Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012
Nghiên cứu Y học
Nghiên cứu Y học
ĐÁNH GIÁ BIỆN PHÁP CAN THIỆP PHÒNG NGỪA THỪA CÂN,
BÉO PHÌ HỌC SINH MẪU GIÁO TẠI TRƯỜNG MẪU GIÁO
QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2010
Phùng Đức Nhật*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Thừa cân, béo phì là vấn đề y tế công cộng nổi trội, cần được quan tâm nhiều. Hiện nay, tình
trạng này không chỉ giới hạn ở người lớn mà tỷ lệ thu được ở trẻ nhỏ cũng đáng báo động. Việc cung cấp các
biện pháp phòng ngừa thừa cân, béo phì ở trẻ và lượng giá lại có vai trò quan trọng trong công tác đẩy lùi đại
dịch này.
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ thừa cân, béo phì và các yếu tố liên quan ở trẻ đang học tại hai trường
mầm non quận 4, Tp.HCM và đánh giá tác động của biện pháp can thiệp phòng ngừa thừa cân, béo phì
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp cộng đồng, tiến hành qua 3 giai đoạn: điều tra cắt ngang
thu thập số liệu, can thiệp, đánh giá tác động can thiệp. Thời gian thực hiện từ 6/2010-6/2011, nghiên cứu tiến
hành bằng cách phát phiếu hỏi cho phụ huynh để tìm hiểu nhận định của họ về tình trạng dinh dưỡng ở trẻ.
Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ trẻ bị thừa cân, béo phì ghi nhận được sau can thiệp (38,6%) cao hơn ban đầu
(33,8%). Các yếu tố như giới tính, khối lớp, tốc độ ăn và ăn thức ăn chiên xào có liên quan đến tỷ lệ thừa cân,
báo phì (p
parents having the right knowledge of nutrition, overweight and obesity post-intervention was higher than
pre- intervention
Conclusion: Effective intervention measures to prevent overweight and obesity issues in children
should be maintained
Key words: Overweight, obesity, intervention measures
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thừa cân, béo phì hiện đang là đại dịch được
thế giới quan tâm(4). Hiện nay, thừa cân, béo phì
không chỉ là vấn đề nghiêm trọng thường gặp ở
người lớn mà tình trạng này đã mở rộng ra đến
đối tượng trẻ em và ngày càng gia tăng.
Nghiên cứu tình trạng thừa cân và béo phì
của dân cư thành phố Hồ Chí Minh từ 1996 đến
2001, Trần Thị Hồng Loan ghi nhận sự gia tăng
tỷ lệ thừa cân của trẻ dưới 5 tuổi: 2,0% năm
1996; 2,1% năm 1999; 3,1% năm 2000; 3,4%
năm 2001. Riêng học sinh nhà trẻ, mẫu giáo
trong niên học 2000 - 2001 quận ven Gò Vấp có
tỷ lệ béo phì 7,9%. Còn học sinh cấp I (6-11 tuổi)
ở quận 1 nội thành năm 1997 có tỷ lệ béo phì
12,2%(2).
Các chương trình can thiệp phòng ngừa thừa
cân, béo phì ở các trường mẫu giáo trong thời
gian qua cũng đã được thực hiện, tuy nhiên đánh
giá hiệu quả chương trình can thiệp này thì chưa
được quan tâm nhiều, điều này thúc đẩy chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này.
ĐỐITƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
thường)
z (1thường).
) = 1,28 (tra bảng phân phối bình
4/2010 là 11% =>
= 0,11.
là tỷ lệ thừa cân béo phì mong muốn đạt
được sau khi áp dụng các biện pháp phòng ngừa
thừa cân béo phì vào trường mầm non Sao mai
12 là 3% => = 0,03.
Ta tính được n = 210 trẻ.
Mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu
theo đơn vị trường nghiên cứu. Số mẫu cần thiết
được nhân 2 với số trường nghiên cứu. Ta có, số
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012
mẫu nghiên cứu cho mỗi đợt là 210 x 2 = 420 trẻ.
Số lần điều tra là 02 đợt, nên tổng số mẫu là 420
x 2= 840 trẻ.
Tiêu chuẩn chọn đối tượng vào nhóm
nghiên cứu
Giai đọan 1: Nghiên cứu cắt ngang đánh giá
các số liệu cơ bản ban đầu
Nghiên cứu Y học
Nghiên cứu Y học
Truyền thông cho phụ huynh, khuyến khích
gia đình tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ.
Giai đoạn 3: Đánh giá tác động can thiệp
Định nghĩa thừa cân
“Nguy cơ thừa cân” và “thừa cân” là thuật
ngữ được dùng để chỉ tình trạng trẻ em có cân
nặng vượt quá mức bình thường. Ở người lớn, đo
lường tình trạng trên dựa vào chỉ số BMI (body
mass index), ta tính bằng cách lấy cân nặng tính
bằng kg chia bình phương chiều cao tính bằng
mét(1). Tuy nhiên, khi tính toán trên đối tượng trẻ
em, có nhiều khuyến cáo nên sử dụng chỉ số BMI
theo tuổi và giới vì tình trạng thừa cân hay béo
phì của trẻ bị phụ thuộc bởi tác động của yếu tố
tuổi và giới. Theo phân loại của Tổ chức y tế thế
giới(5):
Thừa cân: >+ 1 SD (tương đương với BMI
25kg/m2 ở tuổi 19).
