Giao kết hợp đồng theo công ước vienna 1980 - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
KHOA LUẬT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
THEO CÔNG ƯỚC VIENNA 1980
Ngành:LUẬT KINH TẾ

Giảng viên hướng dẫn: ThS. NGUYỄN CHÍ THẮNG
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN BÍCH NGỌC
MSSV: 1511271169

Lớp: 15DLK13

TP. Hồ Chí Minh - 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Nguyễn Bích Ngọc, MSSV: 1511271169.
Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khoá luận tốt
nghiệp này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn
đầy đủ và theo đúng qui định);
Nội dung trong khoá luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác.
Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường
và pháp luật.
Sinh viên
(ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

Nguyễn Bích Ngọc

Công ước Vienna 1980 - Convention on Contracts for
the International Sale of Goods

CHXHCN
EU
EVFTA
FDA
GDP

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Liên minh châu Âu - European Union
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam và Liên minh
châu Âu - EU Viet Nam Free Trade Agreement
Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ - Food
and Drug Administration
Tổng sản phẩm quốc nội - Gross Domestic Product
Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa -

HS code

Harmonized

Commodity

Description

and

Coding


Institute for the Unification of Private Law
Ủy ban Luật Thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc United Nations Commission on International Trade Law


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài.............................................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài....................................................................... 1
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài..................................................... 2
4. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài................................. 2
5. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................3
6. Kết cấu của khóa luận......................................................................................4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG
HÓA QUỐC TẾ THEO CÔNG ƯỚC VIENNA 1980........................................... 5
1.1 Khái quát chung về hợp đồng và giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế.................................................................................................................... 5
1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế....................................5
1.1.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.....................................8
1.1.3 Khái niệm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế....................12
1.2 Tổng quan về Công ước Vienna 1980........................................................ 13
1.2.1 Sơ lược về lịch sử hình thành Công ước...............................................13
1.2.2 Nội dung cơ bản của Công ước............................................................ 14
1.3 Quy định về giao kết hợp đồng theo Công ước Vienna 1980.................. 16
1.3.1 Đề nghị giao kết hợp đồng....................................................................16
1.3.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng..................................................21
1.3.3 Thời điểm hợp đồng được giao kết....................................................... 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG I......................................................................................... 29
CHƯƠNG II: SO SÁNH CÁC QUY ĐỊNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG GIỮA
CÔNG ƯỚC VIENNA 1980 VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM - MỘT SỐ ĐỀ
XUẤT......................................................................................................................... 30

và nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào quan hệ mua bán đều được xác lập ở giai
đoạn giao kết - là bước cơ bản cũng là bước đầu tiên để xác lập một quan hệ hợp
đồng. Do đó, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một quá trình quan
trọng, là cơ hội để bày tỏ ý chí và mục đích giao kết, tại đây các bên tiến hành
thương lượng và đàm phán hướng đến một thỏa thuận chung. Nếu các bên tham gia
không đạt được sự thống nhất trong thỏa thuận, sẽ dẫn đến hợp đồng không được
giao kết hoặc nội dung hợp đồng không rõ ràng, không chặt chẽ sẽ là nguyên nhân
trực tiếp dẫn đến các tranh chấp phát sinh về sau. Chính vì những lý do trên, người
viết đã chọn “Giao kết hợp đồng theo Công ước Vienna 1980” làm đề tài nghiên
cứu trong khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là trình bày tổng quan về khái niệm và đặc
điểm cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Tiếp đó, người viết sẽ phân
tích và so sánh quy định về giao kết hợp đồng theo Công ước Vienna 1980 với các
quy định của pháp luật Việt Nam, nhằm thông qua những kết luận, nhận xét ban đầu
về đối tượng nghiên cứu để đưa ra các đề xuất phù hợp, góp phần hoàn thiện vấn đề
nghiên cứu.

