CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA
DOANH NGHIỆP
1.1. Doanh nghiệp và các hoạt động của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh
doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Doanh nghiệp là một cách
thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân. Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có
thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp.
Ở Việt Nam, theo Luật Doanh nghiệp 2010, điều 4 khoản 1 định nghĩa: “Doanh
nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được
đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt
động kinh doanh” - tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá
trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường
nhằm mục đích sinh lợi.
Các hình thức phân loại doanh nghiệp:
- Theo bản chất kinh tế của chủ sở hữu, bộ môn Kinh tế vi mô chia các tổ chức
doanh nghiệp ra làm 3 loại hình chính dựa trên hình thức và giới hạn trách
nhiệm của chủ sở hữu:
+ Doanh nghiệp tư nhân (Proprietorship)
+ Doanh nghiệp hợp danh (Partnership)
+ Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn (Corporation).
Thông thường doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng số các
doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn lại chiếm tỷ trọng lớn nhất về
doanh thu, đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn như sản xuất hàng hóa, tài
chính,…
- Phân loại theo hình thức pháp lý của doanh nghiệp, theo Luật Doanh nghiệp
2010, các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm:
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai
thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp mà
các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản
công ty hợp danh. Điều này có nghĩa là nếu tài sản của doanh nghiệp tư nhân và công
ty hợp danh không đủ để thực hện các nghĩa vụ về tài chính của doanh nghiệp khi các
doanh nghiệp này phải áp dụng thủ tục thanh lý trong thủ tục phá sản, chủ sở hữu
doanh nghiệp và các thành viên hợp danh phải sử dụng cả tài sản riêng không đầu tư
vào doanh nghiệp để thanh toán cho các khoản nợ của doanh nghiệp.
+ Theo pháp luật Việt Nam, các doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn
cụ thể gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh và
doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài không tiến hành đăng ký lại theo Nghị định
101/2006/NĐ-CP. Những doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn là những
doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ và nghĩa
vụ tài chính của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Điều đó
có nghĩa là khi số tài sản của doanh nghiệp không đủ để trả nợ thì chủ sở hữu không có
nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp. Chế độ trách nhiệm hữu hạn của các loại
doanh nghiệp trên thực chất là chế độ trách nhiệm hữu hạn của các nhà đầu tư - thành
viên/chủ sở hữu công ty.
2
Thang Long University Library
1.1.2. Hoạt động cơ bản của doanh nghiệp
Các hoạt động cơ bản của doanh nghiệp bao gồm:
- Hoạt động vốn:
+ Vay vốn ngân hàng, phát hành trái phiếu
+ Phát hành cổ phiếu, mua lại cổ phần
+ Chi trả nợ, cổ tức.
- Hoạt động đầu tư:
+ Đầu tư TSCĐ (đất đai, nhà xưởng, thiết bị, máy móc, bằng phát minh, sáng chế)
+ Góp vốn, liên doanh
+ Đầu tư tài chính (mua cổ phiếu, trái phiếu)
xuất – kinh doanh có hiệu quả và chất lượng cao.
Doanh nghiệp thường phải đáp ứng được đòi hỏi của các đối tác về mức vốn
chủ sở hữu trong cơ cấu vốn. Sự tăng, giảm của vốn chủ sở hữu có tác động đáng kể
đến hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong các điều kiện kinh tế khác nhau. Muốn
phát triển bền vững, các doanh nghiệp phải làm chủ và dự đoán trước được sự thay đổi
của môi trường để sẵn sàng thích nghi với nó. Trong môi trường đó, quan hệ tài chính
của doanh nghiệp được thể hiện rất phong phú và đa dạng.
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp
với các chủ thể trong nền kinh tế.
Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu bao gồm:
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước:
Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với
Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính:
Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài
trợ. Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thế vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu
vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn.
Ngược lại, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay,trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ.
Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào các ngân hàng, đầu tư chứng khoán
bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác:
Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp
khác trên thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động. Đây là những thị
trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm
kiếm lao động… Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác
định được nhu cầu hàng hoá và dịch vụ cần thiết cung ứng. Trên cơ sở đó, doanh
nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thoản mãn nhu
cầu thị trường.
- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp:
Đây là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất – kinh doanh, giữa cổ đông và người
trả sẽ tác động đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp như thế nào. Khi hoạt động
tài chính của doanh nghiệp tốt thì tình hình chiếm dụng vốn của nhau thấp, khả năng
thanh toán dồi dào. Khi hoạt động tài chính kém dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn
của nhau nhiều, các khoản phải thu, nợ phải trả sẽ dây dưa kéo dài. Khi đó cần xác
định số vốn chiếm dụng và bị chiếm dụng là bao nhiêu để thấy được khả năng thanh
toán thực sự của doanh nghiệp. Trong đó:
- Số vốn chiếm dụng là các khoản phải trả - là một khoản mục kế toán thể hiện
nghĩa vụ của doanh nghiệp phải trả toàn bộ số nợ của mình cho các chủ nợ. Đây là các
khoản nợ được phát sinh trong suốt quá trình hoạt động sản cuất kinh doanh mà doanh
nghiệp phải trả, phải thanh toán cho các chủ nợ trong thời hạn nhất định và đây được
coi là nguồn vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng từ bên ngoài.Các khoản phải trả bao
gồm các khoản phải trả cho người bán, phải trả cho các đối tượng khác quá thời hạn
chưa trả.
- Số vốn bị chiếm dụng là các khoản phải thu - là bộ phận tài sản của doanh
nghiệp đang bị các đơn vị hoặc cá nhân khác (có thể là khách hàng hoặc nhà cung cấp)
chiếm dụng mà doanh nghiệp có trách nhiệm thu hồi. Cụ thể hơn, các khoản phải thu
là một loại tài sản của doanh nghiệp dựa trên tất cả các khoản nợ, các giao dịch chưa
5
thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà con nợ hay khách hàng chưa thanh toán
cho doanh nghiệp. Các khoản phải thu được ghi nhận như là tài sản của doanh nghiệp
vì chúng phản ánh các khoản tiền sẽ được thanh toán trong tương lai. Các khoản phải
thu được kế toán ghi lại và phản ánh trên bảng cân đối kế toán, bao gồm tất cả các
khoản phải thu của người mua, các khoản nợ mà doanh nghiệp chưa đòi được, tính cả
các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán.
1.2.2. Sự cần thiết của việc nâng cao khả năng thanh toán trong doanh nghiệp
Năng lực thanh toán có thể nói là 1 thước đo để đánh giá sự sống còn của một
doanh nghiệp, một doanh nghiệp có khả năng thanh toán bằng tiền mặt tốt luôn là một
doanh nghiệp có khả năng phát triển tốt. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là một
tư, thông qua việc phân tích năng lực thanh toán có thể rút ra được những nhận xét về
mức độ làm ăn có hiệu quả của doanh nghiệp để đưa ra quyết định có nên đầu tư tiếp
vào doanh nghiệp hay không. Đối với chủ nợ, khả năng thanh toán lại là cơ sở để họ
đánh giá về tình hình tài chính cũng như năng lực kinh doanh của doanh nghiệp ở hiện
tại và tương lai. Một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả thì tình hình tài chính
phải lành mạnh, cơ cấu nguồn vốn phải hợp lý, từ đó chủ nợ sẽ quyết định có cho
doanh nghiệp vay vốn thêm hay không.
Nâng cao năng lực thanh toán của công ty chính là nghiên cứu cơ cấu giữa các
loại tài sản hợp lý sao cho vừa đảm bảo khả năng chi trả, vừa nâng cao hiệu quả tài
chính của doanh nghiệp.Nâng cao khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ giúp
doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán cho các khoản công nợ, đồng thời
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí. Vì khi khả năng thanh toán của
doanh nghiệp quá cao có thể dẫn tới tiền mặt, hàng dự trữ quá nhiều, khi đó hiệu quả
sử dụng vốn thấp. Ngược lại khả năng thanh toán quá thấp có thể dẫn tới mất khả năng
chi trả, doanh nghiệp có thể đứng bên bờ vực của sự phá sản.
