Tiểu luận vi phạm hợp đồng theo công ước viên 1980 - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
KHOA LUẬT KINH TẾ

ĐỀ TÀI

VI PHẠM HỢP ĐỒNG
(THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980)

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 4 năm 2016


MỤC LỤC
MỤC LỤC.................................................................................................................................................2
LỜI MỞ ĐẦU............................................................................................................................................1
NỘI DUNG...............................................................................................................................................2
II. HỢP ĐỒNG TRẢ GÓP (INSTALMENT CONTRACT ): ........................................................................12
II.1 Khái niệm instalment contract: ...............................................................................................12
III.2 Các điều kiện được miễn trách theo CISG..............................................................................20
III.3 So sánh các quy định miễn trách với Luật Việt Nam...............................................................22
Joern Rimke, Force majeure and hardship: Application in international trade practice with
specific regard to the CISG and the UNIDROIT Principles of International Commercial Contracts 25
IV HẬU QUẢ CỦA VIỆC HỦY HỢP ĐỒNG. ..........................................................................................25
V. BẢO QUẢN HÀNG HÓA TRONG CISG.............................................................................................29
VI. CHUYỂN DỊCH RỦI RO (PASSAGE OF RISK)....................................................................................35
VI.2 Hợp đồng bao gồm vận chuyển..............................................................................................36
VI.3 Hợp đồng bán hàng “in transit”..............................................................................................37
VI.4 Hợp đồng không bao gồm vận chuyển...................................................................................39
VI.5 Rủi ro và việc không tuân theo điều kiện về hàng hóa...........................................................39
VI.7.1 Dịch chuyển rủi ro trong pháp luật Việt Nam .................................................................41
VI.7.2 Dịch chuyển rủi ro trong UCC của Hoa Kỳ........................................................................42

Batman (B), chủ cửa tiệm bán dụng cụ bóng chày và Superman (S), nhà sản xuất gậy
bóng chày ký kết hợp đồng. Theo hợp đồng, B đồng ý mua gậy bóng chày của S với
giá 5000$, S sẽ giao hàng đến cửa hàng của B và nhận thanh toán vào ngày 30/4. Tuy
nhiên, vào ngày 1/4, B điện thoại báo với S rằng sẽ không mua vợt của S nữa. Vậy
hành vi của B có bị xem là vi phạm hợp đồng?
Trong pháp luật về hợp đồng, có một khái niệm được dùng để giải thích cho những
trường hợp như trên, ‘anticipatory breach’, hay còn gọi là vi phạm hợp đồng trước thời
hạn, hay vi phạm hợp đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ 1. Theo đó,
‘anticipatory breach’ được hiểu là “việc vi phạm một nghĩa vụ trong hợp đồng khi chưa
đến hạn thực hiện nghĩa vụ”2. Cụ thể, một bên trong hợp đồng, bằng hành động hay lời
nói, thể hiện một cách rõ ràng ý định không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, mặc dù
thời hạn thực hiện nghĩa vụ đó chưa đến.
Do đó, khác với nguyên tắc thông thường của vi phạm hợp đồng, nếu bên có quyền
biết được rằng trước khi đến hạn, bên kia sẽ không thực hiện nghĩa vụ hoặc có căn cứ
nghi ngờ rằng nghĩa vụ sẽ không thể được thực hiện, bên có quyền có thể áp dụng các
quyền như đối với trường hợp vi phạm thực hiện nghĩa vụ thông thường 3 mà không cần
đợi đến khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng.
Để xem một hành vi có phải là ‘anticipatory breach’ hay không, có thể căn cứ vào một
trong các điều kiện sau:
- Một lời từ chối cụ thể và rõ ràng (có thể trực tiếp hoặc gián tiếp) về việc không thực
hiện hợp đồng được đưa ra bởi một bên trong hợp đồng. Việc quyết định xem một
lời từ chối thực hiện hợp đồng có dẫn đến một ‘anticipatory breach’ hay không cần
1

