BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
PHẠM KIM NGÂN
VẬN DỤNG THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG
(BALANCED SCORECARD) TRONG ĐÁNH GIÁ
THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁT LINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
PHẠM KIM NGÂN
VẬN DỤNG THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG
(BALANCED SCORECARD) TRONG ĐÁNH GIÁ
THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁT LINH
Chuyên ngành : Kế toán ( hướng ứng dụng)
Mã ngành : 8340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học : TS. Nguyễn Ngọc Dung
CHƯƠNG 1: PHÁT HIỆN VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT .............................. 4
1.1 Giới thiệu về công ty ................................................................................. 4
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển............................................................... 4
1.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh ................................................ 5
1.1.3 Cơ cấu tổ chức công tác kế toán tại công ty ............................................. 6
1.2 Nhận diện vấn đề cần giải quyết ................................................................. 7
1.2.1 Vấn đề cần giải quyết và nguyên nhân vấn đề vẫn tồn tại........................ 8
1.2.2 Sự cần thiết phải vận dụng thẻ điểm cân bằng trong đánh giá thành quả
hoạt động của công ty Cát Linh ...................................................................... 10
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ............................................................................... 16
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG
TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG ..................................... 17
2.1 Các nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến mục tiêu của đề tài ............. 17
2.2 Các nghiên cứu trong nước có liên quan đến mục tiêu của đề tài ............. 18
2.3 Nhận xét về các nghiên cứu trước ............................................................. 19
2.4 Cơ sở lý thuyết về thẻ điểm cân bằng trong đánh giá thành quả hoạt động 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ............................................................................... 22
CHƯƠNG 3: KIỂM CHỨNG VẬN DỤNG BSC TRONG ĐÁNH GIÁ
THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CÁT LINH - DỰĐOÁN
NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG ............................................................... 23
3.1 Thực trạng về công tác đánh giá thành quả hoạt động của công ty Cát Linh23
3.1.1 Thực trạng đánh giá thành quả tài chính ................................................ 24
3.1.1.1 Tình hình tài chính của công ty ........................................................... 24
3.1.1.2 Đánh giá thành quả hoạt động ở khía cạnh tài chính........................... 27
3.1.2 Thực trạng đánh giá thành quả ở khía cạnh khách hàng ........................ 30
3.1.2.1 Tình hình đối tượng khách hàng của công ty ...................................... 30
3.1.2.2 Đánh giá thành quả hoạt động ở khía cạnh khách hàng ...................... 30
3.1.3 Khía cạnh quy trình kinh doanh nội bộ .................................................. 36
5.2 Qui định trách nhiệm phối hợp các bộ phận liên quan đến giải pháp ........ 86
5.3 Đánh giá kết quả giải pháp thông qua các chỉ tiêu cụ thể sau khi triển khai 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 ............................................................................... 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCH: Ban chấp hành
BGĐ: Ban giám đốc
BHXH: Bảo hiểm xã hội
KQHDKD: Kết quả hoạt động kinh doanh
MTV: Một thành viên
SX: Sản xuất
TM : Thương mại
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
QS: Phòng dự toán
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 : Doanh thu theo loại công trình thi công 2018............................................... 24
Bảng 2 : Tình hình hoạt động kinh doanh của Cát Linh giai đoạn 20152018 ............................................................................................................................ 25
Bảng 3:Bảng cân đồi kế toán rút gọn Công ty Cát Linh năm 2017- 2018................... 25
Bảng 4 :KQHDKD rút gọn công ty Cát Linh năm 2017-2018 .................................... 26
Bảng 5: Bảng chỉ số tài chính công ty Cát Linh năm 2017 – 2018 ............................. 27
Bảng 6 : Bảng so sánh doanh thu – lợi nhuận công ty Cát Linh năm 2017 –
2018 ............................................................................................................................ 27
Bảng 7: Bảng theo dõi doanh thu khách hàng cũ và khách hàng mới ......................... 31
Bảng 8: Bảng thống kê kết quả khảo sát chất lượng hạng mục thi công năm
2018 ............................................................................................................................ 31
các phát hiện, các vấn đề cần giải quyết tại công ty Cát Linh trong đánh giá
thành quả hoạt động của công ty. Cụ thể, tác giả tập trung trình bày những nội
dung như giới thiệu về công ty Cát Linh, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh
doanh, cơ cấu tổ chức công tác kế toán tại công ty, và đặc biệt là trình bày nội
dung liên quan đến tổ chức phân tích hoạt động kinh doanh trong công ty. Từ
việc trình bày những nội dung nêu trên, tác giả nhận thấy việc đánh giá hoạt
động kinh doanh trong công ty còn nhiều hạn chế, như trình độ nhân lực quản
lý trong việc xây dựng các chỉ tiêu và đo lượng thành quả hoạt động của công
ty còn hạn chế; khó khăn trong việc xác định đúng chiến lược kinh doanh và
xây dựng các thước đo; việc phát triển kế hoạch/ biện pháp, ngân sách thực
hiện các mục tiêu chưa tốt; Công ty chưa chú trọng theo dõi kết quả thực hiện
trong quá trình triển khai để có sự điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế;
Chưa chú trọng việc xây dựng hệ thống lương, thưởng dựa trên thành
tích;…do vậy cần tập trung giải quyết những hạn chế vừa nêu, mà theo tác giả
là vận dụng thẻ điểm cân bằng vào đánh giá thành quả hoạt động của công ty
là cần thiết.