Hoạt động tài chính mà cụ thể ở đây là tình hình và khả năng thanh toán của
doanh nghiệp có mối liên hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh của một
doanh nghiệp, có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành, tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Do đó, tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến
khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Ngược lại, khả năng thanh toán của doanh
nghiệp cao hay thấp đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất
kinh doanh. Vì thế, cần phải thường xuyên, kịp thời đánh giá, kiểm tra, nâng cao tình
hình tài chính của doanh nghiệp, khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp
1.2.3.1. Phân tích khái quát khả năng thanh toán
Để đánh giá khái quát khả năng thanh toán của doanh nghiệp ta thường xem xét
mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và nhu cầu thanh toán. Khả năng thanh toán và
nhu cầu thanh toán là tổng hợp các chỉ tiêu tài chính phản ánh tại một thời điểm phân
lớn phản ánh khả năng chi trả đối với nợ ngắn hạn càng cao khi đến hạn trả, nhưng khi
nó đạt giá trị quá cao cũng thể hiện hiệu quả sử dụng vốn thấp. “Khả năng đáp ứng
nghĩa vụ thanh toán, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và nắm bắt thời cơ thuận lợi
của nhiều doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào vốn lưu động ròng”. Do vậy sự tăng
trưởng của vốn lưu động ròng cũng thể hiện sự phát triển của khá nhiều doanh nghiệp.
Vốn lưu động ròng ≥ 0: Có nghĩa là tài sản lưu động của doanh nghiệp có được
tài trợ một cách vững chắc từ nguồn vốn cơ bản, doanh nghiệp có khả năng thanh toán
các khoản nợ đến hạn.
Vốn lưu động ròng < 0: Có nghĩa là tài sản lưu động không đủ để chi trả cho
các khoản nợ ngắn hạn trong thời gian ngắn.
- Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn (Khả năng thanh toán hiện hành)
Khả năng thanh toán ngắn hạn (Current Ratio) thể hiện mối quan hệ tương đối
giữa tài sản ngăn hạn và nợ ngắn hạn, cho viết khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của
doanh nghiệp như tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho… Hệ số này càng cao,
khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn. Khả năng thanh toán ngắn hạn
được tính như sau:
Tổng tài sản ngắn hạn
Khả năng thanh toán ngắn hạn =
Tổng nợ ngắn hạn
8
Thang Long University Library
Trong đó: Tổng tài sản ngắn hạn bao gồm tiền, các khoản phải thu, hàng tồn
kho và tài sản lưu động khác. Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải trả trong năm bao
gồm vay ngắn hạn, vay dài hạn đến hạn trả, khoản nợ tiền hàng do xuất phát từ quan
hệ mua bán các yếu tố đầu vào hoặc sản phẩm hàng hóa doanh nghiệp phải trả cho
để thanh toán cho 1 đồng nợ ngắn hạn.
Khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp cao hay thấp, tình hình tài chính
của doanh nghiệp được đánh giá tốt hay xấu tùy thuộc vào quy mô lượng tiền và các
khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và nợ ngắn hạn.
Hệ số này phản ánh chính xác hơn tỷ số thanh toán hiện hành, một doanh
nghiệp có hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1 sẽ gặp khó khăn trong công tác hoàn trả
9
các khoản nợ ngắn hạn. Ngoài ra nếu hệ số này nhỏ hơn hẳn so với tỷ số thanh toán
hiện hành có nghĩa là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp phụ thuộc quá nhiều vào hàng
tồn kho.
- Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Hệ số khả năng thanh toán tức thời hay còn gọi là khả năng thanh toán bằng
tiền mặt thể hiện mức độ đáp ứng của tiền và các khoản tương đương tiền để thanh
toán nợ đến hạn.
Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền
Khả năng thanh toán tức thời =
Tổng giá trị nợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán tức thời cho biết cứ mỗi đồng nợ ngắn hạn mà doanh
nghiệp đang giữ thì doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tiền và các khoản tương đương
tiền có thể sử dụng để thanh toán. Hệ số này thương giao động từ 0,5 đến 1. Thông
thường nếu lớn hơn 0,5 thì tình hình thanh toán của doanh nghiệp khá tốt và ngược lại,
nếu nhỏ hơn 0,5 thì công ty đang gặp khó khăn trong công tác thanh toán nợ.
1.2.3.3. Các chỉ tiêu đo lường khả năng thanh toán trong dài hạn
- Hệ số khả năng thanh toán lãi vay là cơ sở để đánh giá khả năng đảm bảo của
công ty đối với nợ vay dài hạn. Hệ số khả năng thanh toán lãi vay được tính bằng tỉ số
giữa lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) trên lãi vay:
Hệ số nợ =
Tổng tài sản
Hệ số nợ phản ánh một đồng tài sản được đầu tư thì có bao nhiêu đồng vốn được
tài trợ từ bên ngoài. Qua đó có thể biết được khả năng tự chủ tài chính của doanh
nghiệp. Một doanh nghiệp có hệ số nợ thấp tức là có khả năng tự chủ về tài chính cao,
ít phụ thuộc vào các chủ nợ bên ngoài. Tuy nhiên việc sử dụng nợ vay bên ngoài có tác
dụng như một lá chắn thuế do chi phí lãi vay cũng được tính vào chi phí thuế thu nhập
doanh nghiệp khiến cho thuế phải nộp giảm. Song, hệ số nợ cao cũng có nghĩa là
doanh nghiệp không có thực lực tài chính mà chủ yếu đi vay để có vốn kinh doanh.
Điều này cũng hàm ý mức độ rủi ro của doanh nghiệp cao hơn.
- Hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu
Hệ số này phản ánh khả năng trả nợ bằng vốn chủ sở hữu. Cứ 1 đồng nợ vay hiện đang
được đảm bảo bời bao nhiêu đồng vốn chủ sở hữu.
Tổng nợ phải trả
Hệ số nợ/VCSH =
Tổng giá trị VCSH
Hệ số nợ/VCSH < 1 nghĩa là số nợ nhỏ hơn số vốn chủ sở hữu bỏ ra, chứng tỏ
doanh nghiệp luôn đảm bảo khả năng thanh toán bằng chính vốn chủ sở hữu.
Hệ số nợ/VCSH > 1 nghĩa là số nợ lớn hơn số vốn chủ sở hữu bỏ ra. Nếu doanh
nghiệp đi vay quá nhiều, chi phí lãi vay tăng cao, vốn chủ sở hữu không đủ để thanh
toán cho nợ, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với rủi ro tài chính và nghiêm trong hơn là
phá sản.
1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng tới khả năng thanh toán của doanh nghiệp
1.3.1. Nhóm nhân tố chủ quan
1.3.1.1. Nhân tố trực tiếp
Các nhân tố trực tiếp xuất phát từ chính các yếu tố trong các chỉ tiêu đánh giá khả năng
thanh toán như:
sát sao vì nó gây áp lực lên hoạt động thanh toán của doanh nghiệp bởi vì doanh
nghiệp rất khó trì hoãn các khoản nợ này vì nó có thể làm mất uy tín của doanh nghiệp.
Trường hợp có thể trì hoãn được thì chi phí cho việc trì hoãn này cũng rất cao. Lúc đó
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sẽ bị giảm. Vì vậy thông thường doanh nghiệp
cố gắng duy trì mức nợ ngắn hạn bằng 50% tổng tài sản lưu động.
-
Quản lý hàng tồn kho
Từ chỉ số đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp ta có thể nhận thấy vị
trí quan trọng của hàng tồn kho. Hàng tồn kho là một bộ phận quan trọng, chiếm tỷ
trọng lớn trong tài sản của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trong lĩnh vực
sản xuất kinh doanh. Do đó hoạt động quản lý hàng tồn kho là vô cùng cần thiết. Để
đảm bảo khả năng thanh toán lành mạnh, doanh nghiệp cần kiểm soát đầu tiên là mức
tồn kho định kỳ. Doanh nghiệp xác định được lượng hàng tồn kho ở mức hiệu quả
giảm thiểu chi phí hoạt động, đồng thời giảm thời gian sản xuất làm tăng nhanh số
vòng quay hàng tồn kho, rút ngắn độ dài chu kỳ vận động vốn. Một doanh nghiệp nếu
có lượng hàng tồn kho quá lớn, hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ được vừa phát
sinh các khoản chi phí, vừa ứ đọng vốn ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của doanh
nghiệp khi mà đây là tài sản có tính thanh khoản kém nhất dùng để chi trả cho các
khoản nợ ngắn hạn.
1.3.1.1. Nhân tố gián tiếp
-
Quy mô của doanh nghiệp
Quy mô của doanh nghiệp được xác định theo tiêu chí của quy mô tổng nguồn
vốn (Tổng tài sản) hoặc số lao động bình quân/năm. (Tuy nhiên tổng tài sản là tiêu chí
được ưu tiên). Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô của doanh nghiệp tỉ lệ thuận với
12
để đánh giá doanh nghiệp, ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi
được tạo ra từ lượng vốn hay lượng tài sản đầu tư. Đây là một chỉ số thể hiện tương
quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài sản của nó. ROA sẽ cho ta biết hiệu
quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời. ROA càng cao thì càng tốt vì
công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng tài sản đầu tư và do đó khả năng trả
nợ cũng tốt hơn.
-
Năng lực quản lý tài chính của các chủ doanh nghiệp
Một doanh nghiệp dù có phát triển đến đâu, nếu không có khả năng quản lý tài
chính tốt thì có thể làm thất thoát vốn, lượng dự trữ tiền mặt không phù hợp có thể làm
ảnh hưởng đến chất lượng kinh doanh của mình và việc giảm khả năng thanh toán của
doanh nghiệp mình là không thể tránh khỏi.
-
Khả năng quản lý tài sản
Nếu doanh nghiệp có khả năng quản lý tài sản tốt, có các chính sách quản lý
tiền mặt, dự trữ hàng tồn kho cũng như mua sắm, khấu hao tài sản cố định hợp lý thì
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sẽ được nâng cao. Doanh nghiệp ít bị tăng các
khoản nợ. Ngược lại khi chưa là một doanh nghiệp lớn, việc lựa chọn mua một số
13
lượng hàng hoá lớn phục vụ kế hoạch phát triển dài hạn hay dữ trự cho một thời gian
dài là không thích hợp, có thể làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp từ đó có nguy cơ
giảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
-
chuyển vốn càng nhanh thì hiệu của sử dụng vốn càng tốt. Đảm bảo khả năng thanh
toán của doanh nghiệp.
Độ dài chu kỳ vận động vốn = Thời gian lƣu kho bình quân + Kỳ thu tiền
bình quân – Kỳ trả tiền bình quân
Để tìm hiểu chi tiết độ dài chu kỳ bận động của vốn tác động tới khả năng thanh
toán ngắn hạn, ta cần xem xét các chỉ tiêu sau:
14
Thang Long University Library
Thời gian lƣu kho bình quân:
Hệ số lưu kho cho biết doanh nghiệp lưu hàng tồn kho, gồm nguyên vật liệu và
hàng hóa trong bao lâu. Để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cần
phải dự trữ một lượng hàng hóa cần thiết. Tuy nhiên, dự trữ quá nhiều hàng tồn kho
đồng nghĩa với việc vốn sử dụng kém hiệu quả (dòng tiền sẽ giảm đi do vốn kém hoạt
