Những điểm mới về Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 so với
Hiến pháp năm 1992
Trong hoàn cảnh chiến tranh, Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước, đứng
đầu Chính phủ và kiêm chức vụ Thủ tướng. Đến năm 1955, chức
vụ Thủ tướng được chuyển giao cho Phó Thủ tướng lúc đó là Phạm
Văn Đồng đảm nhiệm và Hồ Chí Minh là Chủ tịch đầu tiên của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Quốc hội khóa II bầu lại và làm
Chủ tịch đến khi Người mất ngày 2 tháng 9 năm 1969. Từ đó đến
nay, vai trò lãnh đạo chính trị nói chung và của Chủ tịch nước nói
riêng có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng đến thể chế, con người
và toàn bộ đất nước. Tuy nhiên, lãnh đạo nói chung và đặc biệt vị
trí đứng đầu nói riêng có xu hướng cá nhân hóa nếu địa vị của họ
không được thiết lập một cách chặt chẽ và vững chắc trong Hiến
pháp và pháp luật. Vì vậy, vai trò, chức năng và thẩm quyền của
Chủ tịch nước cần phải được hiến định trong Hiến pháp.
Ở nước ta, việc hoàn thiện phương thức tổ chức và thực hiện
quyền lực của Chủ tịch nước là một nội dung rất quan trọng trong
quá trình hoàn thiện thể chế chính trị pháp lý Hiến pháp. Mặt khác
chủ trương của Đảng thể hiện trong các Văn kiện Đại hội X, XI đặt
ra những thay đổi chế định trong quá trình thiết kế và vận hành
chính thể nói chung và chế định Chủ tịch nước nói riêng. Do đó,
nghiên cứu chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp hiện nay có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng.
Trải qua các thời kỳ lịch sử với 5 bản Hiến pháp, Hiến pháp năm
2013 tiếp tục kế thừa những chế định cơ bản, quan trọng của Hiến
pháp năm 1992 nhưng có những đổi mới, bổ sung mang tính phù
hợp để thể hiện Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước Việt
Nam, thống lĩnh các lực lượng vũ trang của Việt Nam và là nguyên
thủ quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì thế,
vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại
kỳ họp gần nhất;
2. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch
nước, Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội,
bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ
trưởng và thành viên khác của Chính phủ;
3. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Toà án
nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn
cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách
chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa
án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối
cao; quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, công
bố quyết định đại xá;
4. Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải
thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho
nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch
Việt Nam;
5. Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội
đồng quốc phòng và an ninh; quyết định phong, thăng, giáng, tước
quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân;
bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ
nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; căn cứ vào
nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; căn cứ
vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động
viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp;
trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được,
Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Chính phủ họp bàn về vấn đề mà
Chủ tịch nước xét thấy cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của Chủ tịch nước.
Điều 91:
Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của mình.
Điều 92:
Phó Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.
Phó Chủ tịch nước giúp Chủ tịch nước thực hiện nhiệm vụ và có thể
được Chủ tịch nước uỷ nhiệm thay Chủ tịch nước thực hiện một số
nhiệm vụ.
Điều 93:
Khi Chủ tịch nước không làm việc được trong thời gian dài thì Phó
Chủ tịch nước giữ quyền Chủ tịch nước.
II. Những điểm mới về Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 so
với Hiến pháp năm 2013 .
1. Những điểm mới về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước.
a/ Về bố cục:
Nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm
2013 được quy định tại Điều 88 còn theo Hiến pháp năm 1992 thì
được quy định tại Điều 103. Dễ dàng nhận thấy, so với Điều 103
Hiến pháp năm 1992 thì Điều 88 Hiến pháp năm 2013 có sự thay
đổi đáng kể về mặt bố cục. Nếu như Hiến pháp năm 1992 chia
tách từng nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Chủ tịch nước tại 12
khoản của Điều 103 thì Hiến pháp năm 2013 gom những nhiệm vụ
và quyền hạn đó thành những nhóm, theo từng lĩnh vực, quy định
tại 6 khoản của Điều 86. Đó là: Khoản 1 quy định về nhiệm vụ và
quyền hạn của Chủ tịch nước trong lĩnh vự lập pháp; Khoản 2 quy
nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán chính là việc trao hoặc
tước quyền nhân danh nhà nước của Thẩm phán. Qua đó góp phần
tăng tính độc lập trong hành động xét xử của Thẩm phán, để Thẩm
phán thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền công
dân, quyền con người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
* Về vấn đề quốc tịch, Khoản 4 – Điều 88, Hiến pháp năm 2013 có
điểm mới là Chủ tịch nước có thẩm quyền cho “trở lại quốc tịch”
Việt Nam đối với người đã mất quốc tịch Việt Nam, khi có đơn xin
trở lại quốc tịch Việt Nam thì có thể trở lại quốc tịch Việt Nam nếu
thuộc một trong số những trường hợp sau:
+ Xin hồi hương về Việt Nam;
+ Có vợ, chồng, con, cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam;
+ Có công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam;
+ Có lợi cho Nhà nước Việt Nam;
Ngoài ra, người xin trở lại quốc tịch Việt Nam không được trở lại
quốc tịch Việt Nam nếu làm phương hại đến lợi ích quốc gia Việt
Nam.
