Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất - Bài tập học kỳ
- Luật hôn nhân và gia đình
A. LỜI MỞ ĐẦU:
Vợ - chồng: mối quan hệ nhân thân khăng khít là đối tượng điều chỉnh của nhiều
ngành luật, đặc biệt là luật hôn nhân và gia đình. Luật hôn nhân cũng có những điều
luật quy định về các mối quan hệ liên quan đến tài sản, các giao dịch dân sự,… giữa
vợ và chồng. Trong phạm vi bài viết hôm nay, Em xin đề cập đến vấn đề “quyền
bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất.”. Nghe thì thật đơn giản vì
như thế sẽ tạo điều kiện cho vợ chồng quyền định đoạt tài sản chung thay vì lập di
chúc riêng của từng các nhân. Tuy nhiên, thực tế lại không như vậy, vấn đề quyền
bình đẳng của vợ chồng là một vấn đề khá phức tạp. Các thiếu sót, bất cập của luật,
đã dẫn tới hậu quả là, làm cho vấn đề này càng trở nên rắc rối thêm, thậm chí còn
tạo ra nhiều mâu thuẫn so với các qui định khác có liên quan. Sau đây em xin đưa ra
một vài ý kiến cho vấn đề nêu trên. Liệu rằng hiện nay vợ chồng có thực sự bình
đẳng? Người vợ thực sự có quyền đối với tài sản chung của vợ chồng hay không?
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin đi vào phân tích quyền bình đẳng của vợ
chồng đối với tài sản chung hợp nhất.
B. NỘI DUNG:
I. Khái Quát:
1, Cơ sở pháp lý, căn cứ vào nguồn góc tài sản.
Điều 219 Bộ luật dân sự quy định: Sở hữu chung của vợ chồng: Sở hữu chung
của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.
Theo quy định tại khoản 1 điều 27 luật HN&GĐ 2000: Tài sản chung của vợ chồng
là một thuật ngữ để chỉ định những tài sản thuộc ít nhất một trong sáu nguồn như
sau:
a)- tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân: tài sản chung của vợ chồng
có thể do công sức của cả hai vợ chồng tạo ra hoặc chỉ do vợ (chồng) tạo ra trong
có thỏa thuận coi là tài sản chung thì đó sẽ là tài sản chung và phải có sự xác định
bằng công chứng đối với những tài sản có đăng ký quyền sở hữu. Quy định này
hoàn toàn hợp lý và có cơ sở bởi vì trong cuộc sống gia đình, nhiều tài sản riêng của
vợ chồng được đưa vào sử dụng chung, phục vụ nhu cầu sinh hoạt chung của tất cả
các thành viên trong gia đình. Quy định này mang tính mềm dẻo, linh hoạt, nhằm
bảo đảm quyền tự định đoạt của vợ chồng quyết định về phạm vi tài sản thuộc sở
hữu chung hợp nhất.
e)- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ
chồng. Điều 24,25 Nghị định 70/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật
HN&GĐ năm 2000 quy định: quyền sử dụng đất do nhà nước cấp, giao, cho thuê
sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng dù chỉ ghi tên một người trên giấy
chứng nhận QSD đất. Ngoài ra điều 26 Nghị định 70/2001 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành luật HN&GĐ năm 2000 quy định: QSĐ đất do chuyển đổi, chuyển
nhượng, thừa kế để gọi là “tài sản chung của vợ chồng” thì giấy chứng nhận QSD
đất phải ghi tên của cả vợ và chồng.
Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng
chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận. Căn cứ pháp luật là thoả thuận có
công chứng.
Mặt khác, khoản 1 Điều 32 đã quy định cụ thể về tài sản riêng của vợ chồng. Để
bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên, trong trường hợp tài sản do vợ, chồng có
được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu,
nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu
không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng; nếu có tranh chấp là tài
sản riêng thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh
được tài sản này do được thừa kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân
hoặc tài sản này có được từ nguồn tài sản riêng quy định tại khoản 1 Điều 32. Trong
trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng
thì theo quy định tại khoản 3 Điều 27 tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng.
sau đó, luật HN&GĐ năm 1986 tiếp tục thừa nhận nguyên tắc tài sản của vợ hoặc
của chồng là tài sản chung và được sử dụng vì mục đích chung của gia đình, quy
định cụ thể hơn quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc định đoạt khối tài sản
chung. Và đến khi Luật HN&GĐ năm 2000 ra đời, quyền bình đẳng của vợ chồng
đối với tài sản chung được quy định cụ thể, rõ ràng tại khoản 1 Điều 28: Chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung: “Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang
nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”.