động). Điều này còn làm tăng chi phí lưu trữ hàng tồn kho và tăng rủi ro khó tiêu thụ
hàng tồn kho do không hợp nhu cầu tiêu dùng cũng như thị trường kém đi. Bởi vậy,
doanh nghiệp cần phải xem xét xác định thời gian lưu kho cùng mức lưu kho hợp lý
theo chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và mức độ bình quân chung của
ngành để đảm bảo việc cung cấp hàng hóa bình thường mà không làm ảnh hưởng tới
khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
365
Thời gian lƣu kho bình quân =
Hệ số lƣu kho =
Hệ số lƣu kho
Giá vốn hàng bán
phải thu càng nhanh. Điều này được đánh giá là tốt vì khả năng hoán chuyển thành
tiền nhanh, do vậy đáp ứng nhu cầu thanh toán nợ. Tuy nhiên nếu hệ số này quá cao có
thể không tốt vì có thể doanh nghiệp thắt chặt tín dụng bán hàng, do vậy ảnh hưởng
đến doanh thu của doanh nghiệp. Vì vậy, khi đánh giá khả năng chuyển đổi các khoản
15
phải thu thành tiền cần xem xét đến chính sách tín dụng bán hàng của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu thời gian trả nợ trung bình:
Bất cứ lúc nào có thể, doanh nghiệp nên thanh toán các hóa đơn đến hạn. Bởi vì
việc thanh toán chậm trễ hóa đơn sẽ dẫn tới nhiều bất lợi vì nó làm tăng số lãi phải trả
dẫn đến số nợ ngày một lớn hơn theo thời gian. Doanh nghiệp có thể tận dụng tối đa
thẻ tín dụng vì nhiều ngân hàng cho phép không phải thanh toán lãi suất trong một kỳ
hạn nhất định. Từ đó doanh nghiệp có thể tận dụng được nguồn vốn này mà không
phải mất quá nhiều chi phí. Mức độ thanh toán của doanh nghiệp được thể hiện qua chỉ
tiêu thời gian trả nợ trung bình.
Thời gian trả nợ trung bình
(Kỳ trả tiền bình quân)
Vòng quay các khoản phải trả (Hệ
số trả nợ)
365
=
Vòng quay các khoản phải trả
Giá vốn hàng bán + Chi phí quản lý
chung, bán hàng, quản lý
Thang Long University Library
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay luôn có sự biến động và tồn tại nhiều rủi
ro trong kinh doanh, trong khi đó điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt. Một số
doanh nghiệp không có khả năng thích ứng kịp thời có thể gặp khó khăn trong kinh
doanh dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán. Để đảm bảo thành công của hoạt
động doanh nghiệp trước biến động về kinh tế, các doanh nghiệp phải theo dõi, phân
tích, dự báo biến động của từng yếu tố để đưa ra các giải pháp, các chính sách tương
ứng trong từng thời điểm cụ thể nhằm tận dụng, khai thác những cơ hội, né tránh, giảm
thiểu nguy cơ và đe dọa tới tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
Việt Nam ngày càng hội nhập đem lại cơ hội lớn và thách thức không nhỏ.
Trong điều kiện canh tranh quốc tế, doanh nghiệp cần phải chú ý đặc biệt đến các biến
động ngoại thương, biến động về tỉ giá…
-
Rủi ro về đạo đức kinh doanh
Rủi ro về đạo đức kinh doanh mà doanh nghiệp có thể gặp phải bao gồm: Phía
người mua trả chậm hoặc cố ý không hoàn trả mốn nợ làm cho khoản phải thu của
doanh nghiệp tăng lên. Hoặc có thể doanh nghiệp không dự đoán đúng thị trường, mức
giá cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường nhưng lại quyết định kinh doanh một
lượng hàng hóa lớn dẫn tới không bán được hàng hoặc bán lỗ, từ đó không thể thanh
toán hết các khoản nợ phải trả.
-
Sự phát triển của thị trƣờng tài chính
Đối với doanh nghiệp, thị trường tài chính không chỉ là nơi để huy động vốn mà
- Lĩnh vực kinh doanh: Sản phẩm cơ khí
- Ngành nghề kinh doanh: Sản xuất và sửa chữa các sản phẩm bằng kim loại phục
vụ quốc phòng, kinh tế và xuất nhập khẩu
- Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Văn Tháo giám đốc Công ty.
- Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 có tư cách pháp nhân và có tài khoản riêng tại
ngân hàng thương mại cổ phần quân đội chi nhánh Điện Biên Phủ - Hà Nội
Tiền thân của Công ty Cơ khí Z179 là trạm sửa chữa trong chiến tranh, một bộ
phận của phòng công nghệ thuộc Tổng Cục (nay gọi là Tổng cục Công Nghiệp Quốc
Phòng – Bộ Quốc Phòng) có tên là Q179.
Được chính thức thành lập vào ngày 15 tháng 3 năm 1971 khi cục quản lý
quyết định tách xưởng mẫu khỏi phòng công nghệ và chính thức thành lập nhà máy
A179. Nhà máy gặp không ít khó khăn nhất là khi mới thành lập. Thời gian đó
nước ta đang có chiến tranh nhiệm vụ đặt ra cho nhà máy là rất lớn đồng thời việc
tập hợp và huy động đội ngũ cán bộ, kỹ sư công nhân lành nghề và việc huy động
các trang thiết bị để chế thử một số mặt hàng mới, phục hồi phụ tùng mới để thay
thế cho các xe cơ giới bị hỏng.
Đến ngày 10/9/1974 nhiệm vụ mới ra đời Tổng cục Kỹ thuật ra đời A179 đổi
tên thành Z179 trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật.
Lúc đầu Công ty sản xuất quản lý và hạch toán theo cơ chế bao cấp và nhiệm
vụ của Công ty giai đoạn này chỉ là sản xuất các mặt hàng phục vụ quốc phòng. Nhà
18
Thang Long University Library
nước giao chỉ tiêu Công ty chỉ cần hoàn thành theo đúng chỉ tiêu đó. Còn về thị trường
đầu ra và việc tiêu thụ là nhiệm vụ của cấp trên. Vật tư đầu vào cũng do nhà nước
phân phối xuống Công ty.
Từ những năm 1989 trở đi thực hiện nghị quyết 05 và nghị quyết 27 của Bộ
chính trị về xây dựng nền công nghệ quốc phòng trong tình hình mới phù hợp với công
Ban chính trị: 3 người
Ban kiểm tra chất lượng sản phẩm: 7 người
19
- 04 phân xưởng
Phân xưởng cơ khí: 35 người
Phân xưởng dụng cụ cơ điện: 36 người
Phân xưởng gia công cấu kiện: 46 người
Phân xưởng gia công nóng: 44 người
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179
Giám đốc
P KH –
KD
(ĐV
B1)
Ban
Tài
chính
(ĐV
B4)
PX cơ
khí
(PX
A1)
trị
(ĐV B5)
(ĐV B2)
PX
dụng cụ
cơ điện
PX gia
công
cấu
kiện
(PX
A3)
(PX
PX gia
công
nóng
(PX
A4)
( Nguồn: Phòng tổ chức hành chính)
20
Thang Long University Library
hướng kinh doanh, chiến lược sản phẩm.
PGĐ chính trị hành chính có nhiệm vụ giúp GĐ tổ chức vị trí công tác, phân
quyền hạn các cán bộ, sắp xếp cán bộ và trực tiếp điều hành phòng tổ chức hành chính
và đồng thời chịu trách nhiệm chăm lo đời sống tinh thần, văn hoá tư tưởng cho công
nhân viên trong Công ty.
- Phòng Tổ chức hành chính (Bao gồm các lĩnh vực tổ chức, bảo vệ, hành
chính)
Có nhiệm vụ giúp giám đốc và các phó giám đốc lãnh đạo trong khâu tổ chức
21
nhân sự, sắp xếp, tổ chức phân công lao động theo đúng nghề nghiệp, tính ra tiền
lương và các khoản trợ cấp theo lương, thanh toán các khoản với người lao động…
Ngoài ra phòng này còn có nhiệm vụ làm công tác văn thư bảo mật, bảo vệ xây
dựng doanh trại.
-
Phòng Kế hoạch kinh doanh
Quản lý công tác kế hoạch sản xuất, chuẩn bị các yếu tố sản xuất: các yếu tố
đầu vào về nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, điều hành sản xuất ra các sản phẩm, bán
hàng căn cứ theo các hợp đồng mà PGĐ đã ký.