Về thẩm quyền mới này của Chủ tịch nước đã cho thấy Việt Nam
mở rộng cửa cho phép người mất quốc tịch Việt Nam trở lại quốc
tịch Việt Nam mà không hề ngăn cấm, cấm đoán.
* Theo Hiến pháp năm 1992, Chủ tịch nước quyết định phong hàm,
cấp sĩ quan cấp cao trong các lực lượng vũ trang nhân dân; hàm,
cấp ngoại giao và những hàm cấp Nhà nước khác (Khoản 9 – Điều
103). Để làm rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm này của Chủ tịch
nước trong việc thống lĩnh lực lượng vũ trang thì Khoản 5 – Điều 88
các nguyên thủ quốc gia khác trên thế giới không trực tiếp tiến
hành đàm phán điều ước quốc tế mà thưởng ủy quyền cho cá
nhân, cơ quan có thẩm quyền về lĩnh vực đó đàm phán như vậy
vừa bất gánh nặng công việc cho Chủ tịch nước, vừa để các cơ
quan, cá nhân đó đàm phán, kí kết đúng lĩnh vực sẽ hiệu quả hơn.
Vì vậy, Hiến pháp năm 2013 đã quyết định rõ quyền quyết định
việc đàm phán, kí kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước của
Chủ tịch nước, Chủ tịch nước chịu trách nhiệm trước Quốc hội và
nhân dân về đàm phán, kí kết các điều ước quốc tế nhân danh Nhà
nước. Ví dụ: Khi Việt Nam muốn đàm phán và kí kết với Nhật Bản
để xây dựng cầu Nhật Tân thì không nhất thiết Chủ tịch nước trực
tiếp đàm phán mà Chủ tịch nước có thể ủy quyền cho Bộ trưởng
Bộ Xây dựng đi đàm phán thì việc đàm phán sẽ hiệu quả hơn vì Bộ
trưởng Bộ Xây dựng am hiểu sâu hơn về lĩnh vực này.
2. Những điểm mới về Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch
nước làm Chủ tịch.
Khoản 2 – Điều 89, Hiến pháp năm 2013 quy định thẩm quyền của
Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước làm Chủ tịch
được trình Quốc hội quyết định tình trạng chiến tranh, trường hợp
Quốc hội không thể họp được thì Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết
định; thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn đặc biệt do Quốc hội
giao trong trường hợp có chiến tranh; quyết định việc lực lượng vũ
trang nhân dân tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở
khu vực và trên thế giới.
Những quy định mới này là để làm rõ và cụ thể hơn thẩm quyền
của thiết chế quan trọng này so với Hiến pháp năm 1992 chỉ quy
định trong trường hợp chiến tranh, Quốc hội có thể giao cho Hội
đồng quốc phòng và an ninh những nhiệm vụ và quyền hạn đặc
III. Những điểm hạn chế về Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm
2013 và Hiến pháp năm 1992.
Thứ nhất, điều kiện để trở thành Chủ tịch nước không khác so với
điều kiện để trở thành Đại biểu Quốc hội bởi Hiến pháp năm 2013
và Hiến pháp năm 1992 đều quy định Chủ tịch nước do Quốc hội
bầu trong số các đại biểu Quốc hội, đồng thời không có quy định
về quốc tịch, xuất thân, độ tuổi, trình độ,…để trở thành ứng viên
làm Chủ tịch nước. Điều này có thể coi là hạn chế vì Chủ tịch nước
là người đứng đầu một quốc gia, đại diện cho toàn bộ nhân dân, có
vị thế rất lớn trong bộ máy nhà nước. Vì thế, điều kiện trở thành
Chủ tịch nước cần phải co những quy định riêng, được các nhà làm
luật xem xét sửa đổi. Có như vậy, nhân dân mới thực sự tin tưởng
giao trách nhiệm cho Chủ tịch nước.
Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 và Hiến pháp năm 1992 đều quy
định nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước trong công tác
khen thưởng (tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải
thưởng, danh hiệu vinh dự nhà nước) mà không quy định trách
nhiệm của Chủ tịch nước trong công tác thi đua. Điều này cũng
cần được các nhà làm luật xem xét vì Chủ tịch nước phải gương
mẫu trong công tác thi đua như: thi đua yêu nước, thi đua học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh,… thì nhân dân, cơ
quan trương ương đến địa phương mới học tập và noi theo. Từ đó
mới đẩy mạnh việc thi đua mới thực sự có hiệu quả tối đa.
KẾT LUẬN
Trên đây là một số nhận định của em về điểm mới của Chủ tịch
nước theo Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992 cũng
như một số điểm hạn chế. Những chế định về Chủ tịch nước trong
bản Hiến pháp năm 2013 đã tiến một bước phát triển dài trên con