1


3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các quy định về giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế theo Công ước Vienna 1980 do Uỷ ban Liên hợp quốc soạn thảo.
Qua đó, người viết tiến hành so sánh các quy định này giữa Công ước Vienna 1980
và các quy định tương ứng theo pháp luật Việt Nam, mà cụ thể là Bộ luật Dân sự
2015, Luật Thương mại 2005 và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định trong giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế: đề nghị giao kết, chấp nhận đề nghị và thời điểm hợp đồng
được giao kết.

xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2005; Giáo trình Luật Hợp
đồng (phần chung) của PGS.TS Ngô Huy Cương, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nhà
xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013; Giáo trình Luật Thương mại quốc tế,
trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, Hà Nội; Luật Hợp
đồng Việt Nam của PGS.TS Đỗ Văn Đại, Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội luật gia
Việt Nam; Giáo trình Tư pháp quốc tế (phần riêng), trường Đại học Luật thành phố
Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội.
Như vậy, các đề tài nghiên cứu về nội dung của Công ước Vienna 1980 đã
từng được thực hiện trước đây. Tuy nhiên, vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế theo Công ước, cũng như so sánh với các quy định của pháp luật Việt
Nam chưa được quan tâm nhiều. Mặt khác, hiệu lực của Bộ luật dân sự 2015 và
hiệu lực thi hành Công ước Vienna 1980 tại Việt Nam phát sinh từ ngày 1 tháng 1
năm 2017, trong đó nội dung của Bộ luật dân sự 2015 có nhiều sự thay đổi so với
Bộ luật trước. Đặc biệt, nội dung báo cáo và kiến nghị gia nhập Công ước Vienna
1980 của Bộ Công Thương được thực hiện dựa trên việc phân tích và so sánh giữa
nội dung của Công ước và Bộ luật dân sự 2005. Vì vậy, người viết chọn cách tiếp
cận đề tài “Giao kết hợp đồng theo Công ước Vienna 1980” ở góc độ Công ước có
hiệu lực thi hành tại Việt Nam và so sánh với quy định của Bộ luật dân sự 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
Nội dung khóa luận thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, do đó nhằm kết nối
những kiến thức đã học và tiến hành nghiên cứu, người viết sử dụng các phương
pháp sau: phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết để tìm hiểu toàn diện về đối
tượng nghiên cứu; phương pháp so sánh để làm rõ vấn đề đặt ra, xây dựng góc nhìn
toàn diện cho khóa luận và phương pháp quan sát, tổng kết kinh nghiệm nhằm thu
thập thông tin và đúc kết những thuận lợi, khó khăn để đưa ra các đề xuất phù hợp.

3


6. Kết cấu của khóa luận

ngày nay đã tồn tại hơn 200 năm, theo đó khái niệm hợp đồng được quy định tại
Điều 1101: “Hợp đồng là sự thỏa thuận theo đó một hoặc nhiều người cam kết với
một hoặc nhiều người khác chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một việc gì
đó”.4 Như vậy, dù có nhiều sự khác nhau nhưng yêu cầu cốt lõi của một hợp đồng
chính là sự tồn tại của thỏa thuận và nghĩa vụ của các bên tham gia.
Trong lĩnh vực thương mại, nhất là hoạt động mua bán hàng hóa giữa các
nước có quy định cũng như quan điểm khác nhau. Theo khoản 1 Điều 2 Luật mua
bán hàng hóa Vương quốc Anh năm 1979: “Hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp
1

PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện (2018), Giáo trình Luật dân sự (tập 2), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia

TP.HCM, tr.22
Xem chi tiết tại http://www.russian-civil-code.com/
Đại học Quốc gia Hà Nội (2013), Giáo trình Luật Hợp đồng phần chung, Nhà xuất Đại học Quốc gia Hà
Nội, tr.12
2
3

4

Xem chi tiết tại https://www.trans-lex.org/601101/_/french-civil-code-2016/#toc_0
5


đồng theo đó người bán chuyển giao hoặc đồng ý chuyển giao quyền sở hữu hàng
cho người mua và đổi lại số tiền thỏa đáng”.5 Và khoản 1 Điều 454 BLDS Liên
bang Nga quy định: “Bằng hợp đồng mua bán, một bên (bên bán) sẽ cam kết chuyển
giao quyền sở hữu một vật (hàng hóa) cho bên kia (bên mua), trong khi đó bên mua
sẽ cam kết chấp nhận hàng hóa và trả một số tiền xác định cho hàng hóa đó”.6

Xem chi tiết tại http://www.russian-civil-code.com/

Đỗ Minh Anh (2016), Vấn đề sửa đổi khái niệm mua bán hàng hóa quốc tế trong luật thương mại để gia
nhập công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Nguồn:https://cisgvn.wordpress.com/2016/01/13/van-de-sua-doi-khai-niem-mua-ban-hang-hoa-quoc-te-trong
7

-luat-thuong-mai-de-gia-nhap-cong-uoc-cua-lien-hop-quoc-ve-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te/
6


buộc cho các bên tham gia hợp đồng và được đảm bảo thực hiện bằng các chế tài
của pháp luật. Mặt khác, sự thỏa thuận là yếu tố bắt buộc của hợp đồng, là một hạt
nhân cơ bản - mang bản chất là sự thống nhất ý chí về quyền và nghĩa vụ của các
bên giao kết. Bởi lẽ, nếu sự thỏa thuận ngay từ đầu không rõ ràng, không chặt chẽ,
không đảm bảo tính tự nguyện và bình đẳng giữa các bên,… thì khó tránh mâu
thuẫn phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, khiến cho các bên không đạt
được mục đích của mình.
Theo khoản 1 Điều 3 LTM 2005 định nghĩa: “Hoạt động thương mại là hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư,
xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Mục đích sinh
lợi được hiểu là trong quá trình thực hiện hoạt động thương mại không chỉ nhằm tạo
ra lợi nhuận cho cá nhân, tổ chức đó mà còn tạo ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội
theo hướng tích cực, nên “sinh lợi” mang ý khát quát hơn, phản ánh đúng bản chất
của thực tiễn thương mại hiện nay. Vì lẽ đó, một hợp đồng mua bán háng hóa nói
chung và hợp đồng mua bán quốc tế nói riêng là một loại trong hợp đồng thương
mại, tuy nhiên sự khác nhau cơ bản của hai loại hợp đồng này chính là tính quốc tế.
Do đó, việc xác định tính quốc tế của một hợp đồng mua bán hàng hóa rất quan
trọng, không chỉ có ý nghĩa trong hoạt động thương mại mà còn bởi tính chất pháp
luật điều chỉnh. Theo Điều 80 LTM 1997 đã quy định: “Hợp đồng mua bán hàng

ngoài, điều này đúng với bản chất của hợp đồng và đặc biệt hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế, vốn là quan hệ dân sự. Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ
dân sự thuộc một trong các trường hợp sau: Có ít nhất một trong các bên tham gia
đều là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam,
pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ
đó xảy ra tại nước ngoài; Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân
Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.9 Có thể thấy, “yếu
tố nước ngoài” theo BLDS 2015 có phạm vi rộng hơn so với “tính quốc tế” trong
hoạt động mua bán hàng hóa của LTM 2005, nhưng điều này không làm phát sinh
xung đột giữa luật chung và luật chuyên ngành mà mang tính chất bổ sung, một dự
liệu của nhà làm luật.
Nhìn chung, khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có sự khác nhau
giữa Công ước Vienna 1980 (CISG) và pháp luật Việt Nam hiện hành. Khác biệt cơ
bản nhất là cách xác định tính quốc tế, một bên dựa vào địa điểm kinh doanh của
các chủ thể tham gia và bên còn lại dựa vào yếu tố hàng hóa dịch chuyển ra khỏi
biên giới quốc gia.
1.1.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Cũng như các loại hợp đồng khác, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không
chỉ mang các đặc điểm chung của hợp đồng mua bán hàng hóa mà còn sở hữu đặc
điểm riêng nhằm thể hiện đúng mục đích giao kết và bản chất quốc tế:
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chủ yếu là các
thương nhân. Trong CISG không đưa ra khái niệm chung nào về thương nhân bởi vì
9

Khoản 2 Điều 663 BLDS 2015

8


pháp luật mỗi quốc gia sẽ có các quy định khái niệm và điều kiện riêng để trở thành

pháp luật: chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân. Cần lưu ý, tại Điều 7 LTM
2005 trường hợp mà thương nhân chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải
10