Dương Anh Sơn,2006. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với vi phạm hợp đồng
khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 04/2006.
2
Black’s Law Dictionary
3
Dương Anh Sơn, tlđd.

hạn giao vợt theo hợp đồng cũng đã cấu thành một ‘anticipatory breach’. Cụ thể, việc
4

Anticipatory breach of contract and when does it occur http://www.inbrief.co.uk/contract-law/anticipatorybreach-of-contract.htm# [Truy cập ngày 23/3/2016]; Anticipatory Repudiation
http://legaldictionary.net/anticipatory-repudiation/ [Truy cập ngày 26/3/2016]
5
Breach of contract: Anticipatory Breach (Repudiation) http://www.nolo.com/legal-encyclopedia/breach-ofcontract-anticipatory-breach-32653.html [Truy cập ngày 31/3/2016]
6
(1853) 2 E. & B. 678.
7
Carter, 1984. The Modern Law Review, Volume 47: Issue 4- The Embiricos Principle and the Law of
Anticipatory Breach, pg 423.

3


B gọi điện và báo cho S về việc không mua vợt thể hiện 1 biểu lộ ý định rõ ràng về
việc sẽ không thực hiện hợp đồng, từ đó khiến cho mục đích của hợp đồng không thực
hiện được, đồng thời gây ra thiệt hại cho S. Vì vậy, S không bị buộc phải tuân theo hợp
đồng hoặc chờ đến 30/4 (ngày đến hạn thực hiện hợp đồng) mà ngay lập tức có quyền
yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại.
Hiện nay, trên thế giới vẫn còn nhiều tranh cãi xoay quanh thuyết ‘anticipatory
breach’, có những luồng quan điểm bảo vệ lý thuyết truyền thống, tức vi phạm nghĩa
vụ chỉ có thể được xác định khi hết thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng nhưng một bên
không thực hiện nghĩa vụ của mình, tuy nhiên vẫn có những quan điểm bảo vệ cho
thuyết này. Cụ thể, thuyết này mới chỉ được công nhận và áp dụng ở các quốc gia theo
hệ thống luật Anh-Mỹ. Đầu tiên, luật của các quốc gia này còn quy định khá dè dặt và
gói gọn trong trường hợp một bên trong hợp đồng tuyên bố hủy hợp đồng dù chưa đến
hạn thực hiện nghĩa vụ8, nhưng cho đến nay, cùng với sự phát triển về pháp luật hợp
đồng, học thuyết này ngày càng được áp dụng rộng rãi.

hoãn việc thực hiện nghĩa vụ của mình sau khi hợp đồng được ký kết nếu có cơ sở rằng
bên kia sẽ không thực hiện phần lớn nghĩa vụ của họ theo hợp đồng do (i) việc không
thể thực hiện được hợp đồng hay mất khả năng thanh toán; (ii) hành vi của bên kia
trong việc chuẩn bị hay thực hiện hợp đồng. Đồng thời, để bảo vệ quyền lợi của người
bán, CISG cho phép bên bán khi phát hiện những lý do trên đó thể không tiếp tục thực
hiện nghĩa vụ giao hàng của mình, hoặc ngăn chặn việc bên mua nhận hàng kể cả trong
trường hợp có đầy đủ chứng từ hợp lệ.
Để áp dụng điều khoản này, bên bị vi phạm phải đưa ra một thông báo về việc tạm
hoãn thực hiện nghĩa vụ của mình để bên đó có thời gian đưa ra các cam kết thực hiện
nghĩa vụ của mình. Nếu bên kia đưa ra một cam đoan về việc sẽ thực hiện hợp đồng thì
bên bị vi phạm không được tạm hoãn hợp đồng mà phải tiếp tục hợp đồng theo thỏa
thuận giữa các bên13.
Điều 72 CISG quy định về trường hợp bên bị vi phạm có quyền hủy hợp đồng nếu như
trước ngày đến hạn thực hiện nghĩa vụ, bên bị vi phạm có căn cứ rõ ràng rằng vi phạm
của bên kia sẽ cấu thành vi phạm cơ bản của hợp đồng 14. Đối với trường hợp tại Điều
72 này, bên bị vi phạm không cần phải ra thông báo cho bên kia về về việc hủy hợp
đồng.
11

Điều 71, Điều 71, Điều 73 của CISG. Article 71 of CISG:
“1. A party may suspend the performance of his obligations if, after the conclusion of the contract, it becomes
apparent that the other party will not perform a substantial part of his obligations as a result of:
(a) a serious deficiency in his ability to perform or in his creditworthiness; or
(b) his conduct in preparing to perform or in performing the contract.
2. If the seller has already dispatched the goods before the grounds described in the preceding paragraph
become evident, he may prevent the handing over of the goods to the buyer even though the buyer holds a
document which entitles him to obtain them. The present paragraph relates only to the rights in the goods as
between the buyer and the seller.
…”
12

cơ sở nào để một bên có thể cho rằng bên kia có thể không thực hiện đúng hạn, và căn
15

Article 2-609 of the UCC:
“1. A contract for sale imposes an obligation on each party that the other's expectation of receiving due
performance will not be impaired. When reasonable grounds for insecurity arise with respect to the performance
of either party the other may in writing demand adequate assurance of due performance and until he receives
such assurance may if commercially reasonable suspend any performance for which he has not already received
the agreed return.
2. Between merchants the reasonableness of grounds for insecurity and the adequacy of any assurance offered
shall be determined according to commercial standards.
3. Acceptance of any improper delivery or payment does not prejudice the aggrieved party's right to demand
adequate assurance of future performance.
4. After receipt of a justified demand failure to provide within a reasonable time not exceeding thirty days such
assurance of due performance as is adequate under the circumstances of the particular case is a repudiation of
the contract”.
16
Khoản 1 Điều 415 Bộ luật Dân sự 2005:“Bên phải thực hiện nghĩa vụ trước có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ,
nếu tài sản của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết
cho đến khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc có người bảo lãnh”.

6


cứ để cho rằng việc giảm sút tài sản của bên đó sẽ khiến anh ta không thực hiện được
nghĩa vụ theo hợp đồng.
Việc đưa ra học thuyết về ‘anticipatory breach’ là nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của
bên bị vi phạm khi cho phép họ có thể áp dụng các quyền của mình kể cả khi chưa có
thiệt hại thục tế xảy ra. Tuy vậy, vi phạm hợp đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện
nghĩa vụ không phải là căn cứ cho phép bên có quyền áp dụng chế tài hủy ngay hợp

7


Học thuyết ‘fundamental breach’ được biết đến vào khoảng giữa năm 1950 – đầu năm
1960 ở Anh, trong đó đưa ra rằng theo quy định của pháp luật, khi một bên trong hợp
đồng đã cam kết về ‘fundamental breach’ thì bên đó không thể dựa vào một điều khoản
loại trừ để không chịu trách nhiệm đối với vi phạm20.
Khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng được quy định tại Điều 25 của CISG, theo đó một
sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho
bên kia bị thiệt hại mà bên đó, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có
quyền mà họ mong chờ từ hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu qủa
đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào
hoàn cảnh tương tự 21.
CISG không đưa ra một định nghĩa cụ thể về vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng, thay
vào đó, CISG đưa ra các thuật ngữ khái quát để xác định vi phạm cơ bản như “thiệt
hại”, “chừng mục đáng kể” và “có thể tiên liệu được” để từ đó đưa ra một “nguyên tắc
diễn giải chung”22.
Tuy vậy, căn cứ theo CISG thì để xem xét một vi phạm có là vi phạm cơ bản hay
không, cần dựa trên những yếu tố chính như sau:
(i)
Có sự vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng, hay tập quán thương mại được các bên
(ii)

áp dụng, hoặc theo Công ước;
Vi phạm đó dẫn đến hậu quả làm cho bên bị vi phạm bị thiệt hại từ đó không
đạt được điều họ mong đợi từ hợp đồng. Trong đó, CISG cho rằng thiệt hại đáng
kể là những thiệt hại làm cho bên bị vi phạm mất đi cái mà họ chờ đợi (mong
muốn có được) từ hợp đồng. Tuy nhiên, CISG lại không giải thích rõ cái mà bên
bị vi phạm, có thể là bên mua hoặc bên bán, chờ đợi là gì? Đa số các quan điểm
đều nhận định “thiệt hại” về cơ bản nên được hiểu là mục đích bên bị vi phạm

9


Khả năng tiên liệu trước được những thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây
ra sẽ phụ thuộc vào kiến thức của bên vi phạm về những sự kiện xoay quanh
giao dịch như kinh nghiệm, hay khả năng, tổ chức của bên vi phạm 26. Tính tiên
liệu trước của hợp đồng là một trong những yếu tố cần phải xem xét, bởi CISG
cho rằng một bên trong hợp đồng, khi biết về những hậu quả có thể xảy ra nếu
hợp đồng bị vi phạm, nếu như anh ta không chắc chắn về việc sẽ thực hiện đúng
nghĩa vụ theo hợp đồng, nhưng không chấm dứt hợp đồng và cũng không cố
gắng hết sức để ngăn chặn việc vi phạm hợp đồng này ảnh hưởng đến yếu tố
thiện chí, trung thực trong hợp đồng và cần phải được xác định. Do đó, tính cơ
bản, chủ yếu của vi phạm không chỉ nằm ở hậu quả mà còn nằm ở việc khả năng
tiên liệu của một bên. Vấn đề nằm ở việc liệu bên vi phạm thấy trước hậu quả
của hành vi là hợp lý không ? hay có điều gì gây cản trở việc thấy trước hậu quả
của bên vi phạm không? Lý thuyết tương tự cũng được áp dụng khi xác định
mức độ thiệt hại theo Điều 74 CISG cũng như trong Điều 79 của CISG.
Dù không được đề cập trực tiếp trong CISG, nhưng trong lịch sử lập pháp và đa số ý
kiến các học giả thì nghĩa vụ chứng minh ban đầu sẽ thuộc về bên bị vi phạm 27. Theo
đó, bên bị vi phạm phải chứng minh rằng anh ta phải chịu một thiệt hại mà thiệt hại đó
đã tước đi đáng kể những gì anh ta có quyền hy vọng theo hợp đồng. Trường hợp có
thiệt hại đã tước đi đáng kể những gì một bên mong đợi từ hợp đồng được cấu thành,
nghĩa vụ chứng minh chuyển sang bên vi phạm, cụ thể bên vi phạm phải chứng minh
rằng anh ta đã không lường trước được tác động có hại của hành vi vi phạm của mình
và rằng một người bình thường cùng điều kiện trong các trường hợp tương tự cũng
không lường trước.
Tương tự Điều 25 CISG, Điều 7.3.1(2) của Nguyên tắc UNIDROIT 28 quy định:
26

Chengwei liu, tlđd.

Tại Việt Nam, vi phạm cơ bản hợp đồng cũng được đề cập trong Luật Thương mại
2005. Trong đó Khoản 13 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005, vi phạm cơ bản hợp
đồng là “sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho
bên kia không đạt được mục đích giao kết hợp đồng”. Vi phạm cơ bản cũng cơ sở để áp
dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng hoặc đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy
bỏ hợp đồng29. Tuy nhiên, tính đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn, giải thích rõ
khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng. Dẫn đến những câu hỏi phát sinh từ vi phạm cơ
bản như thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra đến mức nào thì được coi là vi
phạm cơ bản hợp đồng? Mục đích của các bên khi giao kết hợp đồng là gì? vẫn chưa
có lời giải thích cụ thể30.
Nội hàm khái niệm “vi phạm cơ bản hợp đồng” theo quy định của Công ước Viên,
UNIDROIT hay Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 là rất rộng. Tuy nhiên, nhìn
(d) the non-performance gives the aggrieved party reason to believe that it cannot rely on the other party's future
performance;
(e) the non-performing party will suffer disproportionate loss as a result of the preparation or performance if the
contract is terminated”.
29
Điều 308, 310 và 312 Luật Thương mại 2005
30
Võ Sỹ Mạnh. Bàn về khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Viên 1980.
https://cisgvn.wordpress.com/2011/04/09/ban-v%E1%BB%81-khai-ni%E1%BB%87m-vi-ph%E1%BA%A1m-c
%C6%A1-b%E1%BA%A3n-h%E1%BB%A3p-d%E1%BB%93ng-theo-cong-%C6%B0%E1%BB%9Bc-vien1980/ [Truy cập ngày 3/4/2016].

