Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giao kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng lao động tại công ty than mạo khê - Pdf 45

“Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giao kết hợp đồng và thực hiện
hợp đồng lao động tại công ty than Mạo Khê”
MỤC LỤC


“Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giao kết hợp đồng và thực hiện
hợp đồng lao động tại công ty than Mạo Khê”
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là tiểu luận do Tôi thực hiện. Các số liệu, thông tin
trog bài là xác thực. Nếu sai Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Sinh viên


“Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giao kết hợp đồng và thực hiện
hợp đồng lao động tại công ty than Mạo Khê”

LỜI CẢM ƠN
Với sự biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Ngọc
Linh giảng viên học phần Luật lao động.
Đồng thời tôi cũng gửi lời cám ơn tới các cô chú trong công ty than Mạo
Khê, đã tạo điều kiện, giúp đỡ nhiệt tình, cung cấp những thông tin quý báu
giúp tôi hoàn thành đề tài này.



“Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giao kết hợp đồng và thực hiện
hợp đồng lao động tại công ty than Mạo Khê”

BẢNG KÊ CHỮ VIẾT TẮT
STT
1


Hợp đồng lao động có vai trò rất quan trọng, trong đời sống kinh tế xã hội,
thứ nhất HĐLĐ là cơ sở cho cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp lựa chọn lao
động phù hợp với những yêu cầu về nguồn nhân lực của tổ chức mình, thứ hai
nó là hình thức pháp lý giúp cho NLĐ thực hiện quyền làm việc, quyền lợi,
nơi làm việc cho bản thân mình. HĐLĐ là căn cứ khi giải quyết các vấn đề về
giải quyết các tranh chấp trong lao động, đối với hoạt động quản lý nhà nước
HĐLĐ là cơ sở cho hoạt động quản lý nguồn nhân lực trong các cơ quan
doanh nghiệp.
Hợp đồng lao động, nó gắn liền với quá trình lao động, là sự ràng buộc
giữa người lao động với người sử dụng lao động. Trong nền kinh tế thị
trường, các doanh nghiệp không chỉ đơn thuần ở việc ký kết hợp đồng lao
động với người lao động, mà quan trọng hơn là việc thực hiện hợp đồng
đó như thế nào cho đúng để không trái quy định của pháp luật.
Nhận thấy được tầm quan trọng của việc thực hiện hợp đồng lao động
trong các doanh nghiệp, cơ quan, tôi lựa chọn tìm hiểu về vấn đề:“Khảo sát,
đánh giá thực trạng hoạt động giao kết hợp đồng và và thực hiện hợp đồng
lao động tại công ty than Mạo Khê”.
Do kiến thức còn nhiều hạn chế, thời gian ngắn nên bài khảo sát này không
tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô để
bài làm được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng hoạt động giao kết hợp đồng và và thực hiện hợp đồng lao
động tại công ty than Mạo Khê
2.2 Phạm vi nghiên cứu
5


“Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giao kết hợp đồng và thực hiện



“Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giao kết hợp đồng và thực hiện
hợp đồng lao động tại công ty than Mạo Khê”
- Phương pháp thu thập thông tin trực tiếp: quan sát
- Phương pháp thu thập thông tin gián tiếp: phân tích và tổng hợp số liệu
+ Nghiên cứu tài liệu, tư liệu tham khảo
+ Nguồn tin từ mạng Internet
+ Thông tin từ các báo cáo, tổng kết của công ty than Mạo Khê.
6. Đóng góp của đề tài
Sau khi hoàn thành đề tài đóng góp hai nội dung như sau:
- Đề tài nghiên cứu góp một phần vào xây dựng các biện pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động giao kết hợp đồng và và thực hiện hợp đồng lao động tại
công ty than Mạo Khê
- Kết quả đạt được của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
cho cán bộ làm công tác quản lý về nhân sự tại công ty.
7. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết thúc, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề
tài được chia ra làm ba chương cụ thể như sau:
Chương 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
VÀ VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY THAN
MẠO KHÊ
Chương 3: ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG KÝ HỢP ĐỒNG VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG
LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY THAN MẠO KHÊ

7




Mặc dù HĐLĐ là một loại quan hệ mua bán đặc biệt. Một trong những khía
cạnh đặc biệt của quan hệ này thể hiện ở chỗ hàng hóa mang trao đổi – sức
laođộng, luôn tồn tại gắn liền với cơ thể NLĐ. Do đó, khi NSDLĐ mua hàng
hóa sức lao động thì cái mà họ được “ sở hữu” đó là một quá trình lao động
8


“Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giao kết hợp đồng và thực hiện
hợp đồng lao động tại công ty than Mạo Khê”
biểu thị thông qua thời gian làm việc, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thái độ,
ý thức…. của NLĐ và để thực hiện được những yêu cầu nói trên, NLĐ phải
cung ứng sức lao động từ thể lực và trí lực của chính mình biểu thị qua những
thời gian đã được xác định ( ngày làm việc, tuần làm việc…). Như vậy, lao
động được mua bán trên thị trường không phải là lao động trừu tượng mà là
lao động cụ thể, lao động thể hiện thành việc làm.
-

Hợp đồng lao động do đích danh người lao động thực hiện.

Đặc trưng này xuất phát từ bản chất của quan hệ HĐLĐ. HĐLĐ thường
được thực hiện trong môi trường xã hội hóa, có tính chuyên môn hóa và hợp
tác hóa rất cao, vì vậy, khi NSDLĐ thuê mướn NLĐ người ta không chỉ quan
tâm tới đạo đức, ý thức, phẩm chất … tức nhân thân của NLĐ. Do đó, NLĐ
phải trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết, không được chuyển dịch vụ
cho người thứ ba.
-

Trong hợp đồng lao động có sự thỏa thuận của các bên thường bị khống chế
bới những giới hạn pháp lý nhất định.

- Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết
hợp đồng lao động bằng lời nói.
Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động
-

Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.
Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước
lao động tập thể và đạo đức xã hội.
Nghĩa vụ giao kết hợp đồng lao động

-

Trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động và

người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động.
- Trong trường hợp người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì việc giao
kết hợp đồng lao động phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật
của người lao động.
- Đối với công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng
thì nhóm người lao động có thể ủy quyền cho một người lao động trong nhóm
để giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản; trường hợp này hợp đồng lao
động có hiệu lực như giao kết với từng người.
Hợp đồng lao động do người được ủy quyền giao kết phải kèm theo danh
sách ghi rõ họ tên, tuổi, giới tính, địa chỉ thường trú, nghề nghiệp và chữ ký
của từng người lao động.
Nghĩa vụ cung cấp thông tin trước khi giao kết hợp đồng lao động
-

Người sử dụng lao động phải cung cấp thông tin cho người lao động về công
việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ


Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên

không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.
- Hợp đồng lao động xác định thời hạn;
- Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác
định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời
gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.
- Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời
hạn dưới 12 tháng.
Nội dung hợp đồng lao động
11


“Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giao kết hợp đồng và thực hiện
hợp đồng lao động tại công ty than Mạo Khê”
Hợp đồng lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây:
-

Tên và địa chỉ người sử dụng lao động hoặc của người đại diện hợp pháp;
Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, địa chỉ nơi cư trú, số chứng minh nhân

dân hoặc giấy tờ hợp pháp khác của người lao động;
- Công việc và địa điểm làm việc;
- Thời hạn của hợp đồng lao động;
- Mức lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các
-

khoản bổ sung khác;

“Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giao kết hợp đồng và thực hiện
hợp đồng lao động tại công ty than Mạo Khê”
của hợp đồng lao động mà dẫn đến cách hiểu khác với hợp đồng lao động thì
thực hiện theo nội dung của hợp đồng lao động.
Trường hợp phụ lục hợp đồng lao động dùng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng
lao động thì phải ghi rõ nội dung những điều khoản sửa đổi, bổ sung và thời
điểm có hiệu lực.
Hiệu lực của hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động có hiệu lực kể từ ngày các bên giao kết trừ trường hợp
hai bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Thử việc
-

Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận về việc làm thử,
quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thoả thuận về
việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc.
Nội dung của hợp đồng thử việc gồm các nội dung quy định tại các điểm a,
b, c, d, đ, g và h khoản 1 Điều 23 của BLLĐ 2012.

-

2. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động mùa vụ thì không phải
thử việc.
Thời gian thử việc
Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc
nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều
kiện sau đây:

-


được thực hiện theo hợp đồng lao động hoặc theo thỏa thuận khác giữa hai
bên”.
1.2.2 Các quy định pháp luật về thực hiện hợp đồng lao động
Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động
Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, áp dụng biện
pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện,
nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động được
quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng
lao động, nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm,
trừ trường hợp được sự đồng ý của người lao động.
Khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng
lao động, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít
nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc
phù hợp với sức khoẻ, giới tính của người lao động.
Người lao động làm công việc theo quy định tại khoản 1 Điều này được trả
14


“Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giao kết hợp đồng và thực hiện
hợp đồng lao động tại công ty than Mạo Khê”
lương theo công việc mới; nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền
lương công việc cũ thì được giữ nguyên mức tiền lương cũ trong thời hạn 30
ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% mức tiền
lương công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính
phủ quy định.
Các trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động
-

Người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự.
Người lao động bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật tố tụng hình

hợp đồng lao động tại công ty than Mạo Khê”
động.
1.3 Các quy định pháp luật về sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng lao
động
1.3.1 Sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động
Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu sửa
đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động thì phải báo cho bên kia biết trước ít
nhất 3 ngày làm việc về những nội dung cần sửa đổi, bổ sung.
Trong trường hợp hai bên thỏa thuận được thì việc sửa đổi, bổ sung hợp
đồng lao động được tiến hành bằng việc ký kết phụ lục hợp đồng lao động
hoặc giao kết hợp đồng lao động mới.
Trong trường hợp hai bên không thoả thuận được việc sửa đổi, bổ sung nội
dung hợp đồng lao động thì tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết.
1.3.2 Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động
-

Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của

BLLĐ 2012.
- Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.
- Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.
- Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng
lương hưu.
- Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi
trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của
Toà án.
- Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất
tích hoặc là đã chết.
- Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực
hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải

làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn
hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc
theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động
chưa được hồi phục.
Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động phải báo cho
người sử dụng lao động biết trước, quy định tại khoản 2 điều 38 BLLĐ 2012.
- Trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động:
+ Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều
trị, điều dưỡng theo quyết định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm
quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 của BLLĐ 2012.
+ Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và những trường hợp
17


“Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giao kết hợp đồng và thực hiện
hợp đồng lao động tại công ty than Mạo Khê”
nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.
+ Lao động nữ quy định tại khoản 3 Điều 155 của BLLĐ 2012.
+ Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật
về bảo hiểm xã hội.
- Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
trái pháp luật
+ Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động
nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
+ Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử
dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động
trong những ngày không báo trước.
+ Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động.
1.3.4 Các quy định chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao

+ Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1

BLLĐ 2012. Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo
một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.
- Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động trái pháp luật
+ Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết
và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người
lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp
đồng lao động.
+ Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản
tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải
trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.
+ Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và
người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1
Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của BLLĐ 2012, hai
bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng
tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
+ Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động
mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy
định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp
đồng lao động.
+ Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho
người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động
trong những ngày không báo trước.
1.4 Trợ cấp thôi việc và Trợ cấp mất việc làm
1.4.1 Trợ cấp thôi việc
Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các trường hợp sau thì
19


thôi việc.
20


“Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giao kết hợp đồng và thực hiện
hợp đồng lao động tại công ty than Mạo Khê”
Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng
lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.
1.4.2 Trợ cấp mất việc làm
Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã
làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo
quy định về thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế; khi sáp nhập,
hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã. Mỗi năm làm việc trả 01 tháng
tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.
Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao
động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người
lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm
xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp
thôi việc.
Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp
đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.

21


“Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giao kết hợp đồng và thực hiện
hợp đồng lao động tại công ty than Mạo Khê”

Chương 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG

“Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giao kết hợp đồng và thực hiện
hợp đồng lao động tại công ty than Mạo Khê”
sự ra đời của đội ngũ công nhân mỏ. Mạo Khê đã trở thành một trong những
nơi sớm nhất sản sinh ra giai cấp công nhân ViệtNam.
Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ngay sau đó, vào cuối
tháng 2 năm 1930, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Khu mỏ được thành lập
tại Mạo Khê. Sự kiện này đã tác động mạnh mẽ đến phong trào cách mạng
toàn Khu mỏ.
Đảng ra đời đã tạo điều kiện thúc đẩy phong trào đấu tranh của công nhân
mỏ Mạo Khê tiến lên những bước cao hơn. Những người thợ mỏ Mạo Khê đã
trực tiếp đánh chiếm mỏ Mạo Khê và trở thành bộ phận quan trọng của lực
lượng quân Đệ tứ chiến khu nổi dậy cướp chính quyền trong Cách mạng
Tháng Tám năm 1945. Đồng thời mỏ Mạo Khê còn là cứ điểm quan trọng của
ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Tháng 9 năm 1954, Cục Khai khoáng đã giao nhiệm vụ cho một số cán bộ
về khôi phục Mỏ than Mạo Khê. Sau những ngày chuẩn bị khẩn trương, tích
cực, ngày 15/11/1954, những công việc đầu tiên khôi phục Mỏ được tiến
hành. Từ đó đến nay, ngày 15/11/1954 đã trở thành ngày kỷ niệm hằng năm
của Công ty than Mạo Khê.
“Từ hai bàn tay trắng, thiếu thốn mọi bề, bằng ý chí quyết tâm của người
làm chủ chế độ mới, CNCB mỏ đã khai thác những tấn than đầu tiên cho nhà
máy nhiệt điện Yên Phụ để phát điện đón Bác Hồ và Trung ương về tiếp quản
Thủ đô” [3;tr3]. Quá trình khôi phục mỏ được gắn chặt với cuộc vận động tổ
chức lại sản xuất, cải tiến quản lý, cải tiến phương pháp làm việc. Đây là cuộc
vận động lớn nhằm nâng cao tinh thần tập thể, ý thức tự giác, cải tiến dây
chuyền sản xuất, sửa đối tác phong công tác và lề lối làm việc, tiết kiệm
nguyên vật liệu, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động. Nhờ có
biện pháp đúng đắn và phong trào thi đua sôi nổi, năng suất lúc đầu chỉ đạt 2
công/thìu đã nâng lên 3 công/2 thìu, một tháng đã có lò chợ đầu tiên của Mỏ
để mở ra sản xuất than từ 5 – 10 tấn/ca.

bản cho sự tồn tại và phát triển đối với Công ty than Mạo Khê hôm nay. 10
năm sau khi thống nhất đất nước (1976 – 1986) CNCB cùng với cả nước xây
dựng CNXH. Đó cũng là 10 năm kiên trì phấn đấu và gặp không ít khó khăn:
24


“Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giao kết hợp đồng và thực hiện
hợp đồng lao động tại công ty than Mạo Khê”
thiên tai lũ lụt, lò bị phay phá, tài nguyên cạn kiệt, nguyên vật liệu nhất là gỗ
chống lò, thiết bị máy móc phụ tùng thiếu thốn, đất nước sau 30 năm chiến
tranh bị tàn phá, tình hình kinh tế xã hội khó khăn ảnh hưởng không ít đến đời
sống của Mỏ. Bởi vậy một nửa thời gian Mỏ không hoàn thành kế hoạch giao.
Tuy vậy 10 năm ấy CNCB Mỏ đã từng bước cải tiến được công tác quản lý,
công tác tổ chức và cán bộ, khắc phục khó khăn, tìm tòi sáng tạo, thận trọng
trong bước đi, cách làm, duy trì được sản xuất, tổ chức tốt việc chăm lo đời
sống cho cán bộ công nhân viên từng bước làm thay đổi bộ mặt của Mỏ.
Năm 1994 Tổng công ty than Việt Nam ra đời, hàng loạt các quy chế quản
lý nhằm thúc đẩy sản xuất và chăm lo đời sống người lao động được Tổng
công ty ban hành, tạo động lực cho Công ty không ngừng tăng sản lượng.
Công tác quản lý khai thác, chế biến và kinh doanh được đưa vào nề nếp.
Bước đột phá đầy sáng tạo được thực hiện: mở lò giếng nghiêng -25 và mức
-80, thay đổi công nghệ khai thác, vận tải, mở rộng diện khai thác, áp dụng
sáng kiến cải tiến kỹ thuật vào sản xuất, đổi mới và nâng cao hiệu quả công
tác quản lý, đã tạo điều kiện để Công ty vươn lên mạnh mẽ trong những năm
đầu của thế kỷ 21.
Những năm đầu của thiên niên kỷ mới, tình hình kinh tế nước ta ổn định,
toàn ngành Than với ý chí kỷ luật và đồng tâm, đã vượt qua khó khăn, thử
thách, tiếp tục khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế quốc dân. Theo
đó, Công ty than Mạo Khê đã có các giải pháp đột phá trong việc áp dụng các
tiến bộ mới vào sản xuất, tập trung đẩy mạnh công tác kiến thiết cơ bản, tích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status