TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA: 2009 - 2013
Đề Tài
CHẾ ĐỊNH MIỄN TRÁCH NHIỆM TRONG
HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN
HỢP QUỐC VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ LUẬT
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn:
Ths. Diệp Ngọc Dũng
Bộ môn Luật Thương mại
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Hoàng Nguyên
MSSV: 5095444
Lớp: Tư Pháp 2 Khoá 35
Cần Thơ, 5/2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
1.2.1 Các trường hợp miễn trách trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế ......21
1.2.1.1 Trường hợp theo quy định tại Khoản 1 Điều 79 Công ước của Liên hiệp
quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế ..................................................21
1.2.1.2 Trường hợp theo quy định tại Khoản 2 Điều 79 Công ước của Liên hiệp
quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế ..................................................28
1.2.1.3 Trường hợp miễn trách theo Điều 80 Công ước của Liên hiệp quốc về
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế ...............................................................31
1.2.1.4 Trường hợp miễn trách theo Khoản 5 Điều 79 Công ước của Liên hiệp
quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế ..................................................33
1.2.2 Những vấn đề liên quan đến điều kiện miễn trách theo Công ước của Liên
hiệp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế...............................................34
1.2.2.1 Vấn đề về hiệu lực áp dụng của các chế định miễn trách .....................34
1.2.2.2 Nghĩa vụ thông báo về trở ngại của bên vi phạm..................................35
1.3 Chế định miễn trách trong Luật Thương mại Việt Nam ................................37
1.3.1 Các trường hợp được miễn trách ..................................................................37
1.3.1.1 Xảy ra sự kiện bất khả kháng (Điểm b Khoản 1 Điều 294) ..................37
1.3.1.2 Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia (Điểm c
Khoản 1 Điều 294) ............................................................................................40
1.3.1.3 Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản
lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao
kết hợp đồng (Điểm d Khoản 1 Điều 294) ........................................................41
1.3.1.4 Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận (Điểm a
Khoản 1 Điều 294) ............................................................................................43
1.3.2 Những vấn đề liên quan đến điều kiện miễn trách theo quy định của Luật
Thương mại Việt Nam ...........................................................................................45
1.3.2.1 Nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách.................................45
1.3.2.2 Nghĩa vụ thông báo và xác nhận các trường hợp miễn trách ...............46
1.4 Những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định về miễn trách nhiệm
2.2.2.1 Những bất cập trong quy định về miễn trách liên quan đến sự kiện “bất
khả kháng” ........................................................................................................64
2.2.2.2 Chưa có quy định về trường hợp miễn trách do hành vi từ các bên .....66
2.2.2.3 Bất cập trong quy định về miễn trách do thực hiện quyết định của cơ
quan quản lý nhà nước ......................................................................................67
2.2.2.4 Những bất cập liên quan đến việc thông báo, xác nhận và phạm vi áp
dụng của các trường hợp miễn trách ................................................................68
2.3 Các giải pháp hoàn thiện việc áp dụng chế định miễn trách nhiệm trong
hoạt động mua bán hàng hoá .....................................................................................71
2.3.1 Giải pháp chung ............................................................................................71
2.3.2 Các giải pháp cụ thể .....................................................................................73
2.3.2.1 Đối với Công ước của Liên hiệp quốc về hoạt động mua bán hàng hoá
quốc tế................................................................................................................73
2.3.2.2 Đối với Luật Thương mại Việt Nam ......................................................75
KẾT LUẬN ..................................................................................................................79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Luận văn tốt nghiệp
Chế định miễn trách nhiệm trong hợp đồng
theo CISG và LTM
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
Mua bán hàng hoá hiện nay được xem như là một hoạt động thương mại diễn ra
vô cùng phổ biến với sự đa dạng về cách thức cũng như nội dung giao dịch. Mục đích
chung của mua bán hàng hoá là đều hướng đến những lợi ích từ việc trao đổi các giá
trị vật chất. Để cho một hoạt động mua bán hàng hoá diễn ra thành công thì cần thiết
phải có sự đồng thuận giữa các bên trong quá trình gặp gỡ, đàm phán và giao kết hợp
Trang 1
SVTH: Nguyễn Hoàng Nguyên
Luận văn tốt nghiệp
Chế định miễn trách nhiệm trong hợp đồng
theo CISG và LTM
tốc độ rất nhanh, do đó, nếu các nguồn luật trên không có được những quy định về
miễn trách phù hợp thì sẽ rất dễ dẫn đến sự chênh lệch về mặt lợi ích của các bên trong
hợp đồng. Do đó, người viết cho rằng nghiên cứu và hoàn thiện các quy định pháp luật
miễn trách trong hợp đồng mua bán hàng hoá hiện nay là điều cần thiết một mặt sẽ
giúp chúng ta có cách hiểu rõ hơn về hình thức cũng như nội dung của các các quy
định này, mặt khác góp phần tích cực vào việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của
các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá.
2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về chế định miễn trách trong pháp luật về mua bán hàng hoá, người
viết hướng đến việc làm rõ các vấn đề liên quan đến nội dung của các trường hợp miễn
trách, đồng thời cũng tìm hiểu một số khía cạnh về việc áp dụng các quy định này vào
thực tiễn hiện nay, và cùng với việc so sánh, đối chiếu giữa các nguồn luật khác nhau
nhằm bộc lộ những mặt đạt cũng như chưa đạt để hướng đến sự hoàn thiện chung cho
các quy định. Trên cơ sở đó, người viết chủ yếu lựa chọn hai nguồn luật cụ thể để
thuận tiện cho việc tìm hiểu, so sánh và đối chiếu, đó là chế định miễn trách theo Công
ước của Liên hiệp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế năm 1980 và Luật
Thương mại Việt Nam năm 2005.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài “Chế định miễn trách nhiệm trong hợp đồng theo Công ước của Liên
hiệp quốc về Hợp đồng thương mại quốc tế và Luật Thương mại Việt Nam” được thực
Để thực hiện việc nghiên cứu, người viết chủ yếu sử dụng các phương pháp
nghiên cứu nghiên cứu lý luận dựa trên sách vở, tài liệu, phương pháp phân tích luật
viết, phương pháp quy nạp và điển hình là phương pháp so sánh, đối chiếu. Bên cạnh
đó, để tìm hiểu thực tiễn áp dụng quy định pháp luật, người viết còn sử dụng các
phương pháp thống kê, tổng hợp, cùng với việc phân tích, đánh giá các số liệu thực tế
để làm rõ vấn đề.
5. Bố cục đề tài
Trên cơ sở những gì đã đề cập, người viết xin trình bày đề tài “Chế định miễn
trách nhiệm trong hợp đồng theo Công ước của Liên hiệp quốc về Hợp đồng thương
mại quốc tế và Luật Thương mại Việt Nam” với những nội dung chính như sau:
- Lời nói đầu.
- Chương 1: Quy định của pháp luật về trường hợp miễn trách theo Công ước
của Liên hiệp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và Luật Thương mại Việt
Nam. Ở chương này, bên cạnh việc xây dựng một nền tảng cơ sở lý luận về chế định
miễn trách thông qua việc tìm hiểu các vấn đề liên quan đến hợp đồng, vi phạm hợp
đồng, trách nhiệm hợp đồng và sự xuất hiện của chế định miễn trách, người viết tập
trung làm rõ ba vấn đề lớn. Đó là tìm hiểu quy định pháp luật về chế định miễn trách
nhiệm theo Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và
Luật Thương mại Việt Nam. Sau đó, trên cơ sở những gì đã tìm hiểu, người viết tiến
hành so sánh và đối chiếu các quy định giữa hai nguồn luật trên để tạo nên tảng cho
việc hoàn thiện các quy định này ở chương sau.
- Chương 2: Thực tiễn vận dụng chế định miễn trách nhiệm theo Công ước của
Liên hiệp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và Luật Thương mại Việt Nam
và những giải pháp có liên quan. Trong chương này, người viết chủ yếu tập trung phân
tích ba vấn đề cốt lõi. Trước tiên là tìm hiểu về thực tiễn vận dụng chế định miễn trách
nhiệm theo Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và
Luật Thương mại Việt Nam thông qua các số liệu thống kê và vụ án cụ thể. Từ những
thực tiễn đó cùng với sự lập luận của người viết, người viết đã nêu ra những vấn đề
còn tồn tại trong việc áp dụng chế định miễn trách theo Công ước của Liên hiệp quốc
về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và Luật Thương mại Việt Nam. Từ những tồn
Trang 4
SVTH: Nguyễn Hoàng Nguyên
Luận văn tốt nghiệp
Chế định miễn trách nhiệm trong hợp đồng
theo CISG và LTM
CHƯƠNG 1
MIỄN TRÁCH NHIỆM THEO CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ VÀ LUẬT THƯƠNG
MẠI VIỆT NAM
Quy định pháp luật về miễn trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hoá là
một dạng quy định được nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới áp dụng. Điều này được
thể hiện cụ thể bằng các quy phạm pháp luật trong Công ước của Liên hiệp quốc về
hợp đồng thương mại quốc tế năm 1980 (CISG) và Luật Thương mại Việt Nam năm
2005 (LTM).1 Nghiên cứu chế định miễn trách trong hợp đồng mua bán hàng hoá là
việc tìm hiểu những quy định pháp luật liên quan đến các trường hợp miễn trách và
điều kiện áp dụng các trường hợp đó. Tuy nhiên, việc nghiên cứu này sẽ trở nên thiếu
sót nếu như không có được một cái nhìn tổng quan đầy đủ về các vấn đề pháp lý liên
quan đến hợp đồng mua bán hàng hoá dưới vai trò là nền tảng của việc xây dựng và áp
dụng chế định miễn trách nhiệm hiện nay.
1.1 HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA, VI PHẠM HỢP ĐỒNG VÀ CHẾ
ĐỊNH MIỄN TRÁCH TRONG MUA BÁN HÀNG HÓA
1.1.1 Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hoá
Mua bán hàng hoá là một hoạt động diễn ra rất phổ biến trong đời sống xã hội
từ xưa đến nay. Hoạt động này xuất phát từ nhu cầu trao đổi những gì mình có với
những thứ mà người khác đang sở hữu nhằm hướng đến mục tiêu thoả mãn những nhu
đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua
và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán; nhận hàng và
chuyển sở hữu hàng hoá theo thoả thuận”.2 Như vậy, mua bán hàng hoá là hoạt động
được điều chỉnh bởi pháp luật trên cơ sở quyền của bên này sẽ tương ứng với nghĩa
vụ của bên kia và ngược lại. Dù được thể hiện dưới hình thức nào thì cũng dễ dàng
nhận thấy mua bán hàng hoá ít nhiều chịu sự ràng buộc bởi thoả thuận của các bên, kể
cả thoả thuận các vấn đề về quyền và nghĩa vụ.
Hoạt động mua bán hàng hoá giữa các bên luôn được lựa chọn thực hiện bằng
một công cụ nhất định, đó chính là hợp đồng. Khái niệm “hợp đồng” đã được nhiều
học giả trên thế giới nhắc đến từ rất lâu, điển hình là của một học giả người Pháp –
Pothier trong tác phẩm “Traité des obligations” năm 1476: “Hợp đồng là sự thoả
thuận theo đó hai hay chỉ một bên hứa, cam kết với người khác để chuyển giao một
vật, để làm một công việc hoặc không làm một công việc”.3 Trên thực tế, khái niệm
hợp đồng trên thế giới có nhiều điểm khác biệt về cách hiểu. Quan niệm của các luật
gia thuộc hệ thống Civil Law xem hợp đồng như là một kết quả phức hợp của ý chí tự
do cá nhân cùng nhiều nguyên tắc pháp lý cơ bản của luật tư. Theo Geoffrey Samuel
khái niệm hợp đồng của hệ thống Civil Law được tuân thủ bởi ba yếu tố, đó là: kết quả
chung của sự gặp gỡ ý chí giữa các bên, pháp luật do các bên lập ra để ràng buộc chính
các bên trong hợp đồng và tự do hợp đồng.4 Khác với các nước theo hệ thống Civil
Law, các nước theo hệ thống Common Law ban đầu xem hợp đồng là kết quả của các
cam kết đơn giản, thể hiện bằng hành vi pháp lý cụ thể của mỗi bên. Sau này, quan
điểm này có phần được nhìn nhận lại bằng việc xem hợp đồng là một nghĩa vụ được
tạo ra bởi sự gặp gỡ ý chí của các bên.5
Có thể nhìn nhận khái niệm “hợp đồng” có một phạm trù rất rộng. Một số nhà
nghiên cứu luật ở Việt Nam có cách hiểu về “hợp đồng” theo hai nghĩa: nghĩa khách
quan và nghĩa chủ quan. Theo nghĩa khách quan, “hợp đồng” là một bộ phận của chế
định nghĩa vụ trong Luật Dân sự, bao gồm các qui phạm pháp luật được qui định cụ
thể trong Bộ luật Dân sự nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội (chủ yếu là quan hệ tài
sản) trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau. Theo
2
mại. Theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 (BLDS): “Hợp đồng dân
sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự”.7 Định nghĩa này nhìn chung không có nhiều sự khác biệt so với định nghĩa
của các nước khác trên thế giới.
Mua bán hàng hoá dưới góc độ pháp lý được xem là một phần của các hoạt
động thuộc lĩnh vực dân sự. Do đó, hợp đồng mua bán hàng hoá cũng được xem là
một dạng của hợp đồng dân sự. Pháp luật thương mại cũng như pháp luật dân sự Việt
Nam không đưa ra định nghĩa cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hoá, tuy nhiên nếu
xem xét hàng hoá dưới vai trò là tài sản thì theo quy định của BLDS: “Hợp đồng mua
bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản
cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên
bán”.8 Định nghĩa về hợp đồng mua bán tài sản trên suy cho cùng là một sự cụ thể hoá
quy định về hợp đồng dân sự ở Điều 388 BLDS.
Từ những phân tích và viện dẫn như trên, người viết cho rằng hợp đồng mua
bán hàng hoá có thể được hiểu là sự thoả thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay
đổi hoặc chấm dứt các quyền và các nghĩa vụ giữa các chủ thể trong lĩnh vực mua bán
hàng hoá. Như vậy về mặt bản chất, cách hiểu này không có nhiều sự khác biệt đối với
định nghĩa về hợp đồng mua bán tài sản trong quy định của pháp luật dân sự Việt
Nam.
Đó là về pháp luật trong nước, nếu một hợp đồng được giao kết giữa một bên
trong nước và một bên nước ngoài hoặc gọi chung là có yếu tố nước ngoài thì chắc hẳn
bản thân hợp đồng này sẽ mang nhiều điểm nỗi bật hơn mà các nhà nghiên cứu pháp
luật thường gọi là hợp đồng thương mại quốc tế. Như vậy, trên cơ sở hợp đồng trong
nước thì hợp đồng thương mại quốc tế có thể được hiểu nôm na là sự thoả thuận giữa
các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và các nghĩa vụ giữa các
chủ thể trong lĩnh vực mua bán hàng hoá quốc tế.
6
Đinh Văn Thanh, Đặc trưng pháp lý của Hợp đồng dân sự, Tạp chí Luật học Số 2/1999, trang 19.
bản chất, hợp đồng được các bên xây dựng dựa trên những thoả thuận nhằm đảm bảo
sự cân bằng lợi ích cho nhau vì thế khi có sự vi phạm hợp đồng tức là đã có sự phát
sinh việc làm trái lại những gì các bên đã thoả thuận. Mặt khác, việc vi phạm hợp đồng
còn xuất phát từ việc vi phạm đến những quy định mà LTM đã đề ra và những quy
định này cũng xuất phát từ việc tạo nên hành lang pháp lý nhằm bảo vệ lợi ích của các
bên trong hợp đồng.
Theo quy định của LTM, vi phạm về nghĩa vụ trong hợp đồng là một trong
những căn cứ quan trọng hàng đầu để xác định có sự vi phạm hợp đồng hay không.
Nghĩa vụ trong hợp đồng được xem là những công việc mà các bên trong hợp đồng bị
bắt buộc phải thực hiện hoặc không được thực hiện theo như thoả thuận hoặc theo quy
định cua pháp luật. Vì vậy, những hành vi không bắt buộc phải thực hiện trong hợp
đồng thì không được xem là nghĩa vụ ràng buộc các bên. Do đó, khi xem xét một hành
vi là có vi phạm hợp đồng hay không thì việc đầu tiên các chủ thể có thẩm quyền phải
nhận ra đó là có sự vi phạm về nghĩa vụ trong hợp đồng hay không. Khi đã xác định
được có sự vi phạm về nghĩa vụ trong hợp đồng, thì việc cần thiết là phải xác định
được sự vi phạm đó có biểu hiện như thế nào. Sự vi phạm hợp đồng như đã đề cập có
thể được nhìn nhận thông qua một hoặc các biểu hiện sau:
- Sự vi phạm hợp đồng xuất phát từ việc không thực hiện nghĩa vụ trong hợp
đồng. Việc không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng được hiểu là không thực hiện bất
cứ nghĩa vụ nào liên quan đến hợp đồng. Theo cách hiểu này thì sự vi phạm hợp đồng
9
Khoản 12 Điều 3, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005.
GVHD: Ths. Diệp Ngọc Dũng
Trang 8
SVTH: Nguyễn Hoàng Nguyên
loại, đó là vi phạm cơ bản và vi phạm không cơ bản. Theo quy định của pháp luật
thương mại Việt Nam: “Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt
hại cho bên kia đến mức không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”.10 Theo
CISG: “Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra nếu sự vi phạm đó
làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất
cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu
được hậu quả đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ
cũng ở vào hoàn cảnh tương tự”.11 Như vậy từ hai cách hiểu trên cho thấy vi phạm cơ
10
Khoản 13 Điều 3, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005.
Nguyên bản tiếng Anh: “A breach of contract committed by one of the parties is undamental if it results in
such detriment to the other party as substantially to deprive him of what he is entitled to expect under the
contract, unless the party in breach did not foresee and a reasonable person of the same kind in the same
11
GVHD: Ths. Diệp Ngọc Dũng
Trang 9
SVTH: Nguyễn Hoàng Nguyên
Luận văn tốt nghiệp
Chế định miễn trách nhiệm trong hợp đồng
theo CISG và LTM
bản là loại vi phạm có gây ra hậu quả và hậu quả này làm cho mục đích mà các bên
chờ đợi khi ký kết hợp đồng không được thực hiện. Khác với vi phạm cơ bản, vi phạm
circumstances would not have foreseen such a result” (Article 25 CISG). Người viết sử dụng bản dịch của Nhóm
nghiên cứu về CISG thuộc Uỷ ban tư vấn chính sách Thương mại quốc tế - VCCI. Đây cũng chính là bản dịch
mà người viết sử dụng chủ yếu cho đề tài nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, có một số chỗ, người viết xin bảo lưu
bản dịch trên và thay vào đó là những thuật ngữ do người viết tự dịch và tự chịu trách nhiệm.
GVHD: Ths. Diệp Ngọc Dũng
Trang 10
SVTH: Nguyễn Hoàng Nguyên
Luận văn tốt nghiệp
Chế định miễn trách nhiệm trong hợp đồng
theo CISG và LTM
xác định được như thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút, khoản lợi đáng lẽ được hưởng
mà bên có quyền lợi bị vi phạm phải chịu…
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại vật chất
thực tế là điều kiện bắt buộc để xem xét trách nhiệm pháp lý đối với bên vi phạm. Về
phương diện triết học, hành vi vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại vật chất thực tế có mối
liên hệ nội tại, tất yếu; hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Bên
có hành vi vi phạm hợp đồng chỉ phải bồi thường thiệt hại khi thiệt hại xảy ra là kết
quả tất yếu của hành vi vi phạm hợp đồng. Trên thực tế, một hành vi vi phạm hợp
đồng có thể gây ra nhiều khoản thiệt hại và một khoản thiệt hại cũng có thể được sinh
ra do nhiều hành vi vi phạm hợp đồng. Nhiều trường hợp việc xác định chính xác mối
quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại vật chất thực tế không
phải là một vấn đề dễ dàng nếu chỉ dựa vào sự suy đoán chủ quan.
- Lỗi của một bên trong hợp đồng là căn cứ bắt buộc để bên đó chịu trách
SVTH: Nguyễn Hoàng Nguyên
Luận văn tốt nghiệp
Chế định miễn trách nhiệm trong hợp đồng
theo CISG và LTM
định do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận trên cơ sở pháp luật. Theo
LTM, chế tài phạt chỉ được áp dụng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận về việc áp
dụng chế tài này. Mức tiền phạt vi phạm hợp đồng bị giới hạn bởi pháp luật (các bên
có quyền thỏa thuận về mức độ phạt nhưng không được vượt quá mức phạt do pháp
luật quy định). Theo LTM, mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mua bán
hàng hóa hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do ác bên thỏa thuận trong hợp
đồng nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.
- Thứ ba, hình thức bồi thường thiệt hại.14 Khác với phạt vi phạm hợp đồng,
bồi thường thiệt hại là hình thức chế tài được áp dụng nhằm khôi phục, bù đắp
những lợi ích vật chất bị mất của bên bị vi phạm hợp đồng mua bán. Để hình thức
trách nhiệm này được thực hiện, bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn
thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị
vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm hợp đồng.
- Thứ tư, hình thức tạm ngừng, đình chỉ hoặc huỷ bỏ hợp đồng.15 Tạm ngừng
thực hiện hợp đồng mua bán là hình thức chế tài, theo đó một bên tạm thời không
thực hiện nghĩa vụ hợp đồng mua bán. Đình chỉ thực hiện hợp đồng mua bán là hình
thức chế tài, theo đó một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi rơi vào
những trường hợp luật định. Khi hợp đồng mua bán bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng
chấm dứt hiệu lực từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ. Hủy bỏ hợp
đồng mua bán là hình thức chế tài, theo đó một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp
đồng và làm cho hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết.
- Thứ năm, các hình thức chế tài khác do các bên thoả thuận.16 Một trong số
áp dụng hình thức buộc bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng thì không thể áp dung
thêm hình thức huỷ bỏ hay đình chỉ việc thực hiện hợp đồng cùng lúc được.
Vi phạm hợp đồng và vấn đề trách nhiệm do sự vi phạm hợp đồng đó luôn có
một mối quan hệ mật thiết với nhau. Có thể nói, chính sự vi phạm hợp đồng là cơ sở
để các bên áp dụng việc quy kết trách nhiệm cho nhau, hay việc quy định về trách
nhiệm khi có sự vi phạm hợp đồng là nhằm đảm bảo cho việc hạn chế xảy ra vi phạm
và hướng đến việc cân bằng lợi ích của các bên trong hợp đồng. Tuy nhiên không phải
mọi sự vi phạm hợp đồng đều đặt ra trách nhiệm pháp lý đối với bên vi phạm, mà có
những vi phạm dù xảy ra với mức độ hậu quả rất nghiêm trọng nhưng bên vi phạm vẫn
không chịu bất cứ trách nhiệm pháp lý nào. Một trong số những điều kiện để không
đặt ra trách nhiệm pháp lý đối với bên vi phạm chính là việc bên vi phạm rơi vào các
trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định pháp luật.
Trong phạm vi nghiên cứu, người viết chỉ tập trung phân tích quy định của
pháp luật về các trường hợp miễn trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hoá theo
CISG và LTM.
1.1.3 Chế định miễn trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hoá
1.1.3.1 Khái niệm và đặc điểm
Thuật ngữ “miễn trách nhiệm” (hay còn được gọi tắt là “miễn trách”) là một từ
Hán – Việt được ghép bởi hai từ là “miễn” (免) với ý nghĩa là loại bỏ, loại trừ, không
thừa nhận một vấn đề gì đó và “trách nhiệm” (責) với ý nghĩa là điều gì đó phải làm,
nghĩa vụ phải thực hiện một công việc gì đó.17 Hiểu một cách khái quát, “miễn trách
nhiệm” được hiểu là việc loại trừ trách nhiệm đối với một vấn đề nào đó. Để thống
nhất cho cách diễn đạt, người viết chỉ sử dụng thuật ngữ “miễn trách” thay vì “miễn
trách nhiệm” cho toàn bài viết.
Chế định miễn trách trong hợp đồng mua bán hàng hoá là chế định pháp lý mà
căn cứ vào đó bên vi phạm sẽ không bị ràng buộc bất cứ trách nhiệm nào từ sự vi
phạm của chính mình đối với bên còn lại trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá.
Như vậy nếu như trong hợp đồng mà một bên được miễn trách thì dù hậu quả có xảy
ra như thế nào thì bên vi phạm vẫn không phải gánh chịu bất cứ sự ràng buộc về mặt
cứ quan trọng để xem xét vấn đề trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Khi bên vi phạm
được áp dụng chế định miễn trách, tức là có thể đã có hành vi vi phạm xảy ra, có hậu
quả xuất hiện và cả mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm đó và hậu quả cũng
được xác định thì vẫn không đặt ra vấn đề trách nhiệm pháp lý nếu bên vi phạm
không có lỗi trong sự vi phạm này. Đơn cử một ví dụ, bên bán không giao hàng đúng
thời điểm cho bên mua trong hợp đồng mua bán vì trước thời điểm giao hàng mười
ngày đã xảy ra một trận động đất mạnh làm cản trở việc giao hàng. Không có lỗi đối
với hành vi vi phạm của bên vi phạm trong miễn trách được xem là việc bên vi phạm
không thể nhận thức được về sự vi phạm mà mình đã thực hiện, ý chí của bên vi
phạm cũng không hướng về việc vi phạm đó và do đó hậu quả xảy ra là nằm ngoài sự
kiểm soát của bên vi phạm. Nói cách khác, bên vi phạm đã trở rơi vào trạng thái bị
động và sự vi phạm xảy ra là điều tất yếu dù bên vi phạm không mong muốn.
Chế định miễn trách trong hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện thông
qua các đặc điểm chủ yếu như sau:
Thứ nhất, chế định miễn trách được mặc nhiên áp dụng trong hợp đồng mua
bán hàng hoá khi các bên không có thoả thuận gì khác. Khi một hợp đồng mua bán
hàng hoá được xác lập, một cách thông thường các bên không có đề cập gì đến chế
định miễn trách thì chế định này vẫn được mặc nhiên áp dụng khi xảy ra các trường
hợp có liên quan. Nói cách khác, trong hợp đồng mua bán hàng hoá các bên không
cần thiết phải có sự thoả thuận cụ thể bằng điều khoản về việc áp dụng chế định miễn
trách, vì về mặt nguyên tắc chế định này vẫn sẽ mặc nhiên được áp dụng theo quy
định. Pháp luật nhiều nước thường có quy định thêm về trình tự cũng như cách thức
áp dụng chế định miễn trách này như bên vi phạm phải thông báo cho bên bị vi phạm
GVHD: Ths. Diệp Ngọc Dũng
Trang 14
SVTH: Nguyễn Hoàng Nguyên
có hay không trường hợp được miễn trách của một bên. Cũng giống như các loại
tranh chấp khác, tranh chấp về việc áp dụng chế định miễn trách cũng được giải quyết
dưới nhiều hình thức luật định, theo pháp luật Việt Nam, các hình thức giải quyết
tranh chấp đối với các trường hợp này có thể là thương lượng, hoà giải hay giải quyết
tại Trọng tài hoặc Toà án.18 Về mặt nguyên tắc chung, các bên trong tranh chấp liên
quan đến việc áp dụng chế định miễn trách trong hợp đồng mua bán hàng hoá hoàn
toàn có quyền tự mình thương lượng để giải quyết, hay nhờ đến bên thứ ba để hoà
giải, và tất nhiên là có thể nhờ Toà án hoặc Trọng tài để phân xử. Pháp luật tôn trọng
sự thoả thuận của các bên về việc nhanh chóng tìm ra biện pháp giải quyết tranh chấp,
tuy nhiên một vấn đề mà các bên cần phải lưu ý đó là hiệu quả của việc giải quyết
18
Điều 317, Luật Thương mại năm 2005.
GVHD: Ths. Diệp Ngọc Dũng
Trang 15
SVTH: Nguyễn Hoàng Nguyên
Luận văn tốt nghiệp
Chế định miễn trách nhiệm trong hợp đồng
theo CISG và LTM
tranh chấp đó. Nếu các bên tìm một phương pháp mà tiềm ẩn nhiều rủi ro mà kết quả
giải quyết không đạt được như mong đợi thì rõ ràng rắc rối mà các bên đang nhận
thêm đó là sự mất thời gian và công sức. Do đó, đa phần những tranh chấp dạng như
vậy, các bên thường lựa chọn hình thức Trọng tài hoặc Toà án để đảm bảo chắc chắn
thể trong BLDS tại Điều 302 và LTM tại Điều 294 thì trước đó cũng được quy định
GVHD: Ths. Diệp Ngọc Dũng
Trang 16
SVTH: Nguyễn Hoàng Nguyên
Luận văn tốt nghiệp
Chế định miễn trách nhiệm trong hợp đồng
theo CISG và LTM
trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1997 tại Điều 170 và Luật Thương mại Việt
Nam năm 1997 tại Điều 77. Nói cách khác quy định về miễn trách trong pháp luật
Việt Nam mang tính kế thừa các quy định trước đó. Đối với pháp luật quốc tế, chế
định miễn trách cũng được thừa nhận rộng rãi bằng các quy định trong các Công ước,
Hiệp định, Bộ nguyên tắc, hay cả pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới. Theo
CISG, miễn trách (exemption) là một trong những chế định quan trọng được ghi nhận
một cách riêng biệt tại Mục IV của Công ước, vấn đề này sẽ được người viết trình bày
rõ hơn ở các phần sau. Theo Bộ Nguyên tắc của Viện quốc tế về nhất thể hoá Luật tư
về Hợp đồng Thương mại quốc tế năm 2010, chế định miễn trách được thể hiện cụ
thể tại Điều 7.1.6 (Điều khoản miễn trách) và các Điều khoản cụ thể về các trường
hợp miễn trách sau đó.19 Do đó, có thể nhận thấy, tầm quan trọng của chế định miễn
trách trong hợp đồng mua bán hàng hoá là không thể phủ nhận và được hầu hết các
nền lập pháp trên thế giới công nhận. Dù quan điểm mỗi quốc gia, mỗi khu vực hay
mỗi tổ chức quốc tế đều có sự khác biệt nhưng nhìn chung ý thức về việc tạo nên chế
định miễn trách trong quy định liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hoá là điều cần
thiết và phù hợp. Vì thế, sự ý thức trong việc xây dựng và áp dụng chế định này góp
phần tạo nên sự hoàn thiện hơn cho các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán
Luận văn tốt nghiệp
Chế định miễn trách nhiệm trong hợp đồng
theo CISG và LTM
kiểm chứng những lời khai,… thì mới đi đến một kết luận chính xác về việc vi phạm
đó. Một trong số những căn cứ để bảo vệ cho bên vi phạm trong trường hợp bên vi
phạm không có lỗi đó chính là những quy định từ căn cứ miễn trách. Khi một vụ việc
vi phạm diễn ra, tất nhiên chúng ta luôn phải nhắc đến những tổn thất mà bên bị vi
phạm phải gánh chịu và có những biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi của họ, tuy
nhiên không vì lối suy nghĩ cứng nhắc này mà luôn áp đặt trách nhiệm lên người đã
gây ra thiệt hại, vì nếu bên bị vi phạm nhiều trường hợp không có lỗi do sự vi phạm
đó thì bên vi phạm cũng vậy. Chế định miễn trách trong hợp đồng mua bán hàng hoá
không phải là căn cứ để bác bỏ sự tổn thất mà bên bị vi phạm phải gánh chịu, mà là
căn cứ để các bên có sự chia sẽ tổn thất và trách nhiệm cho nhau thay vì áp đặt một
cách tuỳ tiện lên một bên vi phạm. Dù vậy, suy cho cùng số trường hợp miễn trách
này được vận dụng khi có thiệt hại xảy ra là không cao, nói cách khác, pháp luật luôn
hướng đến việc ban hành các chế định miễn trách trong những trường hợp thật sự
kèm theo những điều kiện quan trọng khác để loại trừ hoàn toàn yếu tố lỗi của bên vi
phạm để từ đó việc áp dụng chế định miễn trách mới đạt được hiệu quả tối ưu nhất.
1.1.4 Cơ sở lựa chọn nguồn luật phân tích về chế định miễn trách
Hiện nay trên thế giới có nhiều nguồn luật khác nhau có quy định về chế định
miễn trách. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người viết chỉ hướng đến việc lựa
chọn và xác định hai nguồn luật cơ bản có ảnh hưởng đến thực tiễn trong nước hiện
nay để làm cơ sở so sánh và đối chiếu trực tiếp.
1.1.4.1 Cơ sở từ pháp luật Việt Nam
Liên quan đến chế định miễn trách trong hợp đồng mua bán hàng hoá, pháp
luật Việt Nam hiện nay có hai nguồn quy định liên quan đến vấn đề này đó là nguồn
về việc Thông báo và xác nhận các trường hợp miễn trách nhiệm, Điều 296 quy định
về việc Kéo dài thời hạn, từ chối thực hiện hợp đồng trong trường hợp bất khả
kháng,…
Trên cơ sở LTM là sự cụ thể hoá các quy định cũng như các nguyên tắc từ
BLDS thông qua những lĩnh vực chuyên ngành cụ thể. Và xem xét về mặt nguyên tắc
nguyên tắc áp dụng luật, khi phát sinh một vụ việc cụ thể thì luật chuyên ngành sẽ
được ưu tiên áp dụng để giải quyết cụ thể vấn đề đó và những gì luật chuyên ngành
không quy định thì mới xem xét đến quy định từ luật chung. Do đó, nghiên cứu về chế
định miễn trách trong LTM sẽ trở nên cần thiết, phổ biến và dễ áp dụng hơn. Đây cũng
là mục đích chính mà người viết chủ yếu lựa chọn LTM để nghiên cứu về chế định
miễn trách bên cạnh những quy định có liên quan từ BLDS.
1.1.4.2 Cơ sở từ pháp luật quốc tế
Có thể khẳng định, hầu hết các nguồn pháp luật trên thế giới liên quan đến hoạt
động mua bán hàng hoá đều thừa nhận và áp dụng chế định miễn trách. Từ đó có thể
nhận thấy, chế định miễn trách trong pháp luật quốc tế được quy định khá đa dạng
bằng nhiều nguồn khác nhau từ pháp luật quốc gia đến các văn bản của các tổ chức
quốc tế.
Chế định miễn trách có thể được tìm thấy ở nhiều quốc gia thông qua các quy
định từ các quốc gia đó như: Án lệ của Cộng hoá Pháp, Bộ Luật Dân sự cộng hoà liên
bang Nga (Điều 401),…
Dưới phương diện các tổ chức quốc tế, chế định miễn trách có thể được tìm
thấy thông qua các quy định trong các Công ước, Bộ quy tắc,… Hai trong số các
nguồn quan trọng của luật thương mại quốc tế do các tổ chức quốc tế ban hành không
thể không nhắc đến đó là PICC và CISG. Như đã trình bày, chế định miễn trách được
20
Khoản 2 Điều 302, Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 và Đoạn 2 Khoản 2 Điều 161, Bộ luật Dân sự Việt
Nam năm 2005.