BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
KHOA LUẬT
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
GIẢI THÍCH HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƢỚC
VIENNA 1980
Ngành: LUẬT KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
KHOA LUẬT
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
GIẢI THÍCH HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƢỚC
VIENNA 1980
Ngành: LUẬT KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn : Th.S NGUYỄN CHÍ THẮNG
Sinh viên thực hiện
: MAI NGỌC TÙNG
MSSV: 1511271494
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: MAI NGỌC TÙNG, MSSV: 15DLK15.
Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khoá luận tốt nghiệp
này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và
theo đúng qui định); Nội dung trong khoá luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn
tài liệu khác.
Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường và
pháp luật.
Sinh viên
(ký tên, ghi đầy đủ họ tên)
MAI NGỌC TÙNG
DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
STT
TÊN VIẾT TẮT
TÊN TIẾNG ANH
TÊN TIẾNG VIỆT
1
BLDS
2
CISG
Bộ nguyên tắc về hợp
International
Commercial Contracts.
đồng thương mại quốc tế
năm 1994.
Bộ luật Dân sự.
Convention on
Contracts for the
International Sale of
Goods.
Công ước Vienna 1980
của Liên Hợp quốc về
hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế.
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIẢI THÍCH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG
HÓA QUỐC TẾ THEO CÔNG ƢỚC VIENNA 1980 ...........................................1
1.1
Tổng quan về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và phạm vi
áp dụng của Công ƣớc Vienna 1980......................................................................1
1.1.1
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI THÍCH HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG
HÓA QUỐC TẾ THEO CÔNG ƢỚC VIENNA 1980 VÀ LIÊN HỆ PHÁP
LUẬT VIỆT NAM....................................................................................................36
2.1 Căn cứ áp dụng để giải thích hợp đồng theo quy định Công ƣớc Vienna
1980 .......................................................................................................................36
2.1.1 Căn cứ vào ý định của các bên hoặc cách hiểu của một người thông
thường ................................................................................................................36
2.1.2
Căn cứ vào thói quen và tập quán của các bên ....................................50
2.2
Đánh giá các quy định giải thích hợp đồng của Công ƣớc Vienna 1980 ..
.......................................................................................................................55
2.3
Giải thích hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị ......57
2.3.1
Giải thích hợp đồng theo pháp luật Việt Nam ......................................57
2.3.2
Một số kiến nghị cho các quy định giải thích hợp đồng theo pháp luật
gây hiểu nhầm.
c) Các Công ước này thiên hướng về thương mại giữa các quốc gia cùng chung
biên giới hơn là thương mại quốc tế liên quan đến vận tải biển.
d) Quy mô áp dụng của chúng quá rộng, vì chúng được áp dụng bất kể có xung
đột pháp luật hay không.
Năm 1968, Ủy ban về Luật Thương mại của Liên Hợp quốc (viết tắt là
Uncitral) đã khởi xướng soạn thảo một Công ước mới nhằm thống nhất pháp luật áp
dụng cho HĐMBHHQT dựa trên cơ sở của hai Công ước La Haye 1964. Ngày 11
tháng 04 năm 1980, với sự tham gia của 60 quốc gia và 8 tổ chức quốc tế, Hội nghị
Ủy ban của Liên Hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế đã thông qua công ước với
tên đầy đủ là: Công ước Vienna 1980 của Liên Hợp quốc về hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế (tiếng Anh là Convention on Contracts for the International Sale
of Goods – viết tắt là CISG). Công ước trở thành một khung pháp lý chung, áp dụng
đối với nhiều quốc gia với trình độ phát triển thương mại khác nhau, với hệ thống
pháp luật khác nhau, hạn chế sự xung đột pháp luật, giảm phát sinh các cuộc tranh
chấp thương mại và tiến tới thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển trên thế giới.
Ngày 18/12/2015, Việt Nam đã chính thức phê duyệt việc gia nhập CISG để
trở thành viên thứ 84 của Công ước này và chính thức có hiệu lực áp dụng kể từ
ngày 01/01/2017. Trong những năm gần đây, việc áp dụng Công ước đã có sự tham
gia đông đảo của các doanh nghiệp Việt Nam, xong số lượng các bài viết học thuật
cũng như các vụ tranh chấp được xét xử vẫn còn thấp. Thực tế, các bài viết nghiên
cứu về đề tài CISG đều đem lại giá trị thiết thực cao, tuy nhiên, nhiều đề tài chưa
được giới nghiên cứu quan tâm đúng mức, đặc biệt là các đề tài liên quan đến chế
định giải thích hợp đồng. Trong khi đó, chế định giải thích hợp đồng của CISG luôn
được các chủ thể có thẩm quyền áp dụng để giải thích các tuyên bố, hành vi và các
điều khoản trong hợp đồng. Từ đó, giải thích hợp đồng tạo cơ sở cho việc áp dụng
các quy định khác của Công ước vào trong hợp đồng một cách phù hợp nhất theo
quy định. Vì vậy, đây là những lý do em lựa chọn “Giải thích hợp đồng theo Công
chúng để tìm kiếm lý luận hợp lý nhất cho đề tài.
b) So sánh luật giữa CISG với pháp luật Việt Nam và các đạo luật khác để phân
tích ra sự giống và khác nhau giữa các chế định về giải thích hợp đồng. Bình
luận các án lệ và các vụ kiện để làm cơ sở thực tiễn và phong phú hơn cho
việc nghiên cứu đề tài này.
5.
Kết cấu của khóa luận
Khóa luận tốt nghiệp về đề tài “Giải thích hợp đồng theo Công ƣớc Vienna
1980” bao gồm hai chương chính:
Chương 1: Tổng quan về hợp đồng và giải thích hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế theo Công ước Vienna 1980.
Chương 2: Thực tiễn giải thích hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công
ước Vienna 1980 và liên hệ pháp luật Việt Nam.
NỘI DUNG CHÍNH ĐỀ TÀI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIẢI THÍCH HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA QUỐC TẾ THEO CÔNG ƢỚC VIENNA 1980
1.1 Tổng quan về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và phạm vi áp
dụng của Công ƣớc Vienna 1980
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 84 của CISG nên
HĐMBHHQT là đối tượng phải chịu sự điều chỉnh bởi nhiều đạo luật khác nhau
như: CISG, LTM 2005, BLDS 2015.1 Cụ thể, các khái niệm về HĐMBHHQT có
sự khác nhau trong quy định giữa pháp luật Việt Nam và CISG, điều này gây khó
khăn cho việc áp dụng luật nói chung cũng như việc tiến hành thực hiện việc giải
thích hợp đồng nói riêng. Rõ ràng, về “tính quốc tế”, pháp luật Việt Nam xác định
dựa trên tiêu chí quốc tịch, địa điểm giao dịch hoặc đối tượng của hợp đồng để phân
bán tài sản để định nghĩa. Theo quy định tại Điều 430 BLDS 2015 thì: “Hợp đồng
mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài
sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho
bên bán”.3 Bên cạnh đó, LTM 2005 là đạo luật chuyên ngành quy định các quy
phạm điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực hợp đồng mua bán hàng hóa và dịch vụ
thương mại. Theo đó, căn cứ vào Khoản 8 Điều 3 LTM 2005 thì: “Mua bán hàng
hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền
sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán
cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”.4 Tóm lại, khi
kết hợp các khái niệm về hợp đồng và mua bán hàng hóa của hai đạo luật BLDS
2015 và LTM 2005, ta có thể định nghĩa rằng: Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự
thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở
hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho
bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.
Hoạt động thương mại quốc tế diễn ra trong nhiều lĩnh vực với nhiều đối
tượng khác nhau như: hàng hóa, dịch vụ, vốn, quyền sở hữu trí tuệ, đầu tư,... Trong
đó, hàng hóa là đối tượng có lượng giao dịch lớn nhất trên thế giới và lịch sử hình
thành của hoạt động thương mại hàng hóa là rất sớm. Trong vị trí trung tâm của các
hoạt động thương mại quốc tế, HĐMBHHQT luôn là hình thức giao dịch phổ biến
nhất. Khoa học pháp lý hiện nay chưa có một khái niệm chính thức về
HĐMBHHQT, hay nói một cách khác đó là chưa có quy định để thống nhất “tính
quốc tế” của loại hợp đồng này trên toàn thế giới.5 Điều này gây khó khăn cho việc
áp dụng chế định giải thích hợp đồng sao cho phù hợp với các quy định của pháp
luật và việc hiểu biết về các phong tục, tập quán giữa các quốc gia với nhau.
Nguyễn Ngọc Khánh (2006), “Hợp đồng: thuật ngữ và khái niệm”, Nhà nước và pháp luật, trang
38 – 43.
3
Quốc hội (2016), Bộ luật Dân sự 2015, Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.
4
thực tiễn áp dụng.
Hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có một khái niệm hay định nghĩa cụ thể về
HĐMBHHQT được quy định. Việc xác định rõ ràng khái niệm HĐMBHHQT rất
quan trọng, bởi lẽ nó ảnh hưởng đến việc xác định xem nguồn luật nào điều chỉnh
các quan hệ phát sinh từ hợp đồng, đồng thời dựa các quy định của pháp luật để làm
căn cứ cho việc thực hiện giải thích sao cho phù hợp với phong tục, tập quán và ý
định của các bên trong hợp đồng. Tuy nhiên, về mặt bản chất, HĐMBHHQT trước
hết mang trong mình đầy đủ các chức năng của một bản hợp đồng mua bán hàng
hóa, ngoài ra và quan trọng nhất đó là “tính quốc tế” của hợp đồng phải được thể
Bộ Thương nghiệp (1991), Quy chế tạm thời hướng dẫn việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa
ngoại thương, Nguồn: dowload
ngày 15/11/2018.
7
Quốc hội (2017), Luật Thương mại 2005, Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.
3
6
hiện. Đối với việc xác định “tính quốc tế” của HĐMBHHQT, căn cứ theo BLDS
2015 Khoản 2 Điều 663 quy định:
“Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các
trường hợp sau đây:
a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;
b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng xác
lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;
c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối
tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài”.8
Như vậy, theo pháp luật dân sự Việt Nam thì “tính quốc tế” được xác định qua
ba tiêu chí là quốc tịch, địa điểm của giao dịch và đối tượng của hợp đồng, chỉ cần
thỏa mãn một trong ba tiêu chí trên thì hợp đồng mang tính chất quốc tế. Điều này
quốc gia khác nhau, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu
hàng hóa cho bên mua và thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán,
nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận. Khái niệm này được thống
nhất sử dụng để định nghĩa cho HĐMBHHQT và phù hợp với các quy định của
CISG, nhất là đối với chế định giải thích hợp đồng của Công ước này. Do đó, việc
khái niệm như vậy tránh những rắc rối, khó khăn có thể sẽ phát sinh khi có sự xung
đột trong quy định giữa pháp luật Việt Nam và Công ước.
1.1.1.2
Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
HĐMBHHQT trước hết mang trong mình các đặc trưng của một hợp đồng nói
chung, cụ thể được nói ở đây là hợp đồng mua bán hàng hóa. Dựa vào khái niệm
hợp đồng được quy định tại Điều 385 của BLDS 2015 thì có thể thấy được bản chất
của hợp đồng là có sự thỏa thuận về mặt ý chí giữa các chủ thể tham gia giao kết
hợp đồng. Hợp đồng suy cho cùng cũng là một hình thức của giao dịch dân sự,
trong khi đó các vấn đề về dân sự muốn được hình thành và bảo đảm thực hiện tốt
đều phải dựa vào sự thỏa thuận giữa các bên là cốt yếu. Theo đó, HĐMBHHQT bao
gồm các đặc điểm cơ bản cần thiết để làm nên một bản hợp đồng mua bán hàng hóa
như: chủ thể, nội dung, đối tượng, đồng tiền thanh toán hay nguồn luật áp dụng cho
hợp đồng,…
Các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bao gồm:
Về mặt chủ thể, tùy theo nguồn luật được các bên tham gia giao kết hợp đồng
áp dụng mà việc xác định chủ thể của HĐMBHHQT có thể sẽ khác nhau. Nếu lựa
chọn pháp luật Việt Nam thì chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa là thương
nhân, nếu lựa chọn CISG thì chủ thể là các bên có trụ sở thương mại đặt tại các
quốc gia khác nhau. Khoản 1 Điều 6 của LTM 2005 quy định: “Thương nhân bao
gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một
cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”.11 Theo đó, thương nhân
được định nghĩa theo hình thức liệt kê bao gồm cá nhân và pháp nhân, hoạt động
luật áp dụng cho hợp đồng giao dịch của mình theo thỏa thuận. Như vậy, tùy từng
nguồn pháp luật được các bên lựa chọn áp dụng mà HĐMBHHQT sẽ có những cách
thức xác định chủ thể khác nhau. Việc xác định chủ thể của HĐMBHHQT hết sức
quan trọng, bởi lẽ, nó liên quan chặt chẽ đến việc lựa chọn pháp luật áp dụng; đến
việc hiểu biết phong tục, tập quán và ý định giao kết của các bên.
Về mặt nội dung, theo quy định tại Khoản 8 Điều 3 LTM 2005 thì nội dung
của hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm tổng thể các quyền và nghĩa vụ của các
thương nhân tham gia giao kết hợp đồng. Cụ thể, “Bên bán có nghĩa vụ giao hàng,
Nhiều tác giả (2017), Tập văn bản pháp luật môn Luật Thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Lao
động, Hà Nội.
13
Quốc hội (2016), Bộ luật Dân sự 2015, Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.
14
Nguyễn Minh Hằng (2018), Khác biệt giữa CISG và Luật Thương mại, Nguồn:
dowload
ngày: 19/11/2018.
6
12
chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa
vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa
thuận”.15 Ở đây có sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên, quyền của bên
bán sẽ được bảo đảm nếu bên mua thực hiện nghĩa vụ của mình (thanh toán, nhận
hàng) và ngược lại. Do đó, trong hợp đồng có sự giao tiếp về mặt ý chí giữa các
thương nhân trong quá trình tham gia thỏa thuận, đàm phán để hình thành một ý chí
chung khi hợp đồng được giao kết và việc còn lại là các bên phải tuân thủ theo ý chí
chung đã được thống nhất đó. Lúc này, quyền và lợi ích mà các bên mong muốn sẽ
được thực hiện và hợp đồng đảm bảo trở thành luật chung bảo đảm việc thực hiện
đó.
phép giao dịch đối với cả bên mua và bên bán tại nước sở tại.17 Theo Khoản 2 Điều
3 LTM 2005 thì hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình
thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất. Hay, theo quy định tại Điều 2
CISG thì không áp dụng điều chỉnh đối với một số loại hàng hóa như: hàng hóa
không có sự mua bán chuyên nghiệp, hàng hóa bán đấu giá, cổ phiếu, cổ phần,
chứng khoán đầu tư,…18
Về đồng tiền thanh toán, đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa nội địa thì
pháp luật nội địa của các quốc gia trên thế giới thường có quy định bắt buộc các
giao dịch này phải sử dụng nội tệ để thanh toán. Mục đích là để bảo vệ giá trị của
đồng tiền quốc gia, tránh các hiện tượng như lạm phát và mất giá đồng tiền. Theo
Pháp lệnh ngoại hối Việt Nam số 28/2005/PL-UBTVQH11 thì các giao dịch phát
sinh trên lãnh thổ Việt Nam phải sử dụng Đồng Việt Nam để thanh toán.19 Tuy
nhiên, “tính quốc tế” đặc thù của HĐMBHHQT đã làm các bên khi tiến hành giao
dịch, có ít nhất một bên của hợp đồng thì đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với
họ; thậm chí, đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ đối với cả hai bên tham gia hợp
đồng khi họ lựa chọn ngoại tệ của nước thứ ba làm đồng tiền thanh toán cho giao
dịch của mình.
Về hình thức, pháp luật được các bên lựa chọn áp dụng để điều chỉnh cho hợp
đồng của mình khác nhau thì sẽ làm cho quy định về hình thức của HĐMBHHQT
khác nhau. Khoản 2 Điều 27 LTM 2005 quy định: “Mua bán hàng hóa quốc tế phải
được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá
trị pháp lý tương đương”.20 Ngoài ra, căn cứ theo Khoản 15 Điều 3 LTM 2005 thì:
“Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông
điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định”.21 Việc cụ thể hóa hình thức của
hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của LTM 2005 nhằm bảo vệ an toàn
pháp lý, các chứng cứ, các điều khoản và nội dung của hợp đồng. CISG không quy
định cụ thể hình thức của HĐMBHHQT, hợp đồng không bắt buộc phải được ký
kết bằng văn bản như quy định của pháp luật Việt Nam. Hình thức này làm cho hợp
17
sao, tòa án nước nào có thẩm quyền tiến hành tố tụng,… Trên thực tế, các vụ tranh
chấp thường kéo dài, gây mệt mỏi và tốn kém cho cả bên mua và bên bán, gây mất
uy tín trong kinh doanh, thậm chí còn ảnh hưởng đến những chủ thể kinh doanh liên
quan khác do hậu quả từ tranh chấp. Vì vậy, trong quá trình giao kết hợp đồng, các
bên cần phải thỏa thuận rõ điều khoản chọn nguồn luật áp dụng, nên lựa chọn nguồn
luật sao cho phù hợp với bản hợp đồng của mình. Đây là quyền tự do ý chí, tự do
thỏa thuận tối cơ bản trong pháp luật hợp đồng mà các thương nhân cần phải chú ý
tuân thủ. Có nhiều nguồn luật khác nhau được áp dụng cho HĐMBHHQT như:
a) Điều ước quốc tế.
b) Pháp luật quốc gia.
c) Án lệ hay tiền lệ pháp.
d) Tập quán quốc tế.
Như vậy, tự do ý chí, tự do thỏa thuận là quyền quan trọng hơn cả trong việc
thỏa thuận lựa chọn nguồn luật áp dụng khi các bên tham gia giao kết
HĐMBHHQT và đối với việc tiến hành giải quyết tranh chấp của Tòa án hoặc
Nguyễn Minh Hằng (2018), Khác biệt giữa CISG và Luật Thương mại, Nguồn:
dowload
ngày: 19/11/2018.
9
22
Trọng tài. Thỏa thuận là nguyên tắc hết sức quan trọng trong thương mại quốc tế và
cần phải được các chủ thể tôn trọng trên hết.
1.1.2 Phạm vi áp dụng của Công ước Vienna 1980
Các giao dịch thương mại quốc tế diễn ra hàng ngày với số lượng rất lớn, các
quốc gia trên thế giới đều mong muốn thúc đẩy thương mại phát triển. Đi cùng với
sự phát triển của thương mại là các ngành khác có liên quan như: sản xuất, dịch vụ,
vận tải, khoa học – kỹ thuật,... đều có những tiến bộ vượt bậc. Số lượng các giao
thành viên Công ước này.”24
Chiếu theo quy định này, CISG chỉ áp dụng đối với các bên tham gia giao kết
hợp đồng có trụ sở thương mại (hay địa điểm kinh doanh) đặt tại các quốc gia khác
nhau, Công ước không quan tâm đến các tiêu chí quốc tịch, vị trí giao kết hợp đồng
và địa điểm thực hiện hợp đồng để làm cơ sở cho việc xác định “tính quốc tế” của
HĐMBHHQT. Để khẳng định điều này, Điều 1.3 CISG đã nói rõ ràng: “Quốc tịch
của các bên, quy chế dân sự hoặc thương mại của họ, tính chất dân sự hay thương
mại của hợp đồng không được xét tới khi xác định phạm vi áp dụng của Công ước
này”.25 Dựa vào đó, Công ước phân làm ra hai trường hợp quy định về phạm vi áp
dụng, bao gồm:
Áp dụng trực tiếp, tất cả các bên tham gia giao kết hợp đồng có trụ sở thương
mại đặt tại các quốc gia là thành viên của CISG, đây là trường hợp được áp dụng
phổ biến nhất. Cần phải lưu ý, quy định tại Điều 1.2 rằng: “Sự kiện các bên có trụ
sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không
xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp
đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên”.26 Điều này được
hiểu rằng, trong một trường hợp, các bên có trụ sở trong cùng một quốc gia nhưng
một bên tham gia hợp đồng lại đóng vai trò là đại lý cho một chủ thể ở nước ngoài
không được tiết lộ; như vậy, các bên được hiểu rằng dường như trụ sở thương mại
của họ được đặt cùng một quốc gia nên hợp đồng đã được giao kết không bị chi
phối bởi CISG. Ngoài ra, để bổ sung cho việc xác định trụ sở thương mại, Điều 10
CISG có quy định trường hợp một bên có nhiều hơn một trụ sở trở lên thì trụ sở nào
có mối liên hệ chặt chẽ nhất đối với hợp đồng và với việc thực hiện hợp đồng thì nó
được coi là trụ sở thương mại xác định với hợp đồng. Trường hợp mà chủ thể không
có trụ sở thương mại thì sẽ sử dụng nơi cư trú thường xuyên để làm căn cứ.27 Các
quy định này sẽ bổ toàn chỗ trống pháp lý cho quy định tại Điều 1.1, đồng thời mở
rộng phạm vi áp dụng hơn cho Công ước. Tuy nhiên, có những trường hợp mặc dù
Nhiều tác giả (2017), Tập văn bản pháp luật môn Luật Thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Lao
động, Hà Nội.
25
thổ thuộc phạm vi áp dụng của CISG, trừ khi họ đã bảo lưu mở rộng CISG cho một
hay nhiều đơn vị lãnh thổ còn lại.
Áp dụng gián tiếp, một bên tham gia hợp đồng có trụ sở thương mại đặt tại
quốc gia là thành viên của CISG, trong khi đó bên còn lại thì không, Điểm b mở
rộng phạm vi áp dụng so với Điểm a. Khi đó, sự xung đột các quy phạm Tư pháp
quốc tế mà dẫn chiếu đến pháp luật của một quốc gia là thành viên của CISG thì
Công ước có thể trở thành nguồn luật điều chỉnh cho toàn bộ hợp đồng đã được giao
kết.29 Lúc này, khi xảy ra tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng, một bên có trụ sở
thương mại từ một quốc gia là thành viên của CISG, bên còn lại thì không có trụ sở
thương mại từ một quốc gia thành viên, để giải quyết vụ việc thì Tòa án hoặc Trọng
tài sẽ không căn cứ vào pháp luật nội địa của các bên tham gia hợp đồng mà sẽ căn
cứ vào CISG để giải quyết tranh chấp. Hầu hết, nhưng không phải tất cả các quốc
Nhiều tác giả (2017), Tập văn bản pháp luật môn Luật Thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Lao
động, Hà Nội.
29
CISGVN (2010), Lợi ích khi Việt Nam gia nhập CISG, Nguồn:
dowload
ngày: 21/11/2018.
12
28
gia ký kết đều bị rằng buộc bởi Điểm b Điều 1.1, Điều 95 quy định: một quốc gia có
thể tuyên bố rằng họ không bị ràng buộc điều này. Điều 1.1 có những quy tắc cơ
bản sau:
Quy tắc một, một bên có trụ sở thương mại đặt tại quốc gia là thành viên của
Công ước, một bên không bị ràng buộc bởi điều này hoặc không là thành viên của
Công ước.
Quy tắc hai, hai điều kiện tiên quyết để áp dụng Điểm b Điều 1.1 là: các bên
có địa điểm kinh doanh phải ở các quốc gia khác nhau và luật được viện dẫn theo
vậy, để tránh gây tranh cãi về Điểm b Điều 1.1 CISG, Đức đã bằng quyền tài phán
của mình để tuyên bố rằng: một nước đã tuyên bố theo Điều 95 thì không được coi
là một quốc gia là thành viên của Công ước.
Các bên tham gia giao kết hợp đồng không có trụ sở thương mại đặt tại các
quốc gia là thành viên của CISG nhưng họ vẫn có thể lựa chọn áp dụng pháp luật
của một nước thứ ba là thành viên Công ước. Nếu lựa chọn áp dụng theo trường
hợp này, các bên tham gia hợp đồng cần phải nêu rõ ràng trong điều khoản lựa chọn
luật để làm căn cứ, cũng như làm giảm bớt khó khăn trong việc giải quyết tranh
chấp sau này nếu nó có thể xảy ra. Mặt khác, CISG sẽ không được áp dụng nếu các
bên đã loại trừ áp dụng Công ước hoặc các điều khoản của Công ước ra khỏi hợp
đồng theo quy định tại Điều 6. Tuy nhiên, CISG vẫn có thể được áp dụng theo luật
hiện hành khi các bên lựa chọn biến CISG thành một phần trong hợp đồng của họ,
tức là Công ước hoặc các điều khoản của Công ước sẽ trở thành điều khoản trong
HĐMBHHQT.
1.1.3 Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định Công
ước Vienna 1980
Giao kết hợp đồng là một bước quan trọng để các bên tiến hành thống nhất với
nhau những ý định đã được thỏa thuận bằng các điều khoản rõ ràng nhất, đồng thời
nó là cơ sở cho việc hình thành một bản hợp đồng nói chung. Khi hợp đồng được
hình thành, nội dung của nó trở thành luật chung giữa các bên trong hợp đồng và họ
cần phải tuân thủ nó. Do đó, giao kết hợp đồng là một nội dung quan trọng cần
được xem xét khi nghiên cứu về pháp luật hợp đồng nói chung và HĐMBHHQT
nói riêng. Dựa theo Điều 1.1 CISG thì ta có thể hiểu rằng: giao kết HĐMBHHQT là
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại đặt tại các
quốc gia khác nhau. Trên thực tế, giao kết hợp đồng được thực hiện dưới hai hình
thức:
Giao kết trực tiếp: Trước khi tiến tới giao kết hợp đồng, các bên chủ thể trong
hợp đồng tiến hành trực tiếp gặp mặt nhau (hoặc ít nhất cử người đại diện của họ)
31
một ý chí thiện chí và trung thực. Bởi lẽ, nếu không có thiện chí và trung thực, quan
hệ hợp đồng phát sinh giữa các bên sẽ trở thành ý chí một chiều, cưỡng bức về mặt
tinh thần, có sự lừa dối; đồng thời nguyên tắc tự do ý chí, tự nguyện tối cơ bản cũng
không được bảo toàn.
Luật Hoàng Phi (2018), Quy định về trình tự giao kết hợp đồng dân sự, Nguồn:
dowload ngày
23/11/2018.
15
32