BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
VÕ TRUNG HIẾU
KHẢO SÁT
DANH MỤC THUỐC VÀ VACCINE ĐƯỢC
SỬ DỤNG TẠI TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG
QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2017
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
VÕ TRUNG HIẾU
KHẢO SÁT
DANH MỤC THUỐC VÀ VACCINE ĐƯỢC
SỬ DỤNG TẠI TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG
QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGHÀNH:TCQLD
MÃ SỐ: CK 60 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Xuân Thắng
Thời gian thực hiện: Từ ngày 18/07/2016 đến ngày 18/11/2016
HÀ NỘI 2017
NỘI DUNG
STT
TRA
NG
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH
DANH MỤC BẢNG
1.1
1.1.1
1.1.2
ĐẶT VẤN ĐỀ
2
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN
3
Tình hình sử dụng thuốc theo CTMTYTQG
3
Khái quát về chương trình mục tiêu y tế quốc gia
15
Chức năng và nhiệm vụ
15
1.3
1.3.1
1.3.2
1.3.3
1.3.4
1.4
Sơ đồ tổ chức Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Quận 8 TP. Hồ Chí
Minh
Cơ cấu nhân lực năm 2015
Giới thiệu sơ nét về Khoa Dược -VTTBYT Trung Tâm Y Tế Dự
Phòng Quận 8, TP.HCM
Tính cấp thiết của đề tài
18
19
20
21
CHƯƠNG II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
22
22
2.2.3
Phương pháp thu thập số liệu
24
2.2.4
Xử lý và phân tích số liệu
24
2.2.5
Phương pháp trình bày kết quả nghiên cứu
24
2.1
2.2
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1
Kết quả sử dụng thuốc theo CTMTYTQG, Viện trợ tại Trung
Tâm Y Tế Dự Phòng Quận 8 TP.HCM năm 2015
32
3.1.6
Thuốc chương trình ARV
32
3.1.7
Thuốc chương trình Methadone
34
3.1.8
Thuốc chương trình nhiễm trùng cơ hội
35
Kết quả sử dụng vaccine theo chương trình TCMR, vaccine tiêm
3.2
chủng dịch vụ tại Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Quận 8 TP.HCM
36
năm 2015
3.2.1
3.2.2.2 Cơ cấu danh mục cấp phát và sử dụng vaccine dịch vụ
41
3.2.2
CHƯƠNG IV. BÀN LUẬN
4.1
4.2
Sử dụng thuốc trong CTMTYTQG,viện trợ tại Trung Tâm Y Tế
Dự Phòng Quận 8 TP.HCM năm 2015
Sử dụng vaccine trong chương trình TCMR, vaccine dịch vụ tại
Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Quận 8 TP.HCM năm 2015
45
45
49
4.2.1
Sử dụng vaccine trong chương trình TCMR
49
4.2.2
Sử dụng vaccine tiêm chủng dịch vụ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
ARV
Tiếng Anh
Antiretroviral
Tiếng Việt
Thuốc kháng virus sao chép
ngược
BYT
Bộ Y tế
BGĐ
Ban giám đốc
BHYT
Bảo hiểm y tế
BVSKTT
Bảo vệ sức khỏe tâm thần
BSGĐ
ĐH
Đại học
GTTTSD
Giá trị tiền thuốc sử dụng
human immunodeficiency
HIV/AIDS
virus infection / acquired
Hội chứng suy giảm miễn
immunodeficiency
dịch mắc phải ở người
syndrome
HC
Hoạt chất
KHHGĐ
Kế hoạch hóa gia đình
Trung Tâm Y Tế Dự Phòng
TCMR
Tiêm chủng mở rộng
TYT
Trạm Y Tế
TDDL
Tác dụng dược lý
UBPC AIDS
Ủy Ban Phòng Chống AIDS
VN
Việt Nam
WHO
YHDP
World Health
Organization
Tổ chức y tế thế giới
Y học dự phòng
19
2.1
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
Các chỉ số, biến số nghiên cứu trong phân tích danh mục
thuốc chương trình MTYTQG, viện trợ sử dụng
Cơ cấu danh mục thuốc chương trình mục tiêu Y tế Quốc gia
-Viện trợ theo nhóm tác dụng dược lý
Cơ cấu danh mục thuốc chương trình phòng chống Lao năm
2015
Cơ cấu danh mục Thuốc chương trình kế hoạch hóa gia đình
năm 2015
Cơ cấu danh mục Thuốc chương trình bảo vệ sức khỏe tâm
thần năm 2015
Cơ cấu danh mục thuốc chương trình phòng chống sốt rét
năm 2015
Cơ cấu danh mục thuốc chương trình vitamin A năm 2015
35
3.10
Cơ cấu danh mục vaccine TCMR năm 2015
37
3.11
Cơ cấu danh mục vaccine dịch vụ năm 2015
41
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
HÌNH/
BIỂU
DANH MỤC
TRANG
ĐỒ
1.1
Sơ đồ tổ chức Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Quận 8-TP.
HCM
44
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam nói chung và tại TP Hồ Chí
Minh nói riêng trong thời gian qua đời sống của người dân ngày càng được cải
thiện một cách đáng kể thu nhập được nâng cao đời sống, vật chất, tinh thần
ngày càng cải thiện, vấn đề chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu là một đòi hỏi chính
đáng và thiết yếu của người dân. Trong những năm gần đây các mục tiêu chăm
sóc sức khỏe cho người dân được Đảng và nhà nước đặt lên hàng đầu, những
bệnh viện mới cả công và tư lần lượt được hình thành với các trang thiết bị hiện
đại và kỹ thuật cao được đưa vào vận hành song song đó vấn đề về thuốc men,
vaccine sinh phẩm là một phần không thể thiếu trong công tác chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe người dân.
Sự ra đời của vaccine là thành tựu vĩ đại của lịch sử y học mà các nhà
khoa học đã nghiên cứu thành công và đưa vào sử dụng đạt hiệu quả cao trong
công tác phòng bệnh. Chính điều đó đã thúc đẩy nền y học thế giới ngày càng
phát triển mạnh, nhiều loại vaccine lần lượt được phát minh đã làm thay đổi hiệu
quả tình hình sức khỏe của con người.
Trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân nói chung và
việc tiêm vaccine phòng một số bệnh truyền nhiễm nói riêng Bộ Y Tế giao trách
nhiệm cho Trung Tâm Y Tế Dự Phòng từ tuyến tỉnh đến các tuyến cơ sở phải
theo sát mục tiêu “phòng bệnh hơn chữa bệnh” là hướng đi đúng đắn cho việc
chăm sóc sức khỏe ban đầu cho các thế hệ mai sau.
Mặc dù còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất và trang thiết bị nhưng
Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Quận 8 hàng năm đều hoàn thành tốt nhiệm vụ chăm
sóc và bảo vệ sức khỏe cho người dân. Các hoạt động về truyền thông nhằm đẩy
lùi dịch bệnh, công tác tiêm chủng, khám chữa bệnh cho người dân luôn được
ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe của Quận 8 nhắc nhở và thường xuyên đôn đốc.
Các chỉ số về sức khỏe luôn được cải thiện khống chế được các loại dịch không
Định nghĩa vaccine: Là chế phẩm chứa kháng nguyên tạo cho cơ thể khả
năng đáp ứng miễn dịch, được dùng với mục đích phòng bệnh[12].
Trong nhiều năm qua, với những nỗ lực không ngừng của ngành y tế công
tác y tế dự phòng đã đạt được nhiều tiến bộ về các tổ chức, hệ thống cũng như
các thành tựu quan trọng trong nhiều lĩnh vực, các chương trình tiêm chủng
phòng bệnh bằng các loại vaccine đã được triển khai rộng khắp trên toàn quốc,
từ đồng bằng đến vùng cao, hải đảo đã làm cho tỷ lệ các bệnh truyền truyền
nhiễm thường gặp giảm đáng kể vì được chủng ngừa đúng cách.
Sử dụng vaccine là biện pháp phòng bệnh truyền nhiễm hiệu quả nhất và ít
tốn kém nhất hiện nay có rất nhiều bệnh truyền nhiễm có thể phòng ngừa bằng
vaccine, tại Việt Nam sử dụng vaccine bằng hình thức tự nguyện và được nhà
nước chi trả thông qua chương trình TCMR.