Béo phì: >+ 2SD (tương đương với BMI 30
kg/m2 ở tuổi 19).
KẾT QUẢ
Bảng 1: Tỷ lệ thừa cân, béo phì (TCBP) ở hai
trường mầm non quận 4
TCBP
Mầm non SM 13
Nữ
Lớp
Mầm
Chồi
Lá
Trường Mầm non Sao Mai 13
(trường chứng)
Bình thường
TCBP
65 (51,6%)
61 (48,4%)
64 (76,1%)
20 (23,8%)
2
χ = 12,8, p=0,000
39 (54,9%)
32 (45,1%)
49 (71,0%)
20 (29,0%)
41 (58,7%)
29 (41,3%)
Trường Mầm non Sao Mai 12
(trường can thiệp)
Bình thường
TCBP
57 (55,9%)
Trường Mầm non Sao Mai 13
(trường chứng)
Bình thường
TCBP
χ2 =4,18, p=0,124
15 (34,9%)
28 (65,1%)
62 (60,2%)
41 (39,8%)
52 (81,2%)
12 (18,8%)
2
χ = 23,4, p=0,000
50 (52,1%)
46 (47,9%)
79 (69,3%)
35 (30,7%)
χ2 = 6,51, p=0,011
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ
thừa cân, béo phì của trẻ và các yếu tố như: giới
tính, khối lớp, tốc độ ăn và thức ăn chiên xào (p
= 0,000 < 0,05).
Tại trường SM 12 (trường can thiệp): Tỷ lệ
nam bị thừa cân, béo phì ở trường SM12 chiếm
44,1% trong khi ở nữ tỷ lệ này chỉ có 24,1%.
Trẻ ở lớp mầm, chồi, lá có tỷ lệ thừa cân, béo
phì lần lượt là 25,7%, 31,5% và 46,1%. Những
trẻ có tốc độ ăn nhanh có tỷ lệ thừa cân, béo
p
0.25
Tỷ lệ phụ huynh có kiến thức đúng về dinh
dưỡng sau can thiệp là 72,04 % cao hơn so với
ban đầu (61,4%). Tuy nhiên, không tìm được
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức
dinh dưỡng đúng trước và sau can thiệp
(p=0,25 >0,05).
Bảng 4: Kiến thức đúng về thừa cân, béo phì của
phụ huynh (n=420)
Kiến thức
Trường mầm non Sao Mai 12
dinh
Trước can thiệp Sau can thiệp
dưỡng
(n=210)
(n=210)
p
đúng
Có
Không
Nghiên cứu Y học
Nghiên cứu Y học
Trường Mầm non Sao Mai 12
với trước can thiệp (83,1%). Sự khác biệt không
có ý nghĩa thống kê (p = 0,725 > 0,05).
BÀN LUẬN
Khảo sát lần đầu, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở
trường SM 13 và SM 12 lần lượt là 38,6%;
33,8%. Sau can thiệp, tỷ lệ thu được ở trường can
thiệp tăng lên 38,6%, cao hơn so với ban đầu
(33,8%). Điều này có thể do kiến thức về dinh
dưỡng và thừa cân, béo phì của phụ huynh được
cải thiện nên việc tầm soát sớm trẻ thừa cân tốt
hơn.
Tình trạng thừa cân, béo phì của trẻ đang học
ở trường mầm non SM 12 – trường can thiệp có
liên quan đến các yếu tố về giới tính, khối lớp
học, tốc độ ăn. Trẻ nam có tỷ lệ thừa cân, béo phì
là 44,1% cao gần gấp đôi so với trẻ nữ 24,1%
(p=0,002
có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng thừa cân, béo
phì của trẻ với các yếu tố thuộc về gia đình trẻ:
trình độ học vấn cha, mẹ; nghề nghiệp cha, mẹ;
các thói quen ăn uống và sở thích của trẻ như:
thói quen ăn vặt, sở thích ăn thức ăn béo, thức ăn
ngọt, thức ăn nhanh. (p > 0,05).
Phụ huynh có kiến thức đúng về dinh
dưỡng sau can thiệp là 72,04 % cao hơn hẳn so
với ban đầu (61,4%). Tỷ lệ phụ huynh có kiến
thức đúng về thừa cân, béo phì sau can thiệp là
87,1% cao hơn so với trước can thiệp (83,1%).
Nghiên cứu Y học
Nghiên cứu Y học
Số phụ huynh có con bị thừa cân, béo phì có
kiến thức đúng về thừa cân, béo phì sau can
thiệp là 87,20%, cao hơn hẳn so với trước can
thiệp (83,81%).
KHUYẾN NGHỊ
Nhà trường cần thường xuyên cung cấp
thông tin về cân nặng, chiều cao của trẻ cho gia
đình để phụ huynh cho trẻ ăn uống theo một chế
độ phù hợp.
Tổ chức các hoạt động tư vấn dinh dưỡng
cho phụ huynh, đặc biệt là phụ huynh trẻ có vấn
đề về dinh dưỡng.
Tăng các hình thức hoạt động thể dục tại các
trường mầm non.
Nhà trường nên dành diện tích trong khuôn
WHO. Growth reference 5-19 years. BMI for age.
http://www.who.int/growthref/who2007_bmi_for_age/en/ind
ex.html
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 3 * 2012
Nghiên cứu Y học
6Chuyên Đề Y Tế Công Cộng6
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng