ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ
HỘI TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG
(UBND tỉnh Bình Dương)
I. KẾT QUẢ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN THÁNG 8/2012:
Hiện nay, Bình Dương là một trong 5 địa bàn thu hút được nhiều vốn
đầu tư nước ngoài nhất cả nước. Tính đến 31/8/2012, Bình Dương thu hút 2093
dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 17 tỷ 120 triệu USD,
đứng vị trí thứ tư sau thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai.
Trong tổng số dự án đầu tư nước ngoài trên địa bàn Bình Dương lĩnh vực
công nghiệp thu hút số dự án và số vốn đầu tư lớn nhất, cụ thể: chiếm tỷ trọng
92.75% trong tổng số dự án và chiếm 71.60% vốn đầu tư đăng ký; bên cạnh đó,
trong những năm gần đây đã thu hút một số dự án với quy mô vốn lớn đầu tư
vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản, chiếm 15,58% tổng vốn đầu tư, có 01 dự
án với số vốn đầu tư 1 tỷ 200 triệu USD; dịch vụ chiếm 1.08% số dự án và
3.43% tổng vốn đầu tư. Lĩnh vực xây dựng chiếm 4.86% tổng vốn đầu tư với 43
dự án, lĩnh vực nông, lâm nghiệp chỉ chiếm 0.72% số dự án và 1.18% tổng vốn
đầu tư.
Phân theo ngành kinh tế
Nông, lâm nghiệp, thủy sản
Số dự án
Vốn đầu tư Vốn điều lệ
16
175.43
100.23
2,060
17
117.59
40.33
6
171.27
51.15
Kinh doanh bất động sản
18
2,358.00
179.85
Dịch vụ khác
24
510.88
124.91
Công nghiệp
vốn đầu tư cao nên vốn đầu tư trung bình của một dự án là 10.3 triệu USD.
Ngoài ra, Singapore, Malaysia, Hồng Kông cũng là những nhà đầu tư có
số vốn đầu tư khá cao. Quy mô trung bình của mỗi dự án khá lớn là 13 triệu
USD do số dự án thấp nhưng lại có vốn đầu tư cao, chủ yếu là các dự án công
nghiệp gốm sứ, điện, điện tử, may mặc, sản xuất trang thiết bị, phụ tùng xe
hơi…
Bên cạnh các quốc gia Châu Á có số dự án đầu tư lớn vào Bình Dương
còn có các nước Châu Âu và Bắc Mỹ với số dự án cũng như vốn đầu tư ngày
càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam nói
chung và tỉnh Bình Dương nói riêng. Các nước này khi đầu tư vào Bình Dương
159
đã đem đến một nguồn công nghệ hiện đại và phương thức quản lý tiên tiến góp
phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh.
Năm 2011, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp 34.22% GDP;
nộp ngân sách 183.10 triệu USD, khoảng 16% ngân sách tỉnh; xuất khẩu hơn
8,309 triệu USD, chiếm 80.35% tổng giá trị xuất khẩu của tỉnh; tạo công ăn việc
làm cho 462,190 lao động; góp phần nâng cao trình độ công nghệ bằng công
nghệ mới như dây chuyền sản xuất ôtô, hàng điện tử, sản xuất tổng đài kỹ thuật
số, sản xuất cáp quang, sản xuất hoá chất, dược phẩm.v.v. . .
Đến nay, phần lớn các dự án đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình
Dương đều được bố trí vào các khu công nghiệp hoặc cụm quy hoạch phát triển
sản xuất công nghiệp theo đúng quy hoạch. Do đó, tính đến hết năm 2012, vốn
đầu tư nước ngoài chủ yếu hướng vào thị xã Thuận An và huyện Bến Cát chiếm
64.24% tổng số dự án và 66.50% vốn đầu tư . Các dự án ở Thuận An và Bến Cát
chủ yếu là vào lĩnh vực công nghiệp tập trung tại các khu công nghiệp Sóng
Thần I, Sóng Thần II, Đồng An, Việt Nam Singapore I, Bình Đường, Mỹ Phước
I, Mỹ Phước II, Mỹ Phước III, với lợi thế về vị trí địa lý (lân cận các tỉnh thành
khác như thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Vũng Tàu), rất thuận lợi cho các
triển hạ tầng tổ chức, môi trường đầu tư vào các KCN được quảng bá, giới thiệu
cho các nhà đầu tư nước ngoài. Việc xúc tiến đầu tư đã được xây dựng và điều
chỉnh theo hướng tập trung, có trọng điểm ở các thị trường khác nhau như Nhật,
Mỹ, EU, Hàn Quốc, Đài Loan nhằm kêu gọi đầu tư vào các dự án sản xuất trong
các KCN tập trung vào điện, điện tử, cơ khí chính xác và những dự án có hàm
lượng công nghệ cao theo định hướng thu hút đầu tư của tỉnh. Đến tháng 8/2012
các KCN của tỉnh đã cho thuê lại 2.460,53 ha đạt 50,15%, nếu không tính KCN
Thới Hoà đang hoàn chỉnh việc xây dựng cơ sở hạ tầng thì tỷ lệ cho thuê đất đạt
51,56%.
Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của 24 KCN đến nay đạt 8.612
tỷ đồng, đạt 74% tổng số vốn được duyệt.
1. Tình hình thu hút vốn FDI đăng ký:
1.1. Cấp phép đầu tư từ 1995 đến 8/2012:
Tính đến tháng 8/2012, các KCN có 815 dự án FDI được cấp phép đầu
tư với tổng vốn đăng ký khoảng 5,36 tỷ đôla Mỹ (kể cả vốn tăng thêm). Trừ các
dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 776 dự án còn
hiệu lực với tổng vốn đăng ký 5,15 tỷ đôla Mỹ.
1.2. Tình hình tăng vốn đầu tư:
Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiều dự án sau khi hoạt
động có hiệu quả đã mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh, tăng thêm vốn đầu
tư, nhất là từ năm 2001 trở lại đây. Tính đến hết tháng 8/2012 có nhiều lượt dự
án tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 2,79 tỷ đôla Mỹ, bằng 54% tổng
vốn đầu tư đăng ký cấp mới.
1.3. Quy mô dự án:
161
Qua các thời kỳ, quy mô dự án FDI có sự biến động thể hiện khả năng tài
chính cũng như sự quan tâm của các nhà FDI đối với môi trường đầu tư tại Bình
Dương. Quy mô vốn đầu tư bình quân của một dự án FDI tăng dần qua các giai
454
2
Nhuộm, giặt tẩy
12
110
3
Giày dép, phụ liệu giày
28
132
4
Thuộc da
8
95
5
SX MMTB, dụng cụ, phụ tùng
Xi mạ
7
16
162
10
Thiết bị điện
27
159
11
Thiết bị điện tử
24
119
12
Hoá chất, sơn, mực in, keo, Hoá
mỹ phẩm
Dược phẩm, thuốc thú y
6
30
17
Chế biến nông thuỷ sản, Thực
phẩm, đồ uống, thức ăn gia súc
42
719
18
Vật liệu XD
18
62
19
Bao bì (nhựa, giấy, gỗ, kim loại),
in bao bì
54
Phân theo đối tác đầu tư:
Thực hiện phương châm của Đảng và Chính phủ “đa phương hóa, đa
dạng hóa quan hệ hợp tác.. Việt Nam muốn làm bạn với các nước trong khu vực
và thế giới...” được cụ thể hóa qua hệ thống pháp luật đầu tư, từ khi hình thành
đến nay đã có 22 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại các KCN Bình Dương.
Trong đó, các nước Châu Á chiếm 74%, trong đó khối ASEAN chiếm 11% tổng
vốn đăng ký. Các nước châu Âu chiếm 10%. Các nước Châu Mỹ chiếm 4%, chủ
yếu là Hoa Kỳ. Còn lại 12% thuộc các Vùng lãnh thổ (Samoa, Virgin …)
2. Tình hình triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh các dự án FDI:
2.1. Vốn giải ngân FDI từ 1995 đến tháng 8/2012:
Trong số 776 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 5,15 tỷ đôla
Mỹ, đã có 750 dự án triển khai góp vốn thực hiện đạt hơn 3,1 tỷ đôla Mỹ (bao
gồm cả vốn thực hiện của các dự án hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời
hạn), chiếm 61% tổng vốn đầu tư đăng ký. Các dự án FDI đã bổ sung nguồn
vốn quan trọng cho đầu tư phát triển kinh tế-xã hội đất nước qua từng thời kỳ
theo mục tiêu kế hoạch đề ra.
Vốn thực hiện có xu hướng tăng qua các năm nhưng với tốc độ chậm
trong khi vốn đăng ký và số lượng dự án cấp mới biến động tăng mạnh.
2.2. Triển khai hoạt động sản xuất-kinh doanh của dự án FDI:
Trong thời gian qua, khu vực kinh tế có vốn FDI đã góp phần đáng kể
trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của Bình Dương bằng việc tạo ra tổng
giá trị doanh thu đáng kể, trong đó có giá trị xuất khẩu, cũng như đóng góp tích
cực vào ngân sách và tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động.
Đồng thời, tiếp tục khẳng định vai trò trong sự nghiệp phát triển kinh tế, đóng
góp ngày càng lớn vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước và thực sự
trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế.
Nếu trong giai đoạn 1995-2000 tổng giá trị doanh thu mới đạt 201 triệu
đôla Mỹ thì trong thời kỳ 2001-2005 tổng giá trị doanh thu đã đạt 4,3 tỷ đôla
thực hiện nộp ngân sách đạt 623,96 triệu đôla Mỹ.
Đồng thời, khu vực kinh tế có vốn FDI cũng tạo việc làm và thu nhập ổn
định cho một bộ phận dân cư, tính từ 1995 đến tháng 8/2012 các KCN Bình
Dương đã giải quyết 174.426 lao động trực tiếp, chưa kể số lao động gián tiếp
khác làm việc trong khu vực dịch vụ. Số lao động làm việc trong các doanh
nghiệp FDI cũng tăng lên qua từng giai đoạn, từ 4.398 người (18 DN FDI) vào
năm 1995 đã tăng lên 174.426 người vào tháng 8/2012, tăng 38,66 lần so với
năm 1995. Khu vực kinh tế có vốn FDI đã giải quyết lao động của tỉnh mà còn
giải quyết cho lao động của các địa phương khác đến Bình Dương định cư.
3. Thu hồi giấy chứng nhận đầu tư (giấy phép đầu tư), giải thể trước
thời hạn:
Tính đến hết tháng 8/2012, không có dự án FDI kết thúc đúng thời hạn.
Đồng thời, đã có 32 dự án FDI bị giải thể trước thời hạn với số vốn đăng ký giải
thể 210 triệu đôla Mỹ
Ngoài các khu công nghiệp và các cụm công nghiệp đã được thành lập,
được sự cho phép của Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh đã triển khai khu công nghiệp
Liên hợp Công nghiệp - Dịch vụ - Đô thị Bình Dương với quy mô diện tích là
4.196 ha, nhằm mục đích tạo thuận lợi cho kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội,
thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt là phát triển công
165
nghiệp, dịch vụ đô thị, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần người dân.
III . TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ:
1. Mặt tích cực:
Khu vực kinh tế có vốn FDI ngày càng khẳng định vai trò quan trọng
trong nền kinh tế Việt Nam, là khu vực có tốc độ phát triển năng động nhất.
1.1. Về mặt kinh tế:
- FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu
trọng của đất nước như viễn thông, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô,
xe máy... Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực FDI cao hơn hoặc bằng
các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương các nước trong khu vực.
Hầu hết các doanh nghiệp có vốn FDI áp dụng phương thức quản lý tiên tiến,
được kết nối và chịu ảnh hưởng của hệ thống quản lý hiện đại của công ty mẹ.
- Tác động lan tỏa của FDI đến các thành phần kinh tế khác trong nền
kinh tế. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp FDI được nâng cao qua số lượng
các doanh nghiệp tăng vốn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất. Đồng thời, có tác
động lan tỏa đến các thành phần khác của nền kinh tế thông qua sự liên kết giữa
doanh nghiệp có vốn FDI với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng
lực kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp có vốn FDI. Sự lan tỏa này có
thể theo hàng dọc giữa các doanh nghiệp trong ngành dọc hoặc theo hàng ngang
giữa các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành. Mặt khác, các doanh nghiệp FDI
cũng tạo động lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng
trong bối cảnh toàn cầu hóa.
- FDI đóng góp đáng kể vào thu ngân sách địa phương. Cùng với sự phát
triển các doanh nghiệp có vốn FDI tại Bình Dương, mức đóng góp của khu vực
kinh tế có vốn FDI vào ngân sách ngày càng tăng. FDI tác động tích cực đến các
cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai,
cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng
nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máy móc
và nguyên, vật liệu...
- FDI góp phần giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế
quốc tế. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI tăng nhanh, cao hơn
mức bình quân chung của các loại hình đầu tư trong nước, đóng góp quan trọng
vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu của cả tỉnh. Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
chuyển từ nông sản và bán thành phẩm sang các sản phẩm công nghiệp và tinh
chế. Nhờ có sự chuyển giao công nghệ và kỹ năng marketing từ các công ty
nước ngoài, nhiều sản phẩm của Việt Nam đã xuất hiện trên thị trường thế giới.
Kim ngạch xuất khẩu khu vực FDI chiếm một tỷ trọng cao trong xuất khẩu một
phục vụ trong khu vực dịch vụ và xây dựng, góp phần nâng cao phúc lợi xã hội,
cải thiện đời sống một bộ phận trong cộng đồng dân cư, đưa mức GDP đầu
người tăng lên hàng năm. Thông qua sự tham gia trực tiếp vào hoạt động của các
doanh nghiệp có vốn FDI, Bình Dương đã từng bước hình thành đội ngũ cán bộ
quản lý, công nhân kỹ thuật có trình độ cao, có tay nghề, từng bước tiếp cận
được với khoa học, kỹ thuật, công nghệ cao và có tác phong công nghiệp hiên
đại, có kỷ luật lao động tốt, học hỏi được các phương thức, kinh nghiệm quản lý
tiên tiến. Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần nâng cao ngân sách,
tăng thu nhập cho người dân, cung cấp cho người tiêu dùng của Việt Nam nhiều
sản phẩm chất lượng cao, góp phần thay đổi phong cách sống theo xu thế công
nghiệp hóa.
- Hoạt động của các doanh nghiệp có vốn FDI cũng đã thúc đẩy các
doanh nghiệp trong nước không ngừng đổi mới công nghệ, phương thức quản lý
để nâng cao hơn chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ trên thị
trường trong nước và quốc tế. Đặc biệt, một số chuyên gia Việt Nam làm việc tại
các doanh nghiệp có vốn FDI đã dần thay thế các chuyên gia nước ngoài trong
168
đảm nhiệm các vị trí quản lý doanh nghiệp cũng như điều khiển các quy trình
công nghệ hiện đại.
- FDI góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế
với khu vực và thế giới. FDI đã góp phần quan trọng trong việc mở rộng quan hệ
kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hóa và đa dạng hóa, thúc đẩy Việt Nam
chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đẩy nhanh tiến trình tự do hoá
thương mại và đầu tư. Đến nay, Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN,
APEC, ASEM và WTO.
1.3. Về mặt môi trường:
Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp FDI tại tỉnh Bình Dương, đa
số các doanh nghiệp có vốn FDI tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam
vốn đầu tư đã được khẳng định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X là: "Tăng
cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn vốn đầu
tư phát triển toàn xã hội trong 5 năm (2006 - 2010). Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và
hình thức thu hút đầu tư, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng và các tập
đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất
lượng, hiệu quả nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài".
Mục tiêu và định hướng thu hút FDI giai đoạn tới trong các KCN được
xác định như sau thu hút hàng năm khoảng 400-500 triệu đôla Mỹ/năm. Đến
năm 2015 lắp đầy trên 60% đất các KCN.
Các ngành đặc biệt khuyến khích đầu tư gồm công nghệ thông tin, điện
tử, vi điện tử, công nghệ sinh học…; chú trọng công nghệ nguồn từ các nước
công nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản; hết sức coi trọng thu hút
FDI gắn với nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ. Công nghiệp phụ
trợ: khuyến khích thu hút vào ngành công nghiệp phụ trợ nhằm giảm chi phí đầu
vào về nguyên-phụ liệu của các ngành công nghiệp, góp phần nâng cao năng lực
cạnh tranh của sản phẩm sản xuất trong nước. Để thúc đẩy phát triển ngành công
nghiệp phụ trợ, cần tạo điều kiện để các dự án sản xuất lắp ráp các sản phẩm
công nghiệp nhanh chóng mở rộng quy mô và thị trường tiêu thụ. Ngành dịch vụ
sẽ được chú trọng phát triển. Tăng cường thu hút các doanh nghiệp dịch vụ như
logistic, kho bãi, kho lạnh, và các dịch vụ khác theo các cam kết quốc tế, tạo
động lực thúc đẩy các ngành kinh tế.
V. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Để tiếp tục thu hút và quản lý nguồn vốn đầu tư nước ngoài theo định hướng
tập trung vào các khu công nghiệp trong thời gian tới, cần tổ chức triển khai thực hiện
các giải pháp sau:
1. Về chính sách thu hút đầu tư
- Kiến nghị Chính phủ rà soát pháp luật, chính sách về đầu tư, kinh doanh
để sửa đổi các nội dung không đồng bộ, thiếu nhất quán, bổ sung các nội dung còn
thiếu; sửa đổi các quy định còn bất cập, chưa rõ ràng liên quan đến thủ tục đầu tư và
kinh doanh.
- Rà soát tình hình cung cấp điện cho các doanh nghiệp, nhất là các dự án
có nhu cầu sử dụng điện lớn, đánh giá khả năng và đề xuất giải pháp bảo đảm cấp
điện ổn định cho sản xuất kinh doanh, bao gồm cả biện pháp huy động các nguồn
vốn cho phát triển đế các doanh nghiệp, các khu công nghiệp chủ động về nguồn
điện;
- Kiến nghị hoàn thiện các quy định về xây dựng nhà ở người có thu
nhập thấp, công nhân trong các doanh nghiệp.
171
4. Về nguồn nhân lực
- Có giải pháp thu hút đầu tư trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, tạo điều
kiện thuận lợi để thu hút đầu tư đào tạo lao động ở các trình độ;
- Nghiên cứu điều chỉnh chuyển dịch cơ cấu lao động theo tốc độ chuyển
dịch cơ cấu kinh tế; nâng cao trình độ lao động, đặc biệt là đối với người nông
dân bị thu hồi đất sản xuất để xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp;
- Tăng cường việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ
trong doanh nghiệp, trong đó tập trung vào các giải pháp hạn chế đình công xảy
ra không đúng trình tự pháp luật quy định;
- Tăng cường giáo dục và tuyên truyền pháp luật lao động, đưa pháp luật
lao động vào cuộc sống thông qua việc tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra
và phổ biến, tuyên truyền pháp luật lao động cho người lao động và người sử
dụng lao động;
- Cung ứng lao động đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực của doanh
nghiệp và các nhà đầu tư, đặc biệt lưu ý tới việc đào tạo các ngành nghề hiện
đang thiếu hụt lao động và đào tạo tại các khu vực tập trung các khu công
nghiệp, các dự án lớn có nhu cầu cao về số lượng lao động, chuyển đổi nghề cho
nông dân khi bị thu hồi đất làm dự án đầu tư;
- Tập trung giải quyết cơ bản tình trạng đình công xảy ra không theo
trình tự pháp luật quy định trên địa bàn tỉnh.
quyết theo quy định pháp luật;
- Tiếp tục nâng cao hiệu quả việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và
tình trạng nhũng nhiễu đối với nhà đầu tư. Đề cao tinh thần trách nhiệm cá nhân
trong xử lý công việc, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở Ban Quản lý;
- Thường xuyên tiếp xúc doanh nghiệp để xử lý kịp thời các khó khăn,
vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách và phát luật hiện hành, đảm bảo
các dự án hoạt động hiệu quả, nhằm tiếp tục củng cố lòng tin của các nhà đầu tư
đối với môi trường đầu tư kinh doanh tại tỉnh Bình Dương, tạo hiệu ứng lan tỏa
và tác động tích cực tới nhà đầu tư mới thông qua các nhà đầu tư cũ;
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra theo chức năng và nhiệm vụ
của Sở Kế hoạch và Đầu tư và các Ban quản lý các khu công nghiệp;
- Thực hiện tốt việc phân cấp quản lý nhà nước đối với FDI, đặc biệt trong việc
phê duyệt, cấp Giấy chứng nhận đầu tư, quản lý tốt các dự án FDI, gắn với việc
tăng cường hợp tác, hỗ trợ, phối hợp hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát việc
thi hành pháp luật về đầu tư.
173