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nói chung.
-
Ý nghĩa thực tiễn:
+ Nhận diện các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến môi trường đầu tư của
tỉnh Bến Tre.
+ Đánh giá cụ thể các yếu tố ảnh hưởng đến sự thu hút doanh nghiệp đầu tư trực
tiếp nước ngoài.
+ Mạnh dạn, đề xuất các giải pháp mới và cụ thể nhằm tìm lối ra hiệu quả cho công
tác thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Bến Tre.
6. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
❖ Nghiên cứu ngoài nước
> Xiao Ling Huang, Athapol Ruangkanjanases and Chenin Chen (2014), “Factors
influencing Chinese firms’ decision making in foreign derect investment in Thailand",
International of Trade, Economic and Finance, Vol.5, No.6, December 2014. Mục đích của
Ronan Coy & Kathryn Cormican (2014), “Determinants of foreign direct investment: an
analysis of Japanese investment in Ireland using the Kano model", Investment management
and Financial innovations, Vol. 11, Issue 1, pages 8 - 17. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu
khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư FDI của các tập đoàn đa quốc gia Nhật Bản vào
Ireland. Tác giả ứng dụng mô hình Kano để phân tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu
Ambrose Jagongo & Vincent S. Mutswenje (2014), “A survey of the factors infuencing the
investment decisions: the case of individual investors at the NSE", international journal of
humanities and social science, Vol.4, No.4, pages 92 - 102. Nghiên cứu nhằm mục đích khảo
sát các nhân tố ảnh hưởng đến những quyết định đầu tư của bản thân cá nhân các nhà đầu tư
vào khu vực NSE. Tác giả sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá để đưa ra
phương trình nhân tố để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của bản thân
các nhà đầu tư vào khu cực NSE. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 9 nhân tố ảnh hưởng đến
quyết định đầu tư của bản thân cá nhân nhà đầu tư vào khu vực NSE bao gồm: (1) Vị trí và
hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp; (2) Lợi nhuận đầu tư và điều kiện kinh tế; (3) Đa
dạng hóa và giảm thiểu các tổn thất; (4) Ý kiến của bên thứ 3 (ý kiến của gia đình, người
thân, bạn bè, ....); (5) Thiện chí của doanh nghiệp và thông tin lợi ích; (6) Sự nhận thức của
Luận văn tốt nghiệp
doanh nghiệp; (7) những nhân tố về môi trường kinh doanh; (8) Cảm nghĩ của doanh
nghiệp; (9) Rủi ro tổn thất. Trong đó, yếu tố vị trí, hoạt động của doanh nghiệp và yếu tố lợi
nhuận đầu tư và điều kiện kinh tế có tác động lớn nhất đến quyết định đầu tư của bản thân
Agniezka Chidlow and Stephen Young (2008), “Regional determinants of FDI distribution
in Poland", William Davidson institute working paper number 943. Nghiên cứu được thực
hiện nhằm mục đích kiểm tra các yếu tố quyết định dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào Ba Lan. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố tìm kiếm kiến thức, nhóm nhân tố về
thị trường, nhóm nhân tố tích tự hay sự hình thành cụm ngành sẽ tác động trực tiếp đến
dòng vốn FDI vào các khu vực ở Ba Lan.
♦♦♦ Nghiên cứu trong nước
> Nguyễn Thị Tường Anh và Nguyễn Hữu Tâm (2013), “Nghiên cứu định lượng về các nhân
tố ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các tỉnh thành của Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, Đại học ngoại thương. Nghiên cứu
này nhằm mục đích đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại các tỉnh thành của Việt Nam trong từng giai đoạn. Tác giả sử dụng phương pháp
hồi quy tuyến tính đa biến để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài ở các tỉnh thành của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố về
tiến tới những thị trường mới, tốc độ tăng dân số cao, nguồn lao động rẻ, và sẵn sàng chấp
nhận những hạn chế về cơ sở hạ tầng. Bên cạnh đó, việc hoạt động của các doanh nghiệp
Nguyễn Thị Ninh Thuận và Bùi Văn Trịnh (2012), “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu
hút đầu tư của doanh nghiệp vào khu công nghiệp tại thành phố Cần Thơ", Tạp chí khoa
Nguyen Ngoc Anh và Nguyen Thang (2007), “Foriegn direct investment in VietNam: An
overview and analysis the determinants of spatial distribution across provinces",
Development and policies research center. Nghiên cứu đã chứng minh các nhóm yếu tố về
thị trường, nhóm yếu tố về lao động và cơ sở hạ tầng có tác động đến sự phân bố về mặt
không gian của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa các địa phương.
> Phan Thành Tâm và Phan Văn Hải (2015), “Một số giải pháp nhằm thu hút nguồn
vốn FDI vào Việt Nam trong thời gian tới”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, trang 52 - 54.
Nghiên cứu này nhằm mục đích đề xuất một số giải pháp thu hút nguồn vốn FDI vào Việt
Trong đó, phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu. Trong chương này tác
giả trình bày về FDI là gì? đặc điểm của FDI, các hình thức FDI, lợi ích của FDI, các nhân
tố ảnh hưởng đến thu hút FDI. Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra mô hình nghiên cứu và các
giả thuyết nghiên cứu đề xuất để tiến hành nghiên cứu.
Chương 2: Phân tích thực trạng hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào
tỉnh Bến Tre trong giai đoạn vừa qua. Trong chương này tác giả trình bày về tổng quan tỉnh
Bến Tre, thực trạng hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào tỉnh Bến Tre và kết
quả nghiên cứu.
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư FDI
vào tỉnh Bến Tre trong thời gian tới. Trong chương này tác giả trình bày cơ sở đề
xuất giải pháp, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư
FDI vào tỉnh Bến Tre trong thời gian tới.
TÓM TẮT PHẦN NỘI DUNG
Trong phần này, tác giả trình bày các mục tiêu nghiên cứu của đề tài như: (1) Đánh giá thực
trạng hoạt động đầu tư FDI của tỉnh Bến Tre trong giai đoạn 1987 đến tháng 6/2015; (2) Xác
định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhà đầu tư nước ngoài vào tỉnh Bến Tre; (3) Đề
xuất một số giải pháp để thu hút đầu tư hiệu quả trong thời gian tới. Đồng thời, phần này cũng
trình bày tổng quan tài liệu và kết cấu của đề tài.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
1.1.1
1.1.1.1
Các khái niệm cơ bản
-
Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là một loại hình đầu tư dài hạn.
-
Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài là người trực tiếp quản lý, điều hành sử dụng vốn, chịu
trách nhiệm và hưởng lợi ích từ kết quả sản xuất, kinh doanh căn cứ vào mức độ góp vốn.
1.1.1.2
Đặc điểm của FDI
Đây là hình thức đầu tư mà các nhà đầu tư nước ngoài tự mình ra quyết định đầu tư,
quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi, không có những ràng buộc về
chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nước nhận đầu tư [27].
Nhà đầu tư nước ngoài tham gia điều hành hoặc điều hành toàn bộ hoạt động đầu tư mặc
dù thường có bất đồng về ngôn ngữ, văn hóa với nước nhận đầu tư.
Vốn đầu tư được tính bằng ngoại tệ [27].
Nước nhận đầu tư tiếp nhận được công nghệ kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản
lý hiện đại của nước ngoài thông qua các chương trình đào tạo hoặc qua việc trực tiếp tham gia
quản lý [27].
Nhà đầu tư nước ngoài sau một thời gian đầu tư, họ có thể mở rộng đầu tư bằng nguồn
lợi nhuận thu được của dự án đầu tư [27].
1.1.1.3
Các hình thức của FDI
Hiện nay, có rất nhiều hình thức của FDI tùy vào từng gốc độ tiếp cận. Dưới đây là một
nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác
nguồn lao động dồi dào. Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản có thương
hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng). Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản
trí tuệ của nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài
nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh [28].
♦♦♦ Vốn tìm kiếm hiệu quả
Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận
như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin
liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, điều kiện pháp
lý,.... [28].
♦♦♦ Vốn tìm kiếm thị trường
Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữa thị trường khỏi bị đối thủ
cạnh tranh giành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác
kinh tế giữa các nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp
để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu [28].
1.1.2
1.1.2.1
Các lý thuyết liên quan đến đầu tư
Lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo Hymer (1976), khi đầu tư ra nước ngoài các DN đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu
nhiều chi phí và rủi ro hơn các DN nước sở tại. Để cạnh tranh với các DN này, Doanh nghiệp
FDI phải có những lợi thế để bù đắp được những chi phí phụ trội đó. Lợi thế đó là sức mạnh độc
quyền ở một số mặt như: quy mô, kiến thức, sự khác biệt của sản phẩm, nhãn hiệu sản phẩm,
công nghệ, mạng lưới phân phối và kỹ năng tiếp thị, khả năng tiếp cận với những nguồn vốn rẻ
[18].
nhau tùy theo mục tiêu của DN. Tuy nhiên, một cách tổng quát, công ty hoạt động có hiệu quả
khi nó đạt được tăng trưởng về doanh thu và lợi nhuận. Khi một nhà đầu tư đạt được mục tiêu,
họ sẽ có xu hướng tiếp tục quá trình đầu tư của mình cũng như giới thiệu cho các công ty khác
đầu tư tại địa phương.
1.1.3
Một số hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư
vốn toàn bộ vào Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh
của mình trước pháp luật Việt nam, trong đó có đầu tư theo hình thức đối tác công tư (sau đây
gọi tắt là PPP) là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có
thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ
tầng, cung cấp dịch vụ công, cụ thể:
+ Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BOT) là
hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình
kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư được quyền kinh doanh công trình
trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan
nhà nước có thẩm quyền;
+ Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BTO) là
hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình
kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơ quan nhà nước có
thẩm quyền và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định;
+ Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BT) là hợp đồng được
ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng;
nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được thanh toán
bằng quỹ đất để thực hiện Dự án khác đúng theo quy định;
giữa hai hay nhiều bên để cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hoạt động của các bên nhận đầu
tư trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành
lập một xí nghiệp liên doanh hay bất cứ một pháp nhân mới nào. Các bên phải thực hiện nghĩa
vụ đối với Nhà nước và phải tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và
bản hợp đồng đã ký [6].
1.1.4
Lợi ích mang lại từ các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ mang lại những lợi ích như sau:
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ bổ sung nguồn vốn cho nhu cầu phát triển nền
kinh tế của nước sở tại;
Thứ hai, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là yếu tố góp phần vào tăng trưởng kinh
tế và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa;
Thứ ba, đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ giúp thúc đẩy xuất nhập khẩu và cải thiện cán cân
thanh toán trong ngắn hạn;
Thứ tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy chuyển giao công nghệ và học tập kinh
nghiệm quản lý kinh doanh của nước ngoài;
Thứ năm, đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần phát triển phân công lao động trong nước
và quốc tế, nâng cao hiệu quả kinh tế và mở rộng thị trường cho nước tiếp nhận đầu tư [28].
1.1.5
Cơ sở lý thuyết để xây dựng mô hình nghiên cứu
1.1.5.1
nhận thức của con người mong muốn thỏa mãn cái gì đó như nhu cầu về ăn uống, nghỉ ngơi,
thông tin, ....
Tóm lại, dựa vào phân tích trên ta có thể chia sự thỏa mãn thành ba mức độ khác nhau
như sau:
•
Mức không hài lòng: Khi mức độ cảm nhận được của khách hàng nhỏ hơn kỳ vọng;
• Mức hài lòng: Khi mức độ nhận được của khách hàng bằng với kỳ vọng
•
Mức rất hài lòng và thích thú: Khi mức độ nhận được của khách hàng lớn hơn kỳ vọng
1.1.5.3
Mối quan hệ giữa sự hài lòng của nhà đầu tư nước ngoài và việc thu hút các
doanh nghiệp đầu tư nước ngoài
Thông thường nếu như khách hàng cảm nhận được sự thỏa mãn về một tổ chức thì họ sẽ
có hành vi tốt đối với tổ chức đó. Do đó, việc làm thỏa mãn nhu cầu của họ sẽ giúp cho tổ chức
có thể đạt được mục tiêu kỳ vọng về họ.
Theo các nghiên cứu của Tâm và Hải (2015); Thịnh (2011); Lộc và Tuyết (2013) đã
chứng minh rằng nếu doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cảm thấy hài lòng hơn thì việc thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam sẽ hiệu quả hơn.
Tóm lại, từ những phân tích trên nên nghiên cứu này sẽ xem xét các yếu tố tác động đến
việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua việc phân tích sự hài lòng của các doanh
nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Bến Tre.
1.1.5.4
có tác động lớn đến việc thu hút đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài vào các tỉnh thành tại
Việt Nam. Theo nghiên cứu của Toàn (2010); Thuận và Trịnh (2012) cũng đã chứng minh rằng
các chính sách hỗ trợ của địa phương là yếu tố mang tính quyết định khi các nhà đầu tư ngoài
nước xem xét, lựa chọn địa điểm đầu tư tại Việt Nam. Nghiên cứu của Lộc và Tuyết (2013) cũng
đồng quan điểm với các tác giả trên và chỉ ra rằng công tác quản lý và hỗ trợ của chính quyền
địa phương sẽ có ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Đà Nẵng.
c) Cơ sở hạ tầng
Theo nghiên cứu Xiao Ling Huang et al (2014) đã chứng minh những nhân tố về cơ sở
hạ tầng sẽ ảnh hưởng đến quyết định thu hút đầu tư nước ngoài của các doanh nghiệp. Sự phát
triển về cơ sở vật chất sẽ tác động đến quyết định lựa chọn vị trí đầu tư của các doanh nghiệp
đầu tư nước ngoài vào một nơi (BERKOZ & TURK, 2004).
Bên cạnh đó, các nghiên cứu trong nước của Anh và Tâm (2013); Toàn (2010); Lộc và
Tuyến (2013) đã chứng minh rằng các điều kiện về cơ sở vật chất có tác động rất lớn đến việc
thu hút đầu tư của các doanh nghiệp ngoài nước vào các địa phương ở Việt Nam.
d) Môi trường sống và làm việc
Theo nghiên cứu của Ronan Coy & Kathryn Cormican (2014) đã chứng minh rằng yếu
tố môi trường sống và làm việc có ảnh hưởng việc thu hút đầu tư của các doanh nghiệp nước
ngoài vào quốc gia đó. Nghiên cứu của Ambrose Jagongo & Vincent S. Mutswenje (2014) cũng
đã chứng minh rằng nhóm yếu tố về môi trường kinh doanh cũng ảnh hưởng rất lớn đến quyết
định đầu tư của bản thân các nhà đầu tư nước ngoài. Những yếu tố về môi trường sống văn hóa
xã hội sẽ tác động rất lớn đến quyết định của các doanh nghiệp muốn đầu tư ra nước ngoài (Xiao
Ling Huang et al, 2014).
e) Yếu tố chi phí
Theo nghiên cứu của Xiao Ling Huang et al (2014) đã chứng minh rằng yếu tố về chi phí
hình nghiên cứu như sau:
Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, 2015.
Dựa vào mô hình nghiên cứu đề xuất, các giả thuyết nghiên cứu được tác giả đề
xuất như sau:
HÌ: Yếu tố nguồn nhân lực có ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến sự hài lòng của nhà đầu tư doanh
nghiệp nước ngoài.
H2: Yếu tố về địa phương có ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến sự hài lòng của nhà đầu tư doanh nghiệp
nước ngoài.
H3: Yếu tố cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến sự hài lòng của nhà đầu tư doanh nghiệp
nước ngoài.
H4: Yếu tố môi trường sống và làm việc có ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến sự hài lòng của nhà đầu tư
doanh nghiệp nước ngoài.
H5: Yếu tố chi phí có ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến sự hài lòng của nhà đầu tư doanh nghiệp nước
ngoài.
H : Yếu tố về môi trường tự nhiên có ảnh hưởng tỷ lệ thuận đến sự hài lòng của nhà đầu tư
6
doanh nghiệp nước ngoài.
1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này là phương pháp nghiên cứu
định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng. Cụ thể là:
1.2.1
Nghiên cứu định tính
nghiệp đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bến Tre nhằm mục đích điều chỉnh mô hình và kiểm định
các giả thuyết đã được đề ra trước đó.
1.2.3
Tiến trình nghiên cứu
Hình 1.2: Tiến trình nghiên cứu
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp, 2015.
1.2.4
Điều chỉnh thang đo
Từ phần cơ sở lý thuyết, đề tài xác định chọn thang đo SAT làm thang đo cơ sở để sau đó
khám phá và hiệu chỉnh ra thang đo chính thức để đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu
hút đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài vào tỉnh Bến Tre. Sau quá trình phỏng vấn định tính
thực hiện thảo luận tay đôi, đồng thời dựa trên bảng nghiên cứu của Anh và Tâm (2013); Nghiên
cứu của Lộc và Tuyết (2013) thì thang đo SAT được điều chỉnh và bổ sung lần 1 gồm 27 biến.
(Xem phụ lục 1)
Sử dụng thang đo lần 1 để tiếp tục bổ sung và điều chỉnh lần 2 bằng phương pháp phỏng
vấn thử 07 nhà đầu tư đến từ 05 doanh nghiệp nước ngoài. Sau khi được điều chỉnh lần này đã
cho ra thang đo SAT chính thức với 26 biến. Trong đó có 6 biến thành phần là: (1) thành phần
nguồn nhân lực có 3 biến quan sát, (2) thành phần yếu tố địa phương có 10 biến quan sát, (3)
thành phần cơ sở hạ tầng có 4 biến quan sát, (4) thành phần môi trường sống và làm việc có 3
biến quan sát; (5) thành phần yếu tố chi phí có 3 biến quan sát; (6) thành phần điều kiện tự nhiên
có 3 biến quan sát.
Thang đo SAT chính thức được đo lường bằng thang đo Likert với 5 mức độ (1 - Hoàn
DP7
Các thắc mắc, phản ảnh của doanh nghiệp luôn được giải đáp
thỏa đáng.
DP8
Tại địa phương có nhiều cụm khu công nghiệp tập trung cho
doanh nghiệp hoạt động.
DP9
Các doanh nghiệp cùng ngành, doanh nghiệp cung cấp nguyên
liệu phù hợp tập trung gần nhau.
DP10
Các nhà cung cấp nguyên liệu đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
(3) Cơ sở hạ tầng (4 biến)
CSVC1
Hệ thống giao thông thuận lợi.
CSVC2
Hệ thống cấp điện ổn định.
CSVC3
Hệ thống cấp nước hoạt động tốt.
CSVC4
Hệ thống bưu chính, ngân hàng thuận lợi.
(4) Môi trường sống và làm việc (3 biến)
DKLV1
Người dân địa phương thân thiện.
DKLV2
Điều kiện sống và làm việc luôn được đảm bảo.
DKLV3
Công ty không gặp trở ngại về văn hóa.
(5) Yếu tố chi phí (3 biến)
CP1
5
Likert 1 ^
5
Likert
1^
5Likert 1 ^
5
Likert 1 ^
5
Likert
1^
5Likert 1 ^
5Likert 1 ^
5
Likert 1 ^
5
Likert 1 ^
5
Likert 1 ^
5
Likert 1 ^
5
Likert
1^
5
Likert
1^
5Likert 1 ^
5
Likert 1 ^
Nguồn số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu từ báo cáo của Trung tâm Xúc
tiến Đầu tư tỉnh Bến Tre, Bộ Kế hoạch - Đầu tư Việt Nam, các doanh nghiệp đầu tư nước
ngoài ở tỉnh Bến Tre các năm vừa qua, niêm giám thống kê, sách, báo, tạp chí khoa học
của các Viện/Trường Đại học trong và ngoài nước, các trang mạng,
1.2.5.1
Phương pháp chọn mẫu
Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu hạn ngạch (Quota Sampling) để tiến hành
thu thập số liệu. Lý do tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu hạn ngạch là do thông tin
khai khác từ nhà đầu tư nước ngoài là rất khó khăn và do tổng thể nghiên cứu khá rộng, vì
vậy, việc sử dụng phương pháp chọn mẫu hạn ngạch sẽ giúp tác giả có thể chọn được mẫu
có tính đại diện cao cho tổng thể.
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua tiến trình sau:
Bước 1: Chọn địa điểm điều tra và đối tượng nghiên cứu.
Bước 2: Thực hiện điều tra thử: sau khi đã có phiếu điều tra soạn sẵn, tác giả đã
tiến hành liên lạc đặt lịch hẹn để được phỏng vấn thử đối tượng nghiên cứu.
Bước 3: Thực hiện điều tra chính thức: sau bước hiệu chỉnh phiếu điều tra, tác
giả tiến hành phỏng vấn chính thức các đối tượng nghiên cứu có liên quan theo phương
pháp chọn mẫu hạn ngạch với sự hỗ trợ của Trung tâm Xúc tiến Đầu tư tỉnh Bến Tre trong
việc liên hệ và đặt lịch hẹn phỏng vấn.
1.2.5.2
Phương pháp xác định cỡ mẫu
Cỡ mẫu trong đề tài được xác định dựa vào mô hình nghiên cứu. Đề tài thực hiện
nghiên cứu các yếu tố tác động đến thu hút đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài tại
tỉnh Bến Tre theo các mô hình nghiên cứu sau: mô hình phân tích nhân tố khám phá EFA