Hàng năm Nhà nước cấp kinh phí đầy đủ để mua vaccine sử dụng cho trẻ
em và phụ nữ mang thai là đối tượng của Chương trình tiêm chủng mở rộng
Quốc gia. Các vaccine sử dụng trong Chương trình tiêm chủng mở rộng Quốc
gia đã được triển khai trên toàn quốc cho hơn 1,5 triệu trẻ, thực tế qua triển khai
tiêm chủng mở rộng hơn 30 năm qua với hàng trăm triệu mũi tiêm đã minh
chứng tính an toàn của vaccine và hiệu quả phòng bệnh đã làm thay đổi cơ cấu
bệnh tật ở trẻ em Việt Nam[19].
Thời gian qua, các vaccine sản xuất trong nước sử dụng trong Chương
trình tiêm chủng mở rộng Quốc gia đã góp phần bảo vệ trẻ hiệu quả khỏi các
bệnh truyền nhiễm.Việt Nam đã sản xuất được 10 loại vaccine sử dụng trong
Chương trình tiêm chủng mở rộng Quốc gia và đến nay, Chương trình tiêm
3
chủng mở rộng Quốc gia tại Việt Nam đã triển khai 12 loại vaccine phòng bệnh
truyền nhiễm nguy hiểm, trong đó có 10 loại vaccine do Việt Nam sản xuất trong
nước. Đó là vắc xin phòng các bệnh lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, viêm
gan B, sởi, viêm não Nhật Bản B, tả, thương hàn. Với các vaccine sản xuất trong
Dự án BVSKTT cộng đồng đã thực sự có hiệu quả tích cực đi vào đời
sống của nhân dân, nhận được nhiều sự quan tâm, ủng hộ của các cấp chính
quyền. Tỷ lệ người bệnh ổn định, sống hòa nhập với cộng đồng, không tái phát
đi viện tăng lên từng năm. Gia đình người bệnh giảm gánh nặng về kinh tế trong
điều trị và các hành vi gây rối của bệnh tâm thần[16] .
Chương trình phòng chống sốt rét :
Khái niệm: Bệnh sốt rét là bệnh truyền nhiễm do ký sinh
trùng Plasmodium ở người gây nên. Bệnh lây theo đường máu, chủ yếu là do
muỗi Anopheles truyền. Có 5 loài ký sinh trùng sốt rét gây bệnh cho
người: Plasmodium falciparum, Plasmodium vivax, Plasmodium malariae,
Plasmodium ovale và Plasmodium knowlesi. Ở nước ta bệnh lưu hành chủ yếu
vùng rừng, đồi, núi, ven biển nước lợ, bệnh xảy ra quanh năm, nhưng chủ yếu
vào mùa mưa[2].
Định nghĩa về cas bệnh:
Cas bệnh lâm sàng: Bệnh nhân có các triệu chứng lâm sàng điển hình hoặc
sốt không điển hình mà không được xét nghiệm máu hoặc kết quả xét nghiệm
âm tính nhưng có 4 đặc điểm sau: Hiện đang sốt (trên 37,5°C) hoặc có sốt trong
3 ngày gần đây, không giải thích được nguyên nhân gây sốt khác, đang ở hoặc
qua lại vùng sốt rét trong vòng 9 tháng trở lại điều trị bằng thuốc sốt rét có đáp
ứng tốt trong vòng 03 ngày[12].
Phác đồ điều trị bệnh sốt rét :
5
Bảng 1.1.Thuốc sốt rét theo nhóm người bệnh và chủng loại ký sinh trùng sốt
rét.
Sốt rét
Nhóm
người
3 tháng
DHA-PPQ(1) DHA-PPQ(1)
DHADHA-PPQ(1) PPQ(1)+Primaq
uin
Quinin +
Quinin +
Clindamycin Clindamycin
Chloroquin
Chloroquin
+Primaquin
Chloroquin DHA-PPQ(1)
DHAChloroquin PPQ(1)+Prim
aquin
Quinin +
Chloroquin
Chloroquin
Chloroquin
Chloroquin DHA-PPQ(1)
Clindamycin
Khái niệm về bệnh lao phổi : Lao là một bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn
lao (Mycobacterium tuberculosis) gây nên. Bệnh lao có thể gặp ở tất cả các bộ
phận của cơ thể, trong đó lao phổi là thể lao phổ biến nhất (chiếm 80 – 85%) và
là nguồn lây chính cho người xung quanh.
Chẩn đoán lao phổi:
Lâm sàng:
- Toàn thân: Sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi đêm, chán ăn, mệt mỏi, gầy sút cân.
- Cơ năng: Ho, khạc đờm, ho ra máu, đau ngực, khó thở.
- Thực thể: Nghe phổi có tiếng bệnh lý (ran ẩm, ran nổ,....).
Cận lâm sàng:
7
- Soi đờm trực tiếp tìm AFB: Tất cả những người có triệu chứng nghi lao phải
được xét nghiệm đờm ít nhất 2 mẫu, tốt nhất là 3 mẫu: 1 mẫu tại chỗ khi đến
khám, 1 mẫu buổi sáng sớm sau ngủ dậy và mẫu thứ 3 lấy tại chỗ khi đem mẫu
đờm buổi sáng đến phòng xét nghiệm.
- Nuôi cấy tìm vi khuẩn lao: Nuôi cấy trong môi trường đặc cho kết quả sau 6-8
tuần. Nuôi cấy trong môi trường lỏng (MGIT, BATEC) cho kết quả khoảng 10
ngày.
- Xquang phổi chuẩn: Hình ảnh trên phim Xquang gợi ý lao phổi tiến triển là
thâm nhiễm, nốt, xơ hang, có thể co kéo ở 1/2 trên của phế trường, có thể 1 bên
hoặc 2 bên. Ở người có HIV, hình ảnh Xquang phổi ít thấy hình hang, tổn
thương khoảng kẽ nhiều hơn và có thể ở vùng thấp của phổi[3] .
Việt Nam bắt đầu triển khai các hoạt động chống lao từ năm 1957 với
việc thành lập Viện Chống Lao Trung ương (nay là Bệnh viện Phổi Trung ương).
Chương trình Chống lao Quốc gia Việt Nam được thành lập năm 1986. Chiến
lược về điều trị có kiểm soát trực tiếp được áp dụng từ năm 1992.Việt Nam xếp
thứ 12 trong số 22 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao nhất thế giới. Tổ chức Y
các mối liên kết và lồng ghép vấn đề HIV với sức khỏe tình dục/sức khỏe sinh
sản và kế hoạch hóa gia đình trong các chính sách, các chương trình và các dịch
vụ ở tất cả các cấp, hoàn thiện các chính sách và biện pháp can thiệp cho thích
hợp về mặt văn hóa, đảm bảo cung cấp dịch vụ sức khỏe tình dục/sức khỏe sinh
sản và kế hoạch hóa gia đình có chất lượng, mang lại sự tin tưởng, hài lòng cho
người dân.
Chương trình Vitamin A:
Vitamin A là một vi chất dinh dưỡng quan trọng, tham gia vào nhiều chức
phận trong cơ thể như vai trò tăng trưởng, chức năng thị giác, bảo vệ biểu mô,
miễn dịch cơ thể….
Những nguy cơ khi thiếu vitamin A
9
Làm trẻ em chậm lớn, nhất là ở những trẻ nhỏ.
Giảm sức đề kháng cơ thể đối với bệnh tật, trẻ dễ bị nhiễm trùng nhiễm
khuẩn nặng, đặc biệt là các nhiễm khuẩn đường hô hấp, đường tiêu hóa và
sởi. Nhiễm trùng vitamin A là một vòng luẩn quẩn bệnh lý dẫn tới nguy cơ tử
vong cao.
Ở mức độ thiếu vitamin A nặng sẽ gây nên các tổn thương ở mắt, gọi là
bệnh “Khô mắt”, nếu không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến hậu quả mù vĩnh
viễn.
Đối tượng và liều uống: (loại viên nang vitamin A 200.000 đơn vị quốc tế)
Uống theo đợt chiến dịch, mỗi năm hai đợt cho trẻ 6-36 tháng tuổi:
Từ 6-12 tháng tuổi: uống nửa viên/6 tháng uống một lần
Từ 13-36 tháng tuổi: uống 1 viên/6 tháng uống một lần
Uống thường xuyên không theo chiến dịch và chỉ uống một lần:
+ Bà mẹ sau khi sinh con: uống 1 viên
+ Trẻ dưới 5 tuổi bị mắc các bệnh có nguy cơ thiếu vitamin A (Sởi, tiêu chảy
kéo dài, viêm hô hấp cấp, suy dinh dưỡng nặng): Dưới 1 tuổi uống nửa viên.