Khoản 4 Điều 16 LTM 2005

Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 39/2007/NĐ-CP Về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập,
thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh.
11

9


chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của LTM và các luật có
liên quan. Mặt khác, thương nhân được quyền hoạt động thương mại trong các
ngành nghề, tại các địa bàn, theo các hình thức và phương thức mà pháp luật không
cấm.
Thứ hai, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hàng hóa đủ
điều kiện tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế và phù hợp với pháp luật quốc
gia của các bên tham gia hợp đồng. Tổ chức Hải quan thế giới (World Customs
Organization - WCO) đã ban hành Công ước về Hệ thống hài hòa và mô tả hàng
hóa (Harmonized System Code - HS), đây là hệ thống được tiêu chuẩn hóa quốc tế
về tên gọi và mã số để phân loại hàng hóa được buôn bán trên phạm vi toàn thế
giới.12 Đối với CISG, Công ước không đưa ra định nghĩa về hàng hóa, tuy nhiên
theo Điều 2 CISG hợp đồng mua bán hàng hóa không áp dụng cho mọi loại hàng
hóa cho cá nhân, gia đình hoặc nội trợ, hàng hóa bán đấu giá, tàu thủy, máy bay và
điện năng… Đối với pháp luật Việt Nam, về bản chất, hàng hóa là sản phẩm của lao
động, nó có thể thỏa mãn những nhu cầu nhất định nào đó của con người thông qua
trao đổi, mua bán. Và hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng
của hợp đồng mua bán tài sản thông thường, theo Điều 105 BLDS 2015: “Tài sản là

Thứ ba, hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa phải phù hợp với pháp luật
thương mại quốc tế và luật quốc gia. Theo CISG, quy định tại Điều 11 cho rằng hợp
đồng mua bán không bắt buộc phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay
phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng và hợp đồng có thể
được chứng minh bằng mọi cách, kể cả những lời khai của nhân chứng, Công ước
đã ghi nhận tối đa sự tự do của các bên tham gia khi giao kết hợp đồng, cụ thể là
hình thức của hợp đồng bằng văn bản, lời nói và kể cả lời khai của nhân chứng. Đối
với pháp luật Việt Nam, hình thức hợp đồng mua bán có thể là văn bản, lời nói hoặc
bằng hành vi. Riêng việc mua bán hàng hóa quốc tế phải tuân theo quy định tại
khoản 2 Điều 27 LTM 2005, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện
dựa trên cơ sở hợp đồng phải lập bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị
tương đương như điện báo, fax và thông điệp điện tử… thường dùng trong các giao
dịch giữa các thương nhân, ghi nhận đầy đủ nội dung cơ bản, đảm bảo sự rõ ràng và
hạn chế các tranh chấp phát sinh về sau.13 Như vậy, hình thức của hợp đồng mua
bán hàng hóa được quy định rất đa dạng, nhưng để phù hợp với quy định của pháp
luật Việt Nam thì bắt buộc hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải ghi nhận bằng
hình thức văn bản để tránh các mâu thuẫn phát sinh, có căn cứ để dễ dàng chứng
minh quan hệ hợp đồng và cung cấp một phương tiện hiệu quả nhất để các chủ thể
nắm bắt được nhiều cơ hội trong hoạt động thương mại.
Thứ tư, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ được điều chỉnh bằng pháp
luật thương mại quốc tế. Pháp luật thương mại quốc tế trong quan hệ hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế có thể là Điều ước quốc tế hoặc là luật quốc gia và trong
trường hợp đó luật áp dụng trong quan hệ hợp đồng sẽ là luật quốc tế hay luật nước
ngoài so với một bên.14 Các bên giao kết thường thỏa thuận về tập quán Incoterms
quy định các điều khoản về giao nhận hàng, phiên bản mới nhất là Incoterms 2010
và tập quán thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP) được áp dụng trong thanh toán
13
14

Trường Đại học Công Nghệ TP.HCM, Tài liệu học tập Pháp luật về hợp đồng, Khoa Luật, tr.103

thảo thuận các điều khoản cơ bản của hợp đồng; Giao kết gián tiếp - các bên không
trực tiếp gặp nhau mà sử dụng các phương tiện truyền thông để trao đổi ý định giao
kết và các thông tin chi tiết về điều khoản của hợp đồng. Đối với hoạt động mua bán
hàng hóa quốc tế ngoài các loại hàng hóa đặc thù bắt buộc phải gặp trực tiếp để đàm
phán, phương thức này tốn nhiều thời gian và chi phí, thì các bên sẽ chọn phương
thức giao kết gián tiếp thông qua thư chào hàng hoặc thư đặt hàng. Như vậy, giao
15

Trường Đại học Công Nghệ TP.HCM, Tài liệu học tập Pháp luật về hợp đồng, Khoa Luật, tr.37

Trường Đại học Công Nghệ TP.HCM, Tài liệu học tập Nghiệp vụ ngoại thương, Khoa Quản trị kinh
doanh, tr.19
16

12


kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế gián tiếp sẽ giúp các bên tiết kiệm được chi
phí đi lại và thời gian thương lượng, nhất là đối với giao kết giữa các thương nhân ở
các nước khác nhau, điều này phù hợp với tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng
hóa và quy định về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo CISG chủ yếu
phù hợp với phương thức giao kết gián tiếp.
Ngoài ra, các chủ thể có quyền tự do thỏa thuận nhưng cần lưu ý những điểm
sau khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Thứ nhất, trong giao kết trực
tiếp các bên cần chuẩn bị đầy đủ tài liệu, số liệu về vấn đề cần đàm phán và giải
quyết vấn đề ngôn ngữ vốn là sự bất đồng, sự trở ngại lớn nhất. Vì thế, các bên cần
thống nhất ngôn ngữ sử dụng và phiên dịch viên thông thạo ngôn ngữ đó để thể hiện
đầy đủ mục đích giao kết của mình, tránh hiểu nhầm hay hiểu sai ý dẫn đến việc
đánh mất cơ hội giao kết hoặc tranh chấp phát sinh khi thực hiện hợp đồng. Thứ hai,
đối với giao kết gián tiếp, các bên thường sử dụng các mẫu chào hàng, chấp nhận

mua bán hàng hóa, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế phát triển
và là mô hình hữu ích cho các nước đang xem xét việc ban hành Luật hợp đồng và
mua bán hiện đại.17
1.2.2 Nội dung cơ bản của Công ước
Công ước Vienna 1980 (CISG) mang tính tổng quát chung, bao gồm 101 Điều,
được chia làm 4 phần: Phạm vi áp dụng và các quy định chung (Điều 1-13); Thành
lập hợp đồng (Điều 14-24); Mua bán hàng hóa (Điều 25-88); Các quy định cuối
cùng ( Điều 89-101). Trong đó, nguyên tắc áp dụng CISG, nguyên tắc diễn giải các
tuyên bố, hành vi và xử sự của các bên hay nguyên tắc tự do và giá trị của tập quán
thương mại quốc tế được nhấn mạnh tại phạm vi áp dụng và các quy định chung của
Công ước. Đặc biệt, các quy định về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
được quy định từ Điều 14 đến Điều 24. Cần lưu ý, có một số vấn đề mà CISG
không điều chỉnh như: hệ quả của hợp đồng đối với quyền sở hữu hàng hóa, điều
kiện hiệu lực của hợp đồng, chế tài phạt vi phạm, vấn đề thời hiệu.
Mặt khác, pháp luật của nhiều quốc gia (dân sự, thương mại) và truyền thống
văn hóa có nhiều sự khác biệt sẽ gây trở ngại cho việc gia nhập và áp dụng Công
ước (Anh và các nước châu Phi). CISG cũng không tránh khỏi các bình luận trái
chiều của một số nhà phê bình, họ cho rằng Công ước vẫn còn mâu thuẫn với các
thông lệ quốc tế và các điều khoản thương mại được sử dụng rộng rãi.18 Một trở
ngại khác của CISG, đó chính là tâm lý không muốn thay đổi thói quen của doanh
nghiệp, bởi lẽ việc thay đổi một luật điều chỉnh sẽ gây bất lợi nếu không có sự hiểu
biết nhất định để áp dụng. Sự cần thiết để một quốc gia phổ biến Công ước Vienna
1980 đến công dân và nhất là các doanh nghiệp, cần rất nhiều sự nỗ lực cũng như sự
quan tâm và chính sách hỗ trợ của chính phủ quốc gia đó.

Bộ Công Thương (2012), Báo cáo nghiên cứu khả năng Việt Nam gia nhập Công ước Viên 1980 về hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG).
17

18

giữa các thị trường dễ dàng hơn mà còn góp phần phát triển nền kinh tế của quốc
gia, khi Việt Nam định hướng là một quốc gia xuất khẩu với các sản phẩm chủ lực
như dệt may, thủy sản và hàng hóa công nghiệp chế biến,… Lợi ích thứ nhất, việc
gia nhập CISG sẽ giúp thống nhất pháp luật về mua bán hàng hóa quốc tế của Việt
Nam với nhiều quốc gia trên thế giới (tạo khung pháp lý thống nhất, thuận lợi cho
việc áp dụng). Thứ hai, việc gia nhập CISG giúp hoàn thiện pháp luật về mua bán
19
20

CISG: List of Contracting States. https://iicl.law.pace.edu/cisg/page/cisg-list-contracting-states
Schedule of court and arbitral proceedings. http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/casecit.html

Bộ Công Thương (2015), Tờ trình về việc gia nhập Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về Hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
21

15


hàng hóa quốc tế nói riêng và pháp luật về mua bán hàng hóa nói chung của Việt
Nam từ đó tạo điều kiện để giải quyết các tranh chấp phát sinh tốt nhất. Thứ ba, góp
phần giúp các doanh nghiệp Việt Nam có được một khung pháp lý hiện đại, công
bằng và an toàn, giải quyết nhanh chóng các tranh chấp, có điều kiện cạnh tranh hơn
trên trường quốc tế.22
1.3 Quy định về giao kết hợp đồng theo Công ước Vienna 1980
1.3.1 Đề nghị giao kết hợp đồng
CISG có tính chất là một khung pháp lý chung áp dụng cho tất cả các quốc
gia thành viên theo các hệ thống pháp luật khác nhau, nên các quy định về giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Công ước Vienna 1980 được xây dựng dựa
trên nguyên tắc thống nhất điều chỉnh và thúc đẩy việc loại trừ các trở ngại pháp lý

ra đề nghị giao kết (lời mời làm chào hàng) rất khó phân biệt, có thể hiểu lời mời
đưa ra đề nghị giao kết là sự tuyên bố của một chủ thể rằng họ sẵn sàng tiếp nhận
bất kì một lời đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa nào đó, còn đề nghị giao
kết hợp đồng là sự khẳng định ý chí mong muốn được giao kết với một chủ thể hay
nhiều chủ thể trong điều kiện nhất định (nội dung ràng buộc trong đề nghị). Vì thế
CISG quy định tại khoản 2 Điều 14 cho rằng một đề nghị được gửi cho những
người không xác định chỉ được coi là một lời mời làm chào hàng, ví dụ như: tờ rơi,
quảng cáo, catalogue, bảng giá hàng hóa… Bởi vì thông thường nội dung của lời
mời sẽ ghi rõ giá cả hàng hóa, miêu tả hình dáng và kích thước cụ thể, các tính năng
cũng như các ưu đãi kèm theo và nó hướng đến bất kì chủ thể nào sẽ đọc hay xem
được những thông tin này (người không xác định). Thực tế, người đưa ra lời làm
chào hàng cũng không thể giao kết hợp đồng với tất cả mọi người, vì thế việc xem
đó như một đề nghị là không khả thi, trừ phi người đề nghị tuyên bố rõ ràng đó là
một đề nghị giao kết hợp đồng.
Trong vụ tranh chấp được Tòa Thụy Sĩ giải quyết vào ngày 27/4/2007, Tòa
cho rằng người mua (khách sạn ở Valais, Thụy Sĩ) đưa ra đơn đặt hàng các phụ tùng
nấu ăn với người bán (Công ty Italia), đơn đặt hàng này được xem là một lời mời
đàm phán chứ không phải là một đề nghị, bởi vì dù có nêu rõ loại hàng hóa, mô tả
chi tiết nhưng không có bất cứ một nội dung về giá cả hoặc một phương thức xác
định giá hay một tham chiếu để xác định giá cả. Khi nhận được đơn đặt hàng như
thế người bán đã đưa ra một đề xuất cho người mua, Tòa Thụy Sĩ cho rằng đề xuất
này là một lời đề nghị giao kết hợp đồng và được người mua đồng ý bằng hành vi
chấp nhận hàng hóa do người bán cung cấp. Như vậy, việc đưa đơn đặt hàng chưa
phải là một đề nghị giao kết nếu nó chưa đủ yếu tố để ràng buộc quyền và nghĩa vụ
của người mời thương lượng, đàm phán trở thành người đề nghị giao kết.23
Theo khoản 1 Điều 15 CISG, ngoài các yêu cầu về nội dung của một chào
hàng thì để chào hàng phát sinh hiệu lực thì nó phải tới nơi người được chào hàng.
Nghĩa là kể từ thời điểm người được chào hàng nhận được đề nghị giao kết thì tất cả
nội dung của chào hàng bị ràng buộc đối với người đề nghị, nhưng CISG không quy
định cụ thể các trường hợp nào thì chào hàng được xem là tới nơi người được chào

nghị.
Trường hợp chào hàng đã phát sinh hiệu lực nhưng người đề nghị không thể
tiếp tục và có nhu cầu hủy bỏ chào hàng thì CISG vẫn cho phép người đề nghị thực
hiện quyền này nhưng phải đáp ứng đủ điều kiện tại khoản 1 Điều 16 là thông báo
về việc hủy bỏ đó tới nơi người được chào hàng trước khi người này gửi thông báo
chấp nhận chào hàng. Đây là giai đoạn người được đề nghị đã nhận được chào hàng
và đang trong thời hạn trả lời, nhưng chưa gửi thông báo chấp nhận cho bên đề nghị,
nghĩa là hợp đồng vẫn chưa được giao kết. Quy định này gây khó dễ cho người
được đề nghị, bởi lẽ họ không biết được lời đề nghị này có thể bị hủy ngang hay
không, vì có trường hợp người được chào hàng phải có sự chuẩn bị sẵn sàng trước
khi chấp nhận giao kết. Cụ thể là Civil Law cho rằng một đề nghị giao kết có thể bị
18


hủy bỏ và Common Law thì ngược lại, một đề nghị không thể bị hủy bỏ ngang trừ
một số ngoại lệ nhất định.24 Nhằm hài hòa quy định về hủy bỏ chào hàng CISG
cũng quy định các trường hợp một đề nghị giao kết hợp đồng không thể bị hủy
ngang tại khoản 2 Điều 16: Một đề nghị giao kết có quy định về việc không thể hủy
ngang hoặc trong đó có quy định về thời hạn chấp nhận chào hàng hoặc một cách
thức khác; Căn cứ vào nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng, người được đề nghị
cho rằng đề nghị không thể hủy bỏ và đã hành động một cách hợp lý theo chiều
hướng đó. Như vậy, CISG quy định 2 ngoại lệ để một chào hàng không thể bị hủy
ngang: Một là, được quy định rõ trong nội dung là chào hàng này không thể bị hủy
bỏ hoặc người đề nghị xác định thời hạn cụ thể để người được đề nghị chấp nhận,
đối với những chào hàng này người được đề nghị sẽ xem xét nghiêm túc chào hàng
này và tin tưởng vào thiện chí hợp tác của bên còn lại; Hai là, người được đề nghị
có căn cứ cho rằng mình đã nhận một đề nghị không thể bị hủy bỏ và đã tiến hành
chuẩn bị cho việc giao kết hợp đồng, căn cứ cho trường hợp này phải dựa trên nội
dung của lời đề nghị như: việc chấp nhận đề nghị yêu cầu người đề nghị phải chuẩn
bị để tiến hành giao kết như chuẩn bị sản xuất, mua nguyên vật liệu hoặc mua


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status