11


chung việc quy định khái quát như trên để nhằm bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm
tùy vào từng trường hợp cụ thể. Đặc biệt, khi vắng mặt các điều khoản trong hợp đồng,
cơ chế khắc phục hậu quả của CISG, cụ thể là để duy trì hiệu lực của hợp đồng và hạn
chế việc hủy hợp đồng trên cơ sở các thiệt hại hoặc biện pháp khắc phục sẽ được áp

contract.

12


chậm, trả dần; Tuy nhiên, căn cứ đặc điểm của việc trả góp, Nhóm đưa ra khái niệm về
Hợp đồng trả góp như sau: “Hợp đồng mua bán tài sản, hàng hóa trả góp là sự thỏa
thuận giữa các bên về việc mua bán tài sản, hàng hóa; Qua đó bên bán chuyển giao
tài sản, hàng hóa (có bảo lưu quyền sở hữu) cho bên mua; Bên mua trả trước một
phần giá trị tài sản, hàng hóa, phần còn lại trả trong một khoản thời gian theo thỏa
thuận”.
II.2 Vi phạm cơ bản trong instalment contract:
Trường hợp trong hợp đồng thương mại quốc tế có quy định giao hàng từng đợt,
nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình đối với lô hàng, mà vi phạm đó là vi
phạm cơ bản thì bên kia có quyền tuyên bố hủy hợp đồng về phần lô hàng đó 32. Quy
định này dựa trên tinh thần của nguyên tắc thiện chí trong hợp tác thương mại quốc tế,
các bên không vì một lô hàng trong nhiều lô có vi phạm cơ bản mà tuyên bố hủy toàn
bộ Hợp đồng mua bán đó.
Tuy nhiên, nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng thương mại
quốc tế, CISG cũng có quy định bên bị vi phạm hợp đồng có thể hủy toàn bộ hợp đồng
nếu hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm tạo thành một vi phạm nghiêm trọng,
gây thiệt hại cho bên kia trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ
đợi trên cơ sở hợp đồng. Trong trường hợp vì từng phần một của hợp đồng có vi phạm
nhưng vi phạm này có ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích một bên, thì bên bị vi phạm
cũng có thể tuyên bố hủy toàn bộ hợp đồng để trừng phạt bên vi phạm.
Ví dụ: một lô hàng bên bán A giao cho bên mua B nhưng chất lượng không đảm
bảo, nhưng vì giao hàng kém chất lượng này mà bên mua không hoàn thành nghĩa vụ
trong một hợp đồng khác với bên C dẫn đến bên mua C hủy hợp đồng đối với bên B.
Vì không đạt lợi ích, mục đích ban đầu của B nên đây là vi phạm cơ bản vì vậy bên B
tuyên hủy hợp đồng đối với A.