16 Trạm y tế phường.
Chương trình Vitamin A:
Được lĩnh tại Trung tâm Dinh Dưỡng TPHCM theo phân bổ dựa trên số
trẻ quản lý tại địa phương, khoa tiến hành lĩnh về sau đó cấp phát cho khoa Sức
khỏe trẻ em rồi thực hiện chiến dịch cho uống vitamin A ở 16 phường trong
toàn quận 8, hoạt động này được diễn ra 6 tháng một lần.
Chương trình ARV:
Được phân phối bởi Uỷ Ban PC AIDS tại Thành phố Hồ Chí Minh thông
qua các công ty dược phẩm giao đến tận khoa Tham Vấn và Hỗ Trợ Cộng Đồng
rồi từ đây có một bộ phận dược tiếp nhận theo đúng quy trình và tiến hành phân
chia một phần lớn giữ lại tại khoa để điều trị cho bệnh nhân và một phần phân
11
phát về các Trạm y tế phường để cho các bệnh nhân đến lĩnh. Chương trình này
cũng dành một phần kinh phí để tiến hành mua sữa để cấp cho các bà mẹ mang
thai bị nhiễm ARV và những bé được sinh ra bởi những bệnh nhân này cho đến
khi bé được 3 tuổi, hoạt động cấp phát sữa này thực hiện bởi khoa dược tại trung
tâm.
Chương trình thuốc methadone:
Được cấp phát bởi UBPC AIDS căn cứ theo báo cáo và dự trù của đơn vị.
Đối với thuốc này thì từ khâu bảo quản đến việc cấp phát cho bệnh nhân phải
được theo dõi thật chặt chẽ dưới sự giám sát của các thiết bị ghi hình vì đây là
thuốc có tính chất gây nghiện do đó việc quản lý và sử dụng phải tuân theo
thông tư 19/2014/TT-BYT về Quy định quản lý thuốc gây nghiện, thuốc hướng
tâm thần và tiền chất dùng làm thuốc[4] và thông tư 14/2015/TT-BYT về quản
lý thuốc Methadone[5]. Hàng ngày các bệnh nhân đến cơ sở điều trị để uống
trực tiếp dưới sự giám sát của các nhân viên y tế.
Chương trình thuốc nhiễm trùng cơ hội:
Được sự tài trợ bởi dự án của các tổ chức phi chính phủ được phân phối
0,5ml
2
BCG
Phòng bệnh Lao
0,1ml
3
DTC
Bạch hầu-Ho gà-Uốn ván
0,5ml
4
Sabin(OPV)
Phòng bại liệt
Giọt
5
Sởi
Phòng Sởi-Rubella
Chỉ định/Phòng bệnh
Liều lượng
Trẻ 1-3 tuổi: 0,5ml
Trẻ ˃ 3 tuổi : 1ml
0,5ml
1.2.2. Vaccine tiêm chủng dịch vụ:
Vaccine dịch vụ được mua theo nhu cầu sử dụng tại đơn vị, hàng năm hội
đồng thuốc và điều trị đơn vị tiến hành họp và thống nhất danh mục vaccine sử
dụng trong năm do khoa dược đề xuất sau đó tiến hành trình SYT TP.HCM phê
duyệt rồi tiến hành mua theo đúng các quy định hiện hành[11],[13],[14].
Nhận định từ các năm 2014 trở về sau tình hình mua vaccine dịch vụ để sử
dụng luôn thiếu và yếu. Có lẽ đây cũng là tình hình chung tại các đơn vị có tiêm
chủng vaccine dịch vụ vì các nhà sản xuất nước ngoài không sản xuất hoặc các
nhà phân phối không nhập về được vì nhiều lý do khác nhau có thể kể đến như
13
các nhà nhập khẩu tại VN không ước lượng được tình hình dịch bệnh hoặc ở các
quốc gia khác thì một số loại vaccine dịch vụ đã được chính phủ đưa vào sử
dụng như một loại vaccine TCMR do đó các nhà sản xuất ưu tiên phân phối cho
các quốc gia trên do đó tình hình thiếu hụt vaccine dịch vụ tại VN luôn diễn ra
nghiêm trọng.
Mặc khác do tâm lý của các bậc phụ huynh khi có xảy ra dịch thì họ mới
Varivax 0,5ml
Ngừa Thủy đậu
3
Engerix B 0.5ml
Ngừa viêm gan B cho trẻ em
14