Qua xác định các hạn chế trong việc đánh giá thành quả hoạt động tại
Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Cát Linh, kiểm chứng các hạn chế, cũng như
những nguyên nhân gây nên hạn chế trong đánh giá thành quả hoạt động của
Công ty, đề tài cũng để đề xuất một số giải pháp, xây dựng kế hoạch hành
động liên quan đến vận dụng thẻ điểm cân bằng trong đánh giá thành quả của
công ty trong thời gian tới.
ABSTRACT
Through the study, the author presented the contents related to the
findings and issues to be solved at Cat Linh Company in assessing the
performance of the company. Specifically, the author focuses on presenting
contents such as introduction of Cat Linh company, business and production
để khẳng định con đường mà đơn vị đang đi không bị chệch hướng và chiến lược
họ đang thực hiện phù hợp với mục tiêu đặt ra.
Những thước đo tài chính truyền thống sử dụng trong đánh giá thành quả
hoạt động của một tổ chức – chủ yếu là cung cấp các thông tin tài chính trong quá
khứ, không thể dự báo thành quả hoạt động trong tương lai đã trở nên lạc hậu,
không còn phù hợp với thời kỳ cạnh tranh thông tin khi mà hoạt động tạo ra giá
trị của tổ chức ngày càng chuyển từ sự phụ thuộc vào tài sản hữu hình, tài sản vật
chất sang tài sản vô hình, tài sản phi vật chất.
Rober S.Kaplan và David Norton đã phát triển Hệ thống Thẻ cân bằng
điểm (Balance Scorecard – BSC) giúp các tổ chức chuyển tầm nhìn chiến lược
thành mục tiêu và thước đo cụ thể thông qua việc thiết lập hệ thống bốn phương
diện tài chính, khách hàng, qui trình hoạt động kinh doanh nội bộ, học hỏi và phát
triển để đo lường thành quả hoạt động của doanh nghiệp.
Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Cát Linh đã đạt một số thành tựu nhất
định, và là một trong số các doanh nghiệp duy trì được lợi nhuận hàng năm trong
thời kỳ suy thoái kinh tế nói chung và trong thời kỳ ngành xây dựng gặp khó
khăn lớn nói riêng. Tuy nhiên, tại công ty công tác quản lý vẫn còn nhiều hạn chế
như trình độ nhân lực quản lý trong việc xây dựng các chỉ tiêu và đo lượng thành
quả hoạt động của công ty còn chưa phù hợp, việc xác định đúng chiến lược kinh
doanh và xây dựng các thước đo còn nhiều khó khăn, phát triển kế hoạch/ biện
pháp, ngân sách thực hiện các mục tiêu chưa tốt,... Do vậy, làm thế nào đương
đầu với thách thức trên thị trường cũng như phát triển mạnh trong tương lai đòi
hỏi doanh nghiệp phải xây dựng chiến lược tốt, xây dựng hệ thống đo lường đánh
2
giá thành quả hoạt động một cách hữu hiệu và hiệu quả hơn nữa. Cụ thể là đo
lường hoạt động của doanh nghiệp thông qua các phương diện tài chính, khách
hàng, quy trình nội bộ và học hỏi, phát triển. Từ đó, đánh giá được trách nhiệm
Công ty, để đề xuất một số giải pháp, xây dựng kế hoạch hành động liên quan đến
vận dụng BSC trong đánh giá thành quả của công ty trong thời gian tới.
4
CHƯƠNG 1: PHÁT HIỆN VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
1.1 Giới thiệu về công ty
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty CP Đầu Tư Xây Dựng Cát Linh được thành lập theo Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh số 0309130759 ngày 01 tháng 03 năm 2010 do Sở Kế
hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp. Với ngành nghề kinh doanh là xây
dựng nhà các loại và kinh doanh bất động sản. Trụ sở chính tại địa chỉ: 71/24
Nguyễn Công Hoan, Phường 7, Quận Phú Nhuận, Tp.HCM. Sau nhiều lần thay
đổi Giấy phép kinh doanh, thông tin của công ty hiện tại như sau:
-
Tên đầy đủ: CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁT LINH
-
Tên giao dịch: CAT LINH CONSTRUCTION AND INVESTMENT
JOINT STOCK COMPANY
-
Tên viết tắt: CAL
-
to lớn, xây dựng được một vị thế vững chắc trong lĩnh vực xây dựng với những
dự án tầm cỡ và trở thành một nhà thầu uy tín. Cát Linh đã có một bước chuyển
mình lớn từ khi mới thành lập đến nay. Với bề dày kinh nghiệm, cũng như những
sản phẩm, dịch vụ chất lượng cung cấp cho khách hàng. Cát Linh ngày càng
5
chứng tỏ rằng mình xứng đáng là một đối tác lâu dài, đáng tin cậy và vươn lên trở
thành một thương hiệu hàng đầu cho sự lựa chọn của khách hàng.
Trên thực tế bản thân công ty cũng có những khó khăn đang tồn tại cần
khắc phục các doanh nghiệp xây dựng nước ngoài mạnh về vốn, kỹ thuật, quản lý
tiên tiến đang xâm nhập vào thị trường xây dựng Việt Nam rất nhiều, gây nhiều
bất lợi cho công ty xây dựng Việt Nam nói chung và Cát Linh nói riêng trong quá
trình đấu thầu, cũng như cạnh tranh về giá thầu xây dựng. Bên cạnh đó, các vấn
đề liên quan đến pháp luật, quy định về xây dựng, thi công công trình cũng
thường xuyên thay đổi gây nhiều khó khăn cho công ty trong quá trình hoạt động.
1.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh
Sơ đồ tổ chức công ty
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN KIỂM SOÁT
TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ TỔNG
GIÁM ĐỐC
PHÓ
PHÓ
ĐỒNG
VÀ AN
KẾ
TOÀN
PHÒNG
CƠ ĐIỆN
PHÒNG
THI
CÔNG
6
PHÒNG
HÀNH
CHÍNH
NHÂN SỰ
PHÒNG
ĐẤU
THẦU
PHÒNG
KẾ
HOẠCH
thuộc cao ốc văn phòng, trung tâm thương mại.
1.1.3 Cơ cấu tổ chức công tác kế toán tại công ty
7
Công ty thực hiện việc ghi sổ kế toán, lập và trình bày Báo cáo tài chính
theo hướng dẫn của thông tư 200/ 2014/ TT – BTC hướng dẫn chế độ kế toán
doanh nghiệp ban hành ngày 22/12/2014, tuân thủ Luật kế toán (Luật số:
88/2015/QH13 ban hành ngày 20/11/2015) và áp dụng các chế độ, chính sách kế
toán theo qui định của Nhà Nước có liên quan đến hoạt động của công ty.
Công ty tổ chức ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung. Công ty tổ
chức quản lý kế toán theo hình thức tập trung, toàn bộ công việc kế toán được tập
trung tại phòng tài chính kế toán để xử lý. Phòng tài chính kế toán chịu trách
nhiệm tất cả các công việc của kế toán từ khâu xử lý chứng từ đến việc ghi sổ
sách tổng hợp, chi tiết, lập báo cáo tài chính...
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán:
Kế toán trưởng
Phó phòng kế toán
Kế
Kế
Kế
Kế
tài
lao
thanh
chi
tổng
nợ
sản
động
toán
phí
hợp
cố
tiền
sản
định
Kể từ năm 2015, khi hoạt động kinh doanh của công ty đã đi vào ổn định,
sinh lãi, công ty luôn đóng góp hàng tỷ đồng tiền thuế vào ngân sách Nhà nước
hàng năm, bên cạnh đó, công ty cũng hỗ trợ việc làm cho hàng trăm lao động có
hộ khẩu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và những khu vực lân cận, tạo điều
kiện việc làm, thu nhập, hỗ trợ người lao động ổn định cuộc sống, tham gia
BHXH cho người lao động, tạo điều kiện làm việc an toàn, góp phần đảm bảo an
sinh xã hội cho người lao động. Bên cạnh đó, với đặc thù ngành nghề xây dựng,
công ty nhận thức rõ những tác động của doanh nghiệp đến môi trường nên
thường xuyên tổ chức tuyên truyền, nâng cao ý thức nhân viên công ty về bảo vệ
môi trường trong quá trình hoạt động.
Đối với khía cạnh khách hàng:
+ Tăng trưởng thị phần của công ty: Công ty có nghiên cứu, tìm hiểu,
xác định điểm mạnh và điểm yếu của đơn vị, tuy nhiên, công tác này chưa được
thực hiện một cách khoa học, chưa hệ thống, chủ yếu được thực hiện khi nhận
thầu công trình mới, hoặc những khó khăn mà công ty gặp phải trong khi thi công
9
các dự án xây dựng, chính điều này tạo tâm thế bị động trước các tác nhân gây rủi
ro cho hoạt động của công ty.
+ Tăng sự hài lòng của khách hàng hiện tại: Tương tự với việc đánh giá
môi trường bên trong, việc phân tích môi trường bên ngoài công ty cũng chưa
thực hiện hiệu quả, đồng bộ. Trên thực tế, các doanh nghiệp xây dựng nước ngoài
mạnh về vốn, kỹ thuật, quản lý tiên tiến đang xâm nhập vào thị trường xây dựng
Việt Nam rất nhiều, việc bị động trong nghiên cứu, phân tích đối thủ gây nhiều
bất lợi cho công ty xây dựng Việt Nam nói chung và Cát Linh nói riêng trong quá
trình đấu thầu, cũng như cạnh tranh về giá thầu xây dựng. Bên cạnh đó, môi
trường bên ngoài của công ty liên quan đến pháp luật, quy định về xây dựng, thi
công công trình cũng thường xuyên thay đổi, không ổn định, việc không tổ chức
trong đánh giá thành quả hoạt động của công ty còn chưa đầy đủ, chưa phản ánh
được tính toàn diện và thống nhất trong đánh giá thành quả công ty.
Trên cơ sở kiến thức được học về BSC, cũng như qua quá trình hệ thống
cơ sở lý thuyết, nghiên cứu các bài học vận dụng thành công BSC ở doanh nghiệp
trong đánh giá thành quả hoạt động của đơn vị, tác giả nhận thấy việc vận dụng
BSC vào Cát Linh là rất phù hợp, và mạnh dạn đề xuất vận dụng BSC vào giải
quyết những hạn chế trong công tác phân tích hoạt động của công ty hiện nay.
1.2.2 Sự cần thiết phải vận dụng thẻ điểm cân bằng trong đánh giá thành
quả hoạt động của công ty Cát Linh
Thẻ điểm cân bằng ra đời đã khắc phục được những hạn chế của thước đo
truyền thống và nó nhanh chóng được các tổ chức áp dụng rộng rãi và đạt được
những thành công vang dội trên toàn thế giới. Thẻ điểm cân bằng cung cấp cho
nhà quản trị các thiết bị đo lường để chèo lái tổ chức đạt tới những thành công
đầy tính cạnh tranh trong tương lai.
Nền kinh tế thế giới đang ở trong giai đoạn chuyển hóa mang tính cách
mạng, cạnh tranh trong thời đại công nghiệp đang dần chuyển hóa thành cạnh
tranh trong thời đại công nghệ thông tin. Bên cạnh đó, sự lỗi thời của thước đo tài
chính truyền thống đã không cung cấp cho nhà quản trị cái nhìn toàn cảnh, những
thông tin đúng, đủ và kịp thời về tình hình hiện tại cũng như những hướng đi
trong tương lai.Sự ra đời của Thẻ điểm cân bằng mang tính tất yếu, được phân
tích bởi những nội dung sau:
+ Cạnh tranh trong thời đại thông tin
11
Nền kinh tế thế giới đang dịch chuyển từ sự cạnh tranh trong thời đại công
nghiệp sang cạnh tranh trong thời đại công nghệ thông tin. Trong suốt thời đại
công nghiệp năm 1850 đến khoảng năm 1975, các công ty đã thành công bằng
cách nắm bắt tốt những lợi ích từ các lợi thế kinh tế theo quy mô và phạm vi, cụ
thông tin điều khác biệt là những hoạt động kinh doanh hay các sản phẩm được
khởi sự từ các đơn đặt hàng của khách hàng, xây dựng một hệ thống “ngược” từ
nhu cầu của khách hàng đến các nhà cung cấp liên quan, có nghĩa là sự hồi đáp
nhanh chóng làm thỏa mãn khách hàng, tăng hiệu quả và có được những cải thiện
đáng kể về chí phí, chất lượng. Chính sự bắt đầu từ nhu cầu của khách hàng đã
góp phần làm cho tất cả các bộ phận trong tổ chức có thể hiểu rõ một các sâu sắc
về mục tiêu, đối tượng của doanh nghiệp hướng đến.
+Những hạn chế của thước đo tài chính
Thước đo tài chính là công cụ phổ biến để phân tích được sử dụng qua
nhiều thế kỷ, báo cáo tài chính cho thấy “sức khỏe” của doanh nghiệp cho các cổ
đông và những người sử dụng báo cáo tài chính thông qua sự thay đổi của các tài
khoản lợi nhuận, tuy nhiên thước đo tài chính trong thời đại công nghệ thông tin
đã bộc lộ những hạn chế khi đánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp, điều
đó thể hiện qua những khía cạnh sau:
Sự gia tăng nhanh chóng của tài sản vô hình
Khác với thời đại công nghiệp, thời đại công nghệ thông tin ngày nay thì
tài sản sản vô hình chiếm một vị thế vô cùng quan trọng và là nguồn lực cơ sở để
doanh nghiệp tạo ra giá trị trong tương lai. Nhưng trên báo cáo tài chính chỉ cung
cấp được những thông tin tài chính mà bỏ qua các thông tin phi tài chính về tài
sản vô hình mà đặc biệt là các tài sản vô hình thuộc về trí tuệ và năng lực của tổ
chức như sự trung thành, ghi nhớ của khách hàng, đội ngũ nhân viên có năng lực
cao, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, quy trình hoạt động kinh doanh hiệu
quả, … Do đó, bức tranh tài chính của doanh nghiệp không cung cấp đúng, đủ,
toàn diện về năng lực của doanh nghiệp cho quyết định của nhà quản trị, cũng
như thông tin ra các tổ chức bên ngoài. Điều này, có thể dẫn tới doanh nghiệp sẽ
mất cơ hội cho sự phát triển và xây dựng vị thế của doanh nghiệp trong tương lai.
Khả năng của mỗi công ty trong việc huy động và khai thác tài sản vô hình
ngày càng trở thành một yếu tố có tính quyết định hơn so với việc đầu tư và quản
tài sản vô hình và tri thức – những thứ có thể mang lại sự tăng trưởng trong tương
lai Robert S.Kaplan & David P.Norton. Khi mà các nhà quản lý chịu sức ép bởi
14
các kết quả tài chính trong ngắn hạn thì họ phải đánh đổi bằng việc hạn chế đầu
tư, hạn chế tìm kiếm những cơ hội phát triển mới. Nghiêm trọng hơn, việc quá
chú trọng theo đuổi những chỉ số tài chính ngắn hạn về gia tăng doanh thu, giảm
chi phí, hay tốc độ nhanh của vòng quay tài sản các công ty buộc phải cắt giảm
chi tiêu trong việc phát triển sản phẩm mới, sa thải nhân công, thu hẹp quy mô
hoạt động, bỏ qua chi phí đào tạo, quảng bá, các quy trình cải thiện hệ thống như
công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống cở sở dữ liệu cũng như phát triển mối
quan hệ với khách hàng, nhà cung cấp. Trước mắt, những hành động này làm gia
tăng khả năng sinh lời nhanh chóng, đạt được mục tiêu kết quả tài chính ngắn hạn
nhưng sự tiêu tốn hết nguồn lực và khả năng của công ty cho việc tạo ra giá trị
kinh tế tương lai cùng với sự thiếu trung thành, thoả mãn của khách hàng, trình
độ của nhân viên không được đào tạo nâng cao và thiếu sự cam kết lâu dài với
doanh nghiệp sẽ khiến công ty đánh mất cơ hội trong cuộc đua dài hạn.
Các chỉ số tài chính có thể bị bóp méo, không thể hiện trung thực về
thực trạng của doanh nghiệp
Việc đánh giá doanh nghiệp chỉ dựa vào kết quả tài chính, đã làm cho
những nhà quản trị chạy theo những mục đích riêng lợi dụng những thủ thuật
“làm đẹp” báo cáo tài chính. Doanh nghiệp cố tình bóp méo thực trạng tài chính
hiện tại của doanh nghiệp. Sử dụng những tài khoản chờ phân bổ, hay treo chi phí
trong giá trị hàng tồn kho, hoặc khai khống doanh thu, các khoản phải thu để đạt
được mức tăng trưởng lợi nhuận như mong muốn. Điều này làm cho thực trạng
tài chính của doanh nghiệp đang ẩn chứa những rủi ro tiềm tàng, cung cấp thông
tin một cách không chính xác cho các đối tượng sử dụng thông tin.
Báo cáo tài chính không cung cấp thông tin cho từng bộ phận