BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HIỀN
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC
ĐÃ SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN QUẬN 9
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2015
LUẬN VĂN DƢỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2017
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HIỀN
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC
ĐÃ SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN QUẬN 9
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN DƢỢC SĨ CHUYÊN KHOA I
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK 60 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thanh Bình
Thời gian thực hiện: từ tháng 7/2016 đến tháng 11/2016
HÀ NỘI 2017
Chi phí cho tình trạng kháng kháng sinh hàng năm là từ 4-5 tỷ USD ở Mỹ và
khoảng 9 tỷ EUR ở châu Âu
Theo báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2011 của Cục
Quản lý khám chữa bệnh, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện
chiếm tỷ trọng 59,5% tổng giá trị tiền viện phí hàng năm. Những bất cập
trong cung ứng, sử dụng thuốc tại các bệnh viện cũng ngày càng gia tăng như:
Thuốc không thiết yếu (thuốc không thực sự cần thiết) được sử dụng với tỷ lệ
cao, vitamin, khoáng chất … được kê đơn không có mục đích rõ ràng, lạm
dụng các kháng sinh thế hệ mới…[30]
Đối với mỗi Bệnh viện, một hệ thống danh mục thuốc (DMT) có hiệu
quả sẽ đem lại lợi ích rất lớn trong công tác khám chữa bệnh, giúp cho chu
trình cung ứng thuốc, thông tin thuốc cũng như xử lý ADR sẽ dễ dàng hơn.
Ngoài ra một DMT được xây dựng hợp lý sẽ giúp cho việc tư vấn, giáo dục
về thuốc trọng tâm hơn và cải thiện được mức độ sẵn có của thuốc, từ đó giúp
cho việc sử dụng thuốc trên người bệnh tốt hơn.
Đối tượng phục vụ của Bệnh viện là chăm sóc sức khỏe ban đầu cho
cán bộ Ủy ban nhân dân Quận 9và tiếp nhận khám chữa cho nhân dân trên địa
bàn và nhân dân các khu vực lân cận có nhu cầu. Với trọng trách đó, công tác
khám chữa bệnh và hoạt động cung ứng thuốc tại Bệnh viện cần được quan
tâm nghiên cứu để đạt hiệu quả cao nhất. Vì vậy để góp phần tăng cường sử
dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả cho Bệnh viện, chúng tôi tiến hành đề
tài:“Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng của Bệnh Viện Quận 9 Thành
phố Hồ Chí Minh năm 2015’’.
Với các mục tiêu như sau:
1. Mô tả cơ cấu DMT đã sử dụng tại Bệnh viện Quận 9 năm 2015;
2. Phân tích ABC/VEN DMT đã được sử dụng tại bệnh viện Quận 9 năm
2015.
2
hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể;
- Căn cứ vào chi phí và chi phí – hiệu quả của thuốc;
- Điều kiện, trang thiết bị chuyên môn con người để xử trí thuốc.
c. Quy trình chọn lựa một số thuốc mới
- Chỉ có Bác sĩ, Dược sĩ mới có quyền yêu cầu bổ sung hoặc loại bỏ
một dược phẩm;
- Bản yêu cầu bằng văn bản gửi cho thư ký của DTC;
4
- Thành viên DTC đánh giá thuốc bằng cách rà soát lại thông tin trong
y văn và chuẩn bị một bản báo cáo viết;
- Đưa ra những ý kiến đề xuất cho danh mục;
- Trình bày kết quả đánh giá tại cuộc họp của DTC;
- DTC chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu kể trên (việc đưa ra quyết định
- Phổ biến quyết định của DTC đến tất cả các cá nhân liên quan.
d. Duy trì một danh mục
- Đánh giá những yêu cầu cần bổ sung mới và loại bỏ thuốc hiện có
trong danh mục một cách thường xuyên;
- Đánh giá hệ thống theo nhóm, phân nhóm điều trị.
e. Quản lý thuốc ngoài danh mục
- Việc sử dụng thuốc ngoài DMT bệnh viện phải được yêu cầu thông
qua bản dự trù có chữ ký của trưởng các khoa/phòng và được giám đốc bệnh
viện phê duyệt.
- Hạn chế số lượng thuốc ngoài danh mục;
- Hạn chế tiếp cận;
- Lưu trữ hồ sơ yêu cầu đối với thuốc không nằm trong danh mục (tên
thuốc, số lượng, chỉ định);
- Thường xuyên rà soát và thảo luận tại các cuộc họp của DTC.
xây dựng dựa trên cơ sở các hướng dẫn điều trị các bệnh thường gặp.
DMT có vai trò quan trọng trong chu trình quản lý thuốc trong bệnh viện,
là cơ sở pháp lý để bệnh viện lựa chọn, xây dựng DMT cụ thể cho đơn vị mình.
Tiêu chí xây dựng DