CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1. Đặc điểm hoạt động ngành xây lắp ảnh hƣởng đến kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.1.1. Đặc điểm của hoạt động ngành xây lắp
Kinh doanh xây lắp là một trong những ngành sản xuất mang tính công nghiệp
tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế. Kể từ sau ngày đất
nước đổi mới, mở rộng giao lưu kinh tế Quốc tế thì ngành XDCB cũng phát huy tốt
vai trò của mình góp phần hoàn thiện cơ cấu kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng đẩy
nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Do đặc thù của ngành xây dựng, sản phẩm xây lắp có những đặc điểm riêng biệt
khác với ngành sản xuất khác đó là những công trình, hạng mục công trình được kết
cấu bởi những vật tư, thiết bị xây lắp dưới tác động của lao động xây lắp và gắn liền
với những địa điểm nhất định như mặt đất, mặt nước, không gian. Vì có những đặc
điểm như vậy nên có ảnh hưởng đến tổ chức kế toán trong các doanh nghiệp xây lắp.
- Sản phẩm xây lắp có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian xây dựng lâu dài,
chất lượng của sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động của các ngành
khác. Sản phẩm xây lắp với tư cách là công trình xây lắp đã hoàn thành mang tính chất
là T nên nó có thời gian sử dụng rất lâu dài và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, sử
dụng nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu cho tới khi thanh lý. Do đó, kỳ
tính giá thành ở các đơn vị xây lắp thường được xác định theo kỳ sản xuất.
- Sản phẩm xây lắp có tính chất đơn chiếc, riêng lẻ. Mỗi sản phẩm đều có thiết kế
riêng theo yêu cầu của nhiệm vụ thiết kế. Mỗi công trình có yêu cầu riêng về công
nghệ, về quy phạm, về tiện nghi, về mỹ quan, về an toàn. Do đó khối lượng, chất
lượng và sản phẩm xây lắp của mỗi công trình đều khác nhau, mặc dù về hình thức có
thể giống nhau khi xây lắp trên những địa điểm khác nhau. Việc tập hợp CPSX và tính
giá thành sản phẩm riêng biệt (theo từng công trình, từng hạng mục công trình).
- Sản phẩm xây lắp có tính chất cố định, nơi sản xuất gắn liền với nơi tiêu thụ sản
các công trình, hạng mục công trình, khối lượng hoặc công việc cho các đơn vị trong
nội bộ doanh nghiệp (xí nghiệp, đội…). Trong giá khoán gọn không chỉ có tiền lương
mà còn các chi phí khác về vật liệu, công cụ dụng cụ thi công, chi phí chung của bộ
phận nhận khoán.
Những đặc điểm trên đây của ngành xây dựng cơ bản có ảnh hưởng lớn tới công
tác kế toán làm cho chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp có những đặc
điểm riêng. Để phát huy đầy đủ vai trò là công cụ quản lý kinh tế, kế toán trong các
doanh nghiệp xây lắp phải được tổ chức phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh,
quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm trong xây dựng cơ bản và thực hiện nghiêm túc
các chế độ của kế toán do Nhà nước ban hành.
1.1.2. Nhiệm vụ của kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm trong
doanh nghiệp xây lắp
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp có những
nhiệm vụ sau:
- Phản ánh kịp thời, đầy đủ toàn bộ các khoản chi phí phát sinh.
2
- Xác định đúng đối tượng tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm xây lắp phù
hợp với đặc điểm quy trình công nghệ và đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp.
- Tổ chức tập hợp và phân bổ từng loại CPSX theo đúng đối tượng sao cho phù
hợp với đặc điểm của doanh nghiệp. Kiểm tra tình hình thực hiện định mức vật tư, chi
phí nhân công, chi phí sử dụng máy thi công và các chi phí dự toán khác. Phát hiện kịp
thời các khoản chênh lệch so với định mức, các chi phí ngoài kế hoạch, các khoản thiệt
hại, mất mát, hư hỏng… trong sản xuất để đề xuất các biện pháp ngăn chặn kịp thời.
- Tính giá thành kịp thời, chính xác theo đối tượng tính giá thành và phương pháp
tính giá thành hợp lý. Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giá thành của doanh nghiệp
theo từng công trình, hạng mục công trình vạch ra khả năng và các biện pháp hạ giá
thành một cách hợp lý và có hiệu quả.
- Xác định chính xác chi phí của sản phẩm dở dang cuối kỳ.
- Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp được
chia làm bốn loại sau:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ các chi phí nguyên vật liệu xuất
dùng trực tiếp cho sản xuất để cấu thành nên thực thể của công trình xây dựng như:
gạch, cát, vôi, xi măng, sắt, thép, bê tông...
Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm tiền lương chính, tiền lương phụ, phụ cấp,
tiền thưởng … của công nhân trực tiếp làm công tác sản xuất xây lắp.
Chi phí sử dụng máy thi công: Gốm các khoản chi phí mà đơn vị xây lắp bỏ ra có
liên quan trực tiếp đến việc sử dụng máy thi công phục vụ cho xây dựng, lắp đặt các
công trình, hạng mục công trình (máy thi công không phân biệt của đơn vị hay thuê
ngoài) như: chi phí NVL sử dụng máy thi công, chi phí tiền lương công nhân trực tiếp
điều khiển máy thi công, khấu hao máy thi công và chi phí bằng tiền khác.
Chi phí sản xuất chung: Là những khoản chi phí phát sinh phục vụ cho sản xuất
của đội và công trình xây dựng nhưng không trực tiếp cấu thành thực thể của công
trình. Chi phí sản xuất chung bao gồm: tiền lương nhân viên quản lý đội xây dựng, các
khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN theo tỷ lệ quy định của nhân viên quản lý
đội và công nhân trực tiếp xây lắp, công nhân sử dụng máy thi công, chi phí khấu hao
TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội, chi phí công cụ dụng cụ và các chi phí dịch
vụ mua ngoài…
Để tính giá thành toàn bộ trong doanh nghiệp xây lắp, bên cạnh chi phí sản xuất
còn có chi phí ngoài sản xuất. Chi phí ngoài sản xuất bao gồm hai loại: Chi phí bán
hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Phương pháp phân loại chi phí theo khoản mục giúp quản lý chi phí theo định
mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, phân tích tình hình thực
hiện giá thành sản phẩm, làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sản xuất và
lập kế hoạch giá thành sản phẩm cho kỳ sau. Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây
lắp là chi phí sản xuất được tập hợp theo từng đối tượng xây lắp nên phương pháp
phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trở thành phương pháp được sử dụng phổ
biến trong các doanh nghiệp xây lắp.
xuất được phân loại theo từng khoản mục.
1.2.2. Giá thành sản phẩm
1.2.2.1. Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ những chi phí về lao động sống, lao động
vật hoá và các chi phí bằng tiền khác mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra để hoàn thành
khối lượng xây lắp công trình, hạng mục của xây lắp có thể là khối lượng xây lắp công
trình, hạng mục công trình theo quy định.
5
Thang Long University Library
Sản phẩm xây lắp có thể là khối lượng công việc hoặc giai đoạn công việc có dự
toán riêng, có thể là công trình, hạng mục công trình hoàn thành toàn bộ. Khác với
các doanh nghiệp sản xuất khác, giá thành sản phẩm xây lắp mang tính chất khác biệt,
mỗi công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp khi đã hoàn thành đều có
giá riêng.
Giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt
động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn
trong quá trình sản xuất, cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã
sử dụng nhằm tiết kiệm chi phí và hạ giá thành.
1.2.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm
Các sản phẩm xây lắp có giá trị lớn, nhưng thông tin quản trị lại đòi hỏi phải
cung cấp thường xuyên, liên tục lại từng thời điểm sản xuất kinh doanh. Do đố, để
giúp cho việc nghiên cứu và quản lý tốt giá thành trong đơn vị sản xuất xây lắp, kế
toán cần phân biệt các loại giá thành khác nhau theo các tiêu thức sau
- Phân loại giá thành căn cứ vào thời điểm tính toán và nguồn số liệu
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác định
được các nguyên nhân vượt định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ đó, điều chỉnh
sản phẩm xây lắp
=
Giá thành dự toán
-
sản phẩm xây lắp
Mức hạ giá
thành dự toán
+
Chênh lệch
định mức
+ Giá thành thực tế: Là chỉ tiêu được xác định sau khi hoàn thành công tác xây
dựng không chỉ các phí tổn thực tế phát sinh để hoàn thành bàn giao khối lượng xây
lắp mà còn các chi phí thiệt hại do phá đi làm lại, thiệt hại về ngừng sản xuất, các lãng
phí về vật tư, lao động trong quá trình thi công…do những nguyên nhân chủ quan và
khách quan của doanh nghiệp.
Giá thành thực tế cho phép đánh giá trình độ quản lý và sử dụng chi phí của
doanh nghiệp này so với doanh nghiệp khác. Đồng thời so sánh giữa giá thành thực tế
với giá thành kế hoạch có thể đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
trong điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất và trình độ quản lý. Từ đó, đưa ra những ý
kiến đóng góp cho quản trị doanh nghiệp trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Muốn đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất thi công của công tác xây lắp đòi
hỏi chúng ta phải so sánh các loại giá thành trên với nhau.
doanh nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc tính đúng, tính đủ CPSX sẽ quyết
định đến tính chính xác của giá thành sản phẩm. Chi phí sản xuất phản ánh mặt hao
phí còn giá thành phản ánh mặt kết quả.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp giống nhau về chất. Nội dung cơ
bản của chúng đều là biểu hiện của tiền về hao phí lao động sống, lao động vật hoá mà
doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình thi công. Tuy nhiên, do CPSX giữa các kỳ đều
không đều nhau nên CPSX và giá thành sản phẩm khác nhau về lượng. Điều này được
thể hiện qua sơ đồ sau:
Chi phí sản xuất xây
Chi phí sản xuất xây lắp phát sinh trong kỳ
lắp dở dang đầu kỳ
Tổng giá thành sản phẩm công trình hoàn thành
Chi phí sản xuất xây
lắp dở dang cuối kỳ
Như vậy, sơ đồ trên được thể hiện bằng công thức sau:
Tổng giá thành
sản phẩm công
trình hoàn thành
=
Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất
xây lắp dở dang +
xây lắp phát
đầu kỳ
trình, hoặc có thể là đơn đặt hàng, bộ phận thi công hay từng giai đoạn công việc. Trên
thực tế theo điểm dừng kỹ thuật hợp lý, các đơn vị xây lắp thường hạch toán chi phí
theo công trình, hạng mục công trình.
Hạch toán chi phí sản xuất xây lắp theo đúng đối tượng đã được qui định hợp lý
có tác dụng phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho
công tác tính giá thành sản phẩm được kịp thời.
1.3.1.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Phương pháp tập hợp CPSX là phương pháp hay hệ thống phương pháp được sử
dụng để tập hợp và phân loại các CPSX trong phạm vi giới hạn của đối tượng hạch
toán chi phí. Trong doanh nghiệp xây lắp thường sử dụng hai phương pháp chủ yếu để
tập hợp CPSX:
- Phƣơng pháp tập hợp trực tiếp: Theo phương pháp này chi phí sản xuất có
quan hệ trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt. Phương pháp ghi trực
tiếp đòi hỏi phải tổ chức việc ghi chép ngay từ ban đầu (chứng từ gốc) theo từng đối
tượng, trên cơ sở đó, kế toán tập hợp số liệu từ các chứng từ gốc theo từng đối tượng
liên quan và ghi trực tiếp vào các tài khoản cấp 1, cấp 2 hoặc chi tiết theo đúng đối
tượng. Phương pháp ghi trực tiếp bảo đảm việc tập hợp CPSX theo đúng đối tượng chi
phí với mức độ chính xác cao.
- Phƣơng pháp phân bổ gián tiếp: Áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất
phát sinh có liên quan với nhiều đối tượng tập hợp CPSX mà không thể tổ chức việc
ghi chép ban đầu riêng rẽ theo từng đối tượng được. Phương pháp này đòi hỏi phải ghi
chép ban đầu các chi phí sản xuất có liên quan tới nhiều đối tượng theo từng địa điểm
phát sinh chi phí, trên cơ sở đó tập hợp các chứng từ kế toán theo từng địa điểm phát
9
Thang Long University Library
sinh chi phí (tổ, đội sản xuất, công trường…). Sau đó chọn tiêu chuẩn phân bổ để tính
ngoài trời nên cần theo dõi liên tục tình hình sản xuất. Hơn nữa, theo quy định của Bộ
tài chính thì doanh nghiệp xây lắp phải sử dụng phương pháp KKTX.
1.3.2.1. Kế toán Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp xây lắp bao gồm những chi phí vật liệu chính,
vật liệu phụ, các cấu kiện, các bộ phận kết cấu công trình, vật liệu luân chuyển tham
gia cấu thành thực thể công trình xây lắp hoặc giúp cho việc thực hiện và hoàn thành
khối lượng xây lắp như: sắt thép, xi măng, gạch, gỗ, cát, đá, sỏi, … không bao gồm vật
10
liệu, nhiên liệu sử dụng cho máy thi công và sử dụng cho quản lý đội công trình. Chi
phí vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm xây lắp.
Chi phí nguyên liệu, vật liệu phải tính theo giá thực tế khi xuất sử dụng như
phương pháp thực tế đích danh, bình quân gia quyền, nhập trước xuất trước (FIFO),
nhập sau xuất trước (LIFO). Tuy nhiên chọn phương pháp tính giá hàng tồn kho nào
thì đơn vị cũng phải đảm bảo tính nhất quán trong suốt niên độ kế toán.
- Chi phí nguyên vật liệu chính bao gồm nguyên vật liệu mà khi tham gia vào quá
trình sản xuất nó cấu thành thực thể chính của sản phẩm như: gạch ngói, cát, đá, xi
măng, sắt, thép… Nguyên vật liệu chính thường được xây dựng định mức và được
quản lý theo định mức đó. Chi phí nguyên vật liệu chính thường liên quan trực tiếp
đến từng đối tượng tập hợp theo phương pháp ghi trực tiếp. Còn nếu chi phí nguyên
vật liệu chính liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí thì phải dùng phương pháp
phân bổ gián tiếp cho từng đối tượng đó.
- Chi phí vật liệu phụ bao gồm những vật liệu kết hợp với vật liệu chính làm thay
đổi màu sắc, hình dáng bề ngoài của sản phẩm, góp phần làm tăng thêm chất lượng,
thẩm mỹ hoặc đảm bảo về kỹ thuật công nghệ… của sản phẩm xây lắp như: bột màu,
thuốc nổ, đinh, dây… Về cơ bản việc tập hợp chi phí nguyên vật liệu phụ giống với
nguyên vật liệu chính song thường thì nguyên vật liệu khác này được hạch toán dựa
vào phương pháp phân bổ gián tiếp do liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau.
Sơ đồ 1.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
TK 152
TK 621
Xuất kho NVL dùng cho
hoạt động xây lắp
TK 632
K/c CP NVLTT vượt trên
mức bình thường
TK 111, 112, 331
Mua NVL đưa thẳng
TK 154
vào sản xuất
K/c CPNVLTT
Thuế
GTGT
TK 133
1.3.2.2. Kế toán Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương, tiền công phải trả cho số ngày
công lao động của công nhân trực tiếp thực hiện khối lượng công tác xây lắp kể cả
công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật liệu trong phạm vi thi công mặt bằng và nhân công
chuẩn bị, kết thúc thu dọn hiện trường thi công, không phân biệt nhân công trong danh
sách hay thuê ngoài.
Tiền lương phải trả
CNTT xây lắp
TK 632
K/c CPNCTT vượt
trên mức bình thường
13
Thang Long University Library
1.3.2.3. Kế toán chi phí sử dụng máy thi công
Máy thi công là các loại xe máy chạy bằng động lực (điện, xăng, dầu, khí nén)
được sử dụng trực tiếp để thi công xây lắp các công trình như: máy trộn bê tông, cần
cẩu, máy ủi, máy xúc đất đóng cọc, ô tô vận chuyển… Các loại phương tiện thi công
này có thể tự trang bị hoặc thuê ngoài.
Chi phí sử dụng máy thi công là toàn bộ các chi phí về vật liệu nhân công và các
chi phí khác có liên quan đến sử dụng máy thi công và được chia thành 2 loại: Chi phí
thường xuyên, chi phí tạm thời.
Chi phí thường xuyên: là các chi phí phát sinh trong quá trình sử dụng máy thi
công được tính thẳng vào giá thành của ca máy như tiền lương của nhân công trực tiếp
điều khiển hay phục vụ xe máy thi công, chi phí nhiên liệu động lực vật liệu dùng cho
xe máy thi công, khấu hao và sửa chữa thường xuyên xe máy thi công.
Chi phí tạm thời: là những chi phí phải phân bổ dần theo thời gian sử dụng máy
thi công như chi phí tháo lắp vận chuyện, chạy thử thi công khi di chuyển từ công
trường này đến công trường khác, chi phí tháo dỡ công trình tạm thời…. phục vụ cho
sử dụng máy thi công. Những chi phí này có thể phân bổ dần hoặc trích trước theo kế
hoạch cho nhiều kỳ.
Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công phải phù hợp với hình thức quản lý, sử
dụng máy thi công của doanh nghiệp. Thông thường có các hình thức quản lý, sử dụng
TK 1541 - CT, HMCT
Giá thuê chưa thuế
K/c chi phí sử dụng
TK 133
MTC
Thuế
GTGT
15
Thang Long University Library
+ Trường hợp 2: Doanh nghiệp không tổ chức đội thi công riêng biệt hoặc có tổ
chức đội máy thi công riêng nhưng không tổ chức kế toán riêng cho đội:
Sơ đồ 1.4. Kế toán chi phí sử dụng MTC
(Trường hợp DNXL có hoặc không tổ chức đội máy thi công riêng nhưng không tổ
chức kế toán riêng cho đội)
TK 623 - CT, HMCT
TK 334, 338
TK 1541- CT, HMCT
Tiền lương phải trả cho công nhân
+ Trường hợp 3: Doanh nghiệp xây lắp có đội máy thi công riêng và tổ chức kế
toán riêng:
Sơ đồ 1.5. Kế toán chi phí sử dụng máy thi công
(Trường hợp DNXL có đội máy thi công riêng và tổ chức kế toán riêng)
TK 621-MTC
TK 152
Xuất kho NVL sử dung trực tiếp
TK 1543-MTC
TK 111, 112, 331
Mua NVL không qua kho, sử dụng luôn
K/c Chi phí NVLTT phục vụ
cho MTC
TK 133
Thuế GTGT
TK 334, 338
TK 622
Lương, các khoản trích lương của
công nhân trực tiếp điều khiển MTC
TK 152, 153
K/c Chi phí NCTT phục vụ
cho MTC
TK 1543 – MTC
TK 623 - CT, HMCT
Phân bổ chi phí sử dụng MTC cho
các đối tượng xây lắp
Trường hợp 3.2: Các bộ phận trong doanh nghiệp xác định kết quả riêng (Doanh
nghiệp thực hiện bán dịch vụ máy lẫn nhau giữa các bộ phận trong nội bộ)
Sơ đồ 1.7. Kế toán tập hợp chi phí sử dụng MTC trong trƣờng hợp công ty tổ
chức đội MTC riêng biệt và phân cấp quản lý
(Trường hợp bán lao vụ máy lẫn nhau giữa các bộ phận)
TK 632 - MTC
TK 1543 – MTC
Giá thành MTC tiêu thụ nội bộ
TK 512
TK 623 - CT, HMCT
Giá trị phục vụ lần nhau giữa các bộ phận
TK 133
TK 3331
Kê khai thuế GTGT cho dịch vụ tiêu thụ nội bộ
1.3.2.4. Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung của hoạt động xây lắp là những chi phí có liên quan đến
việc tổ chức phục vụ và quản lý thi công của các đội xây lắp ở các công trình.
Chi phí sản xuất chung là chi phí tổng hợp bao gồm nhiều khoản chi phí khác
TK 627 có 6 TK cấp 2:
+ TK 6271: Chi phí nhân viên
+ TK 6272: Chi phí nguyên vât liệu
+ TK6273: Chi phí CCDC
+ TK6274: Chi phí khấu hao TSCĐ
+ TK6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài
+ TK 6278: Chi phí khác
19
Thang Long University Library
Sơ đồ 1.8. Kế toán chi phí sản xuất chung
TK 627
TK 334
Tiền lương, phụ cấp của nhân
viên quản lý đội
TK 111, 112, 152, 138
Các khoản ghi giảm CP SXC
TK 338
Các khoản trích theo lương của nhân
viên quản lý đội, công nhân trực tiếp
xây lắp, công nhân sử dụng MTC
Trích dự phòng bảo hành
công trình xây lắp
20
1.3.2.5. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đánh giá sản phẩm làm dở
Đánh giá sản phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ
Sản phẩm dở dang là khối lượng sản phẩm, công việc xây lắp còn đang trong quá
trình sản xuất, gia công, chế biến trên các giai đoạn của quy trình công nghệ hoặc đã
bàn giao thành một vài quy trình chế biến nhưng vẫn còn phải gia công tiếp mới trở
thành thành phẩm.
Để phục vụ cho việc tính giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp, định kỳ
(tháng, quý), doanh nghiệp tiến hành kiểm kê khối lượng công việc đã hoàn thành hay
dở dang. Để xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ phải tiến hành kiểm kê khối
lượng xây lắp dở dang, xác định mức độ hoàn thành và dùng phương pháp đánh giá
sản phẩm dở dang thích hợp.
Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp xây lắp phụ thuộc
vào phương thức thanh toán khối lượng xây lắp hoàn thành giữa bên nhận thầu và bên
giao thầu.
Tính giá thành sản phẩm dở dang trong sản xuất xây lắp được xác định bằng
phương pháp kiểm kê hàng tháng. Việc tính giá sản phẩm dở dang trong sản xuất xây
lắp phụ thuộc vào phương thức thanh toán khối lượng xây lắp hoàn thành giữa bên
nhận thầu và chủ đầu tư ( bên giao thầu )
- Nếu quy định thanh toán sản phẩm xây lắp sau khi hoàn thành toàn bộ thì giá trị
sản phẩm dở dang là tổng chi phí phát sinh từ lúc khởi công đến thời điểm kiểm kê
đánh giá.
- Nếu quy định thanh toán sản phẩm xây lắp theo điểm dừng kĩ thuật hợp lý (là
điểm dừng mà tại đó có thể xác định được giá dự toán ) thì sản phẩm dở dang là các
khối lượng xây lắp chưa đạt tới điểm dừng kĩ thuật hợp lý đã quy định và được tính
Giá trị của khối * xây lắp dở
dang cuối kì
lượng xây lắp dở
theo dự toán
dang cuối kỳ theo
dự toán
21
Thang Long University Library
Để tổng hợp chi phí sản xuất kinh doanh, phục vụ cho việc tính giá thành sản
phẩm xây lắp, sản phẩm công nghiệp, dịch vụ, lao vụ của doanh nghiệp xây lắp, kế
toán sử dụng TK 154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”.
Tài khoản này được mở chi tiết theo địa điểm phát sinh chi phí (đội sản xuất,
công trường,... ), theo từng công trình, hạng mục công trình, các giai đoạn công việc
của hạng mục công trình hoặc nhóm hạng mục công trình.
Kết cấu và nội dung của tài khoản 154:
TK 154
Tổng hợp chi phí sản xuất trong kỳ (chi phí - Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công - Tổng giá thành sản xuất thực tế hay chi
trực tiếp, chi phí sử dụng MTC, chi phí sản phí thực tế của sản phẩm xây lắp, lao vụ,
xuất chung)
dịch vụ hoàn thành trong kỳ
Dư nợ: Chi phí thực tế của sản phẩm
xây lắp hoặc lao vụ, dịch vụ dở dang chưa
hoàn thành cuối kỳ
TK 154 trong ngành xây lắp có 4 TK cấp 2:
+ 1541 - Xây lắp
+ 1542 - Sản phẩm khác
TK 152, 138,
334, 811
TK 155
Sản phẩm xây lắp hoàn thành
TK 623
T
K 155
chờ bàn giao hoặc tiêu thụ
Kết chuyển CPNCTT
cuối kỳ
Kết chuyển CPSDMTC
T
cuối kỳ
K 623
TK 632
TK 627
Kết chuyển
TK Kết chuyển CPSXC
CPSDMTC
cuối kỳ
cuối kỳ
627
công trình hoàn thành
23
Thang Long University Library
1.4.2. Phương pháp tính giá thành sản phẩm
Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp là phương pháp sử dụng số liệu về
chi phí sản xuất để tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vị thực tế của sản phẩm xây
lắp. Phương pháp tính giá thành này sử dụng cho những sản phẩm hoàn thành theo các
khoản mục giá thành trong kỳ tính giá thành đã được xác định. Trong đó, kỳ tính giá
thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tính giá thành cho các công trình,
hạng mục công trình. Các phương pháp tính giá thành được lựa chọn tùy thuộc vào đối
tượng hạch toán chi phí và đối tượng tính giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp xây
lắp. Một số phương pháp tính giá thành chủ yếu trong doanh nghiệp xây lắp:
1.4.2.1. Phương pháp tính giá thành giản đơn (phương pháp tính giá thành trực tiếp)
Đây là phương pháp tính giá thành phổ biến trong các doanh nghiệp xây lắp vì
phương pháp này đơn giản, dễ làm, cho phép cung cấp kịp thời số liệu giá thành mỗi
kỳ báo cáo. Theo phương pháp này, giá thành công trình, hạng mục công trình hoàn
thành bàn giao được xác định trên cơ sở tập hợp tất cả chi phí sản xuất trực tiếp cho
công trình, hạng mục công trình đó từ khi mới khởi công đến lúc hoàn thành bàn giao.
Trong trường hợp, nếu quy định thanh toán sản phẩm, khối lượng xây lắp theo giai
đoạn xây dựng thì cần phải xác định giá thành khối lượng công tác xây lắp hoàn thành
bàn giao nhằm quản lý chi phí dự toán. Công thức tính giá thành:
Giá thành thực tế
khối lượng xây lắp
hoàn thành
Chi phí xây
24
Công thức tính như sau:
Z = C 1 + C2 + … + C n
Trong đó:
Z:
Giá thành sản phẩm xây lắp
C1, …Cn:
CPSX ở từng đội sản xuất hay từng giai đoạn công việc nằm trong
giá thành sản phẩm xây lắp
1.5. Phƣơng pháp kế toán theo phƣơng thức khoán gọn trong xây lắp
Trong các doanh nghiệp xây lắp hiện nay, phương thức khoán sản phẩm đang
được áp dụng phổ biến, phương thức này rất thích hợp với cơ chế thị trường, tạo điều
kiện chuyên môn hoá trong lao động, nâng cao trách nhiệm của đội xây dựng, của
người lao động với công việc được giao, từ đó thúc đẩy đơn vị, bộ phận xây dựng chủ
động trong hoạt động của đơn vị mình, khuyến khích đổi mới tổ chức, quản lý sản
xuất, nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động.
Các hình thức giao khoán hiện nay gồm:
- Khoán gọn công trình hay khoán toàn bộ chi phí: theo hình thức này đơn vị sẽ
giao khoán toàn bộ công trình cho bên nhận khoán theo một tỷ lệ nhất định tính trên
giá trị hợp đồng. Đơn vị nhận khoán tự tổ chức cung ứng vật tư, máy móc thiết bị, kỹ
thuật, nhân công để thực hiện khối lượng xây lắp nhận khoán. Khi hoàn thành công
trình giữa bên giao và bên nhận khoán tiến hành quyết toán công trình.
- Hiện nay hình thức khoán này được áp dụng khá phổ biến trong các doanh
nghiệp xây lắp, theo phương thức này giá thành xây lắp công trình chính là giá giao
khoán cho các đội, đội có trách nhiệm tập hợp, phân loại chứng từ, lập bảng kê chi phí
về phòng kế toán để tổng hợp chi phí sản xuất, tính giá thành và ghi sổ kế toán.