- Phòng Kỹ thuật cơ điện
Có nhiệm vụ giải quyết toàn bộ thiết kế kỹ thật sản xuất trong Công ty, sửa
chữa, theo dõi quản lý các thiết bị máy móc và chịu trách nhiệm để máy móc trong
Công ty hoạt động tốt.
-
Ban Tài chính
Tham mưu cho giám đốc về mặt hạch toán kinh tế, điều hoà phân phối tổ chức
22
Thang Long University Library
-
Phân xưởng dụng cụ cơ điện (PX A3)
Nhiệm vụ sản xuất cơ khí, gia công cấu kiện hàng cơ cấu hộp số…
- Phân xưởng gia công nóng (PX A4)
Tạo phôi, đúc phôi, rèn NVL, xử lý bề mặt, phun bi phun cát, sơn.
Nhận xét: Công ty TNHH MTV Cơ khí Z179 đã thiết kế được một bộ máy
quản lí nhỏ gọn, tinh giản phù hợp với đặc điểm kinh doanh và quy mô của mình
với phòng ban chuyên trách các công việc khác nhau trong quá trình kinh doanh.
Bộ máy quản lí của Công ty tương đối hoàn chỉnh có Đảng uỷ, Ban Giám đốc, công
đoàn và các phòng ban chức năng rất năng động điều đó giúp cho Công ty luôn
hoàn thành kế hoạch.
2.1.2.3. Các hoạt động chủ yếu
Công ty Z179 là một công ty cơ khí chuyên kinh doanh các sản phẩm cơ khí.
Các ngành nghề kinh doanh của Công ty bao gồm:
Kinh doanh các sản phẩm cơ khí bao gồm mặt hàng côn xoắn, các loại hộp số,
các loại trục, các loại phụ tùng ô tô, máy xúc, phụ tùng đóng tàu, phụ tùng nông
nghiệp, các hàng khác…
Doanh nghiệp chủ yếu sản xuất các sản phẩm theo đơn đặt hàng cũng như yêu
cầu của khách hàng. Khi có đơn đặt hàng thì Công ty tiến hành sản xuất từ khâu đầu
đến khi thành sản phẩm hoàn chỉnh, ngoài việc chế tạo sản phẩm thì Công ty cũng sản
xuất cả các dụng cụ để chế tạo sản phẩm trừ một số máy móc chuyên dùng phải nhập
từ Liên Xô, Đức ...
dịch vụ
4. Giá vốn hàng bán
5. Lợi nhuận gộp về bán
hàng và cung cấp dịch vụ
6. Doanh thu từ hoạt động
tài chính
7. Chi phí tài chính
- Trong đó chi phí lãi vay
8. Chi phí bán hàng
9. Chi phí quản lý doanh
(2)
(3)
(4) = (2) – (1)
Tƣơng
đối (%)
(5) =
(4)/(1)
Chênh lệch 2014 - 2013
Tuyệt đối
(6) = (3) – (2)
Tƣơng
đối (%)
(7) =
(6)/(2)
29,62
1.404.216.522
14,74
103.520.930
211.196.403
197.877.495
107.675.473
104,01
(13.318.908)
(6,31)
39.710.846
15.210.845
1.393.337.131
5.752.087.676
25.187.514
4.349.602
1.831.851.455
6.933.513.411
21.930.782
24
Thang Long University Library
(68,75)
nghiệp
10. Lợi nhuận thuần từ
hoạt động kinh doanh
11. Thu nhập khác
12. Chi phí khác
13. Lợi nhuận khác
14. Tổng lợi nhuận trước
thuế
15. Chi phí thuế thu nhập
doanh nghiệp
16. Lợi nhuận sau thuế
265.646.170
944.162.798
1.184.116.944
678.516.628
255,42
174,82
(42,01)
897.628.855
1.140.082.269
1.297.725.818
242.453.414
27,01
157.643.549
13,83
224.407.214
272.551.818
274.296.758
48.144.604
21,45
1.744.940
0,64