Khi người bán giao hàng mà hàng hóa đó không phù hợp với hợp đồng (chất
lượng, số lượng, đóng gói, bao bì, thời hạn giao hàng…) thì người mua cần yêu cầu
người bán phải giao hàng thay thế, đồng thời người mua phải cho người bán một thời
gian hợp lý để tiếp tục thực hiện hợp đồng. Người mua không được thực hiện các biện
33

Article 51 CISG
(1) If the seller delivers only a part of the goods or if only a part of the goods delivered is in conformity with the
contract, articles 46 to 50 apply in respect of the part which is missing or which does not conform.
(2) The buyer may declare the contract avoided in its entirety only if the failure to make delivery completely or in
conformity with the contract amounts to a fundamental breach of the contract.

14


pháp bảo hộ nào cho đến khi hết thời hạn bổ sung trừ khi người mua đã nhận được
thông báo của người bán nói rằng sẽ không tiếp tục thực hiện hợp đồng trong thời hạn
mà người mua đã bổ sung.
Khi hết thời hạn hợp lý mà người mua bổ sung cho người bán thực hiện hợp
đồng mà người bán vẫn không thực hiện thì người mua có thể xem xét đến các biện
pháp bảo hộ để bảo vệ lợi ích của mình và trừng phạt người bán.
Việc người bán giao hàng từng phần mà hàng hóa theo lô đó không phù hợp
theo thỏa thuận của hợp đồng thì trong một thời gian hợp lý người mua có quyền
thông báo cho người bán để yêu cầu người bán phải giao hàng thay thế nếu sự không
phù hợp đó tạo ra sự vi phạm cơ bản 34. Nếu sau thời gian gia hạn để người bán giao
hàng bổ sung, nhưng người bán không giao hàng khi đó vi phạm đó trở thành vi phạm
cơ bản thì người mua có quyền tuyên bố hủy hợp đồng.
Trong trường hợp, một bên không thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận đối với
bất cứ lô hàng nào cũng có thể cho phép bên kia có lý do để cho rằng sẽ có vi phạm cơ
bản trong tương lai thì bên đó có thể tuyên bố hủy hợp đồng phần có thể vi phạm trong

của hợp đồng, các bên có thể bổ sung, sửa chữa từng phần nếu có vi phạm xảy ra đối
với hàng hóa nhằm tránh sự thiệt hại to lớn hơn khi xem xét trong toàn bộ hợp đồng.
Do đó khi tham gia ký kết hợp đồng thương mại quốc tế, các bên cần thỏa thuận
rõ về nội dung Hợp đồng có giao hàng từng phần hay không, thế nào là vi phạm cơ bản
trong hợp đồng, việc vi phạm từng lô hàng theo từng phần giao hàng có dẫn đến vi
phạm cơ bản của hợp đồng hay không… Để tránh xảy ra trường hợp khi một bên tuyên
bố hủy toàn bộ hợp đồng khi bên kia chỉ vi phạm một đợt hàng.
Ví dụ về một vụ án36: (Viết lại cho gọn)
Tranh chấp giữa Bên mua là các công ty của Achentina, Bên bán là một công ty của
Nga. Bên mua kiện bên bán đã vi phạm cơ bản hợp đồng vì đã không giao hàng như
cam kết. Bên bán, ngược lại, cho rằng chính bên mua đã vi phạm cơ bản hợp đồng vì
đã chậm thanh toán.

35

Article 49
(1) The buyer may declare the contract avoided:
(a) if the failure by the seller to perform any of his obligations under the contract or this Convention amounts to a
fundamental breach of contract; or
(b) in case of non-delivery, if the seller does not deliver the goods within the additional period of time fixed by
the buyer in accordance with paragraph (1) of article 47 or declares that he will not deliver within the period so
fixed.
Article 64
(1) The seller may declare the contract avoided:
(a) if the failure by the buyer to perform any of his obligations under the contract or this Convention amounts to a
fundamental breach of contract; or
(b) if the buyer does not, within the additional period of time fixed by the seller in accordance with paragraph (1)
of article 63, perform his obligation to pay the price or take delivery of the goods, or if he declares that he will
not do so within the period so fixed.
36

(theo điều 49.1.a CISG).

17


Việc người mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán: Để xem xét liệu vi phạm của Bên
mua về nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng giao hàng từng phần có phải là vi phạm cơ
bản hay không, trọng tài đã trích dẫn điều 73.2 CISG. Trọng tài lập luận rằng, không
có chứng cứ chỉ ra việc Bên mua không thể hay không có thiện chí thực hiện nghĩa vụ
thanh toán của mình, vì trên thực tế, Bên mua vẫn có khả năng thanh toán và vẫn muốn
đàm phán với Bên bán về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng. Hơn nữa, Bên bán đã
không gia hạn thêm cho việc thanh toán và vì thế không thể đòi hủy hợp đồng theo
điều 64.1.b CISG. Trọng tài chỉ thêm rằng, việc Bên bán từ chối đàm phán với Bên
mua đi ngược lại với nguyên tắc thiện chí.
Với những lập luận nói trên, trọng tài ra phán quyết người mua được đòi bồi
thường những thiệt hại cho những tổn thất thực tế của họ (bao gồm chi phí lưu kho và
chi phí tài chính phát sinh do việc ngừng giao hàng), theo điều 74 CISG.
Bài học kinh nghiệm:
- Thứ nhất, nếu không vì lý do bất khả kháng, người bán không nên tự động
tuyên bố việc ngừng thực hiện hợp đồng, nếu không, vi phạm của người bán sẽ bị coi
là vi phạm cơ bản và người bán sẽ phải bồi thường những thiệt hại đối với người mua
do việc vi phạm hợp đồng của người bán gây ra.
- Thứ hai, người bán muốn quy kết người mua vi phạm cơ bản hợp đồng thì phải
có những căn cứ xác đáng và bằng chứng chứng minh. Trong trường hợp người mua
chậm thanh toán, đây không được coi là vi phạm cơ bản, người bán không có quyền
ngay lập tức hủy hợp đồng. Người bán phải gia hạn cho người mua một thời hạn hợp lý
để người mua thực hiện nghĩa vụ. Nếu hết thời hạn này mà người mua vẫn không thanh
toán thì người bán có quyền hủy hợp đồng và đòi các thiệt hại phát sinh (theo điều 64
CISG).
- Thứ ba, người bán không nên từ chối việc đàm phán với người mua để giải

12, Issue 1, pp. 101 -119
38
Điều 1148, Bộ luật Dân sự Pháp 1883
“Người có nghĩa vụ sẽ không phải bồi thường thiệt hại nếu việc không chuyển giao vật hoặc không thực hiện
công việc mà mình phải làm hoặc thực hiện công việc mà mình không được làm, là do sự kiện bất khả kháng
hoặc do sự kiện ngẫu nhiên và không lường trước được.”
39

Black's Law Dictionary – “force majeure: [Law French "a superior force"] (1883) An event or effect that can
be neither anticipated or controlled. The term includes both acts of nature (e.g., floods and hurricanes) and acts of
people (e.g., riots, strikes, and wars).”

19


III.2 Các điều kiện được miễn trách theo CISG
Theo quy định tại Điều 79.1 CISG 40 để một bên sẽ miễn trừ trách nhiệm, giải
phóng bên vi phạm hợp đồng khỏi nghĩa vụ hợp đồng do sự vi phạm cần phải có các
điều kiện sau:
1. Bên vi phạm phải chứng minh được có tồn tại trở ngại: Phải phát sinh sự kiện
gây cản trở cho việc thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng đã thỏa thuận như đã
được dự kiến trong điều kiện thông thường.
2. Nằm ngoài sự kiểm soát: Trở ngại này phải phát sinh từ phía bên ngoài và bên
không thực hiện nghĩa vụ không thể giải quyết, tác động, thay đổi, kiểm soát
được trở ngại. Nếu như trở ngại xuất phát từ nội bộ từ bên vi phạm sẽ không
được miễn trừ.
3. Bên còn lại không thể dự đoán lúc ký kết hợp đồng; hoặc không thể tránh được

hoặc khắc phục được hậu quả của nó. Khi có sự kiện bất khả kháng việc chứng minh
trở ngại đó là không lường trước được sẽ là một vấn đề khó khăn cho các bên, cho dù

kháng.
Theo CISG quy định Bên không thực hiện nghĩa vụ và bên thứ 3 của hợp đồng
phải đáp ứng các điều kiện sau:42
+ Bên thứ 3: Độc lập về kinh tế, chức năng, cơ cấu tổ chức, thuộc phạm vi kiểm
soát và trách nhiệm của một bên trong HĐ (như nhà thầu phụ, công ty vận
chuyển..). Đồng thời bên có quyền cũng đã chấp nhận hoặc đã biết đối với việc
thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ của bên thứ 3.
+ Nhà cung cấp hay nhân viên là những đối tượng độc lập hay các cá nhân độc
lập nhưng đây không được xem là bên thứ 3.
Điều 79.2 Làm tăng trách nhiệm của người có nghĩa vụ đối với bên thứ 3:
Bên có nghĩa vụ chỉ được miễn trách nếu thỏa Điều 79.1 nghĩa là bên thứ 3 và
bên có nghĩa vụ phải thỏa mãn các điều kiện miễn trách. Ngoài ra bên thứ 3
cũng sẽ được miễn trách nếu áp dụng các quy định của khoản này đối với họ.43
6. Thời hạn được miễn trách khi thỏa mãn các điều kiện khác chỉ có hiệu lực trong
thời ký tồn tại trở ngại44.
7. CISG qui định nếu bên không thực hiện nghĩa vụ đã được miễn trách thì bên
còn lại vẫn thực hiện được các quyền khác của mình ngoài việc quyền yêu cầu
đòi bồi thường thiệt hại45, ví dụ như: được yêu cầu đòi tiền lãi phát sinh. Các
quyền còn lại bao gồm quyền để giảm giá (Điều 50), quyền bắt buộc thực hiện
(các Điều 46 và 62), quyền hủy hợp đồng (Điều 49 và 64) và quyền thu lãi tách
biệt với thiệt hại (Điều 78 ).

from such non-receipt
42
UNCITRAL Digest of Case Law on the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of
Goods, page 392
43

44


tượng thiên nhiên, khi mà công cụ lao động không thể sử dụng để gửi một thông báo
hợp lý cho bên có quyền.
Về Bên thứ 3 gặp sự kiện bất khả kháng
CISG: bên vi phạm phải chứng minh bên thứ 3 được miễn trách theo cùng tiêu
chuẩn và điều kiện để được áp dụng điều khoản miễn trách.
Luật Việt Nam: chưa đề cập đến bên thứ 3
Bảo vệ bên bị vi phạm
46

Điều 295.2 Luật Thương mại 2005. Khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên vi phạm hợp đồng phải
thông báo ngay cho bên kia biết; nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì
phải bồi thường thiệt hại.
47
Điều 295.1 Luật Thương mại 2005. Bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về
trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra.

22


CISG: không bảo vệ bên vi phạm tránh khỏi việc hủy bỏ hoặc kết thúc hợp đồng
bởi bên bị vi phạm 79.5
Việt Nam: thừa nhận, cho phép thỏa thuận kéo dài thời hạn thực hiện hợp đồng
trong thời hạn hợp lý theo Điều 296.1 Luật Thương mại 200548
Về phạm vi miễn trách và các chế tài cụ thể (Mục IV).
III.3 Bất khả kháng và điều khoản khó khăn (Hardship).
Bất khả kháng và các điều kiện áp dụng để được miễn trừ trong hầu hết các qui
định của pháp luật đều có nét tương đồng với CISG, ngay trong Bộ nguyên tắc
UNIDROIT về Hợp đồng thương mại quốc tế 2014 tại điều 7.1.7 cũng quy định các
điều kiện tương tự như CISG. Trong lĩnh vực hợp đồng, quan hệ hợp đồng không phải
là bất biến mà “ngày càng mang tính chất của một quá trình” và “hàm chứa nhiều loại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status