Như vậy, quyền chiếm hữu là yếu tố đầu tiên của quyền sở hữu, là quyền năng của
chủ sở hữu tự mình nắm giữ, quản lý tài sản của mình, là quyền kiểm soát, làm
chủ, chi phối tài sản đó theo ý chí của mình. Vợ chồng có quyền ngang nhau trong
việc chiếm giữ tài sản chung. Nhưng điều đó có nghĩa cả hai bên phải là người trực
tiếp nắm giữ, tài sản mà cho dù chỉ một bên nắm giữ tài sản (do người kia đi công
tác xa hoặc do một trong hai người cất giữ) thì cả hai bên đều có quyền định đoạt,
sử dụng đối với khối tài sản chung đó. Quyền sử dụng là “quyền của chủ sở hữu
khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”, quyền định đoạt là “quyền
của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác hoặc từ
bỏ quyền sở hữu đó”. Với tư cách là đồng sở hữu tài sản chung, vợ, chồng bình
đẳng khi thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung. Vợ chồng cùng bàn bạc,
thỏa thuận sử dụng tài sản chung nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình, sao
cho việc sử dụng, định đoạt tài sản chung đem lại lợi ích nhiều nhất cho cuộc sống
chung của vợ chồng; bảo đảm nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục các con, cũng như
quyền lợi của các thành viên khác trong gia đình.
Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung khi thực hiện quyền sở hữu
(quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt) không bị phụ thuộc bởi công
sức đóng góp của vợ chồng. Trong điều kiện thực tế của từng cặp vợ chồng, kể từ
khi kết hôn và trong suốt thời kỳ hôn nhân, do điều kiện về sức khỏe, nghề nghiệp
chuyên môn… đã dẫn tới thu nhập thực tế của mỗi bên vợ, chồng nhiều, ít, cao,
thấp khác nhau, và như vậy xét về “công sức đóng góp” nhằm tạo ra tài sản chung
liên quan đến tài sản chung vợ chồng có giá trị lớn là điều cần thiết để bảm đảm
nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ hôn nhân. Trong trường hợp
người chồng không đạt được thỏa thuận với vợ thì giao dich dân sự bị coi là vô
hiệu, không có giá trị pháp lý. Quy định của điều luật một lần nữa khẳng định được
vai trò, vị trí ngườ phụ nữ trong gia đình và xã hội, được tự do lên tiếng và được
bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Đối với những giao dịch thông thường, liên quan đến những tài sản không lớn nhằm
đáp ứng những nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình, thì hành vi xử sự của vợ,
chồng khi định đoạt tài sản chung đó luôn được coi là có sự thỏa thuận đương nhiên
của vợ và chồng (dù chỉ có một trong hai bên định đoạt. Ví dụ, vợ, chồng dùng tiền
bạc, tài sản chung đảm bảo các nhu cầu về ăn, ở, học hành, chữa bệnh,.. thì giao
dịch này luôn được coi là đã có sự thỏa thuận đương nhiên của vợ, chồng. Người
chồng (hoặc vợ) không được “nại” rằng giao dịch đó không có giá trị vì chưa được
sự đồng ý của mình.
1.3. Quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc thực nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Tài sản chung của vợ chồng được “chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực
hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng”(Khoản 2 Điều 28). Đó là nghĩa vụ phát sinh
khi một bên hoặc cả hai bên vợ chồng thực hiện hành vi vì lợi ích của gia đình hoặc
nghĩa vụ phát sinh theo thỏa thuận của vợ chồng. Trên cơ sở chế độ tài sản chung
vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình, quyền bình đẳng trong thực hiện nghĩa vụ
chung được xác định:
- Nếu căn cứ vào sự thỏa thuận của vợ chồng và nghĩa vụ liên đới trong việc làm
phát sinh các nghĩa vụ tài sản thì có những nghĩa vụ chung sau: Nghĩa vụ phát sinh
có liên quan đến những công việc do hai vợ chồng cùng tiến hành, bao gồm cả các
khoản nợ phát sinh trước khi kết hôn; những khoản nợ phát sinh do một bên thực
hiện công việc không vì lợi ích gia đình, nhưng được bên kia đồng ý dùng tài sản
chung để thực hiện; những khoản nợ phát sinh do một bên thực hiện nhằm đáp ứng
nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình.
(Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình 2000).
Chia tài sản chung vợ chồng trong thời kì hôn nhân là việc chuyển dịch một phần
hay toàn bộ tài sản trong khối tài sản chung sang tài sản riêng của vợ, chồng trong
thời gian tồn tại quan hệ hôn nhân. Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân
khi có lý do chính đáng được pháp luật thừa nhận và nó có thể thực hiện thông qua
thỏa thuận bằng văn bản của vợ, chồng hoặc quyết định của Tòa án (Khoản 1). Quy
định này thể hiên rõ quyền bình đẳng của vợ chồng đối với quyền định đoạt tài sản
chung, tạo điều kiện thuận lợi trong việc chia tài sản chung để mỗi bên vợ, chồng
tham gia các giao dịch dân sự hợp pháp. Tuy nhiên, “việc chia tài sản chung của vợ
chồng nhằm trốn tránh việc thực hiên nghĩa vụ dân sự sẽ không được pháp luật
công nhận”(Khoản 2) và quy định này không phải là gián tiếp quy định chế định ly
thân. Luật hôn nhân gia đình 2000 không có chế định ly thân.
2.2. Quyền bình đẳng của vợ, chồng trong việc chia tài sản chung khi chấm dứt hôn
nhân
2.2.1 Việc chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ hoặc chồng chết gắn liền với
quyền thừa kế theo quy định của pháp luật.
Vợ, chồng còn “có quyền thừa kế tài sản của nhau” và “Khi vợ hoặc chồng chết
hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ
chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc
những người thừa kế thoả thuận cử người khác quản lý di sản”(Điều 31 Luật hôn
nhân và gia đình 2000). Do tài sản chung của vợ chồng là tài sản chung hợp nhất,
phần sở hữu của mỗi người không được xác định rạch ròi, nên khi một bên chết
hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì người còn sống hoàn toàn có quyền quản lý
khối tài sản chung, trong đó có di sản của người để lại thừa kế và cả tài sản chính
của chính người quản lý di sản là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu cuộc sống và
truyền thống đạo đức, phong tục tập quán của nước ta, khẳng định quyền bình đẳng
giữa vợ chồng, cả vợ hoặc chồng không phân biệt ai đều có quyền quản lý tài sản
chung và thừa kế tài sản riêng khi chồng hoặc vợ của họ đã chết.
dụng, giá trị của tài sản, gây tổn hại lợi ích chính đáng trong sản xuất và nghề
nghiệp của mỗi bên. Phải đảm bảo ổn định nghề nghiệp chuyên môn của vợ, chồng
để họ tiếp tục lao động tạo ra thu nhập, ổn định cuộc sống.
- “Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào
nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải
thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch” (điểm d). Quy định này cũng là để
đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ, chồng, tạo sự ổn định cuộc sống , ổn định
nghề nghiệp, phù hợp với chuyên môn; bảo đảm công dụng, phát huy vai trò của tài
sản trong sản xuất kinh doanh của vợ chồng. Nếu bên nhận tài sản bằng hiện vật lại
có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá
trị chênh lệch từ tài sản đã nhận.
Việc chia tài sản chung, việc thanh toán nghĩa vụ chung liên quan tới tài sản chung
của vợ chồng khi ly hôn đều do vợ chồng thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì
yêu cầu Tòa án giải quyết. Quy định này nhằm tạo ra sự công bằng giữa vợ với
chồng, tránh tình trạng thoái thác, trốn tránh nghĩa vụ chung khi ly hôn, bảo vệ
quyền lợi của người thứ ba mà vợ, chồng còn nghĩa vụ trong thời gian hôn nhân.
C. KẾT LUẬN
Trong quá trình thực hiện và áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đề cập
đến vấn đề quyền bình đẳng tài sản chung của vợ chồng còn nhiều vấn đề bất cập,
những quy định của luật hôn nhân về vấn đề này vẫn mang tính định khung chưa
cụ thể..có thể nhằm trốn tránh tránh nhiệm, và nghĩa vụ của mỗi cá nhân.chính vì
vậy việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình là một yêu cầu
trước mắt đặt ra cho nhà làm luật.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình, 2009, Đại học Luật Hà Nội. NXB Công an
Nhân dân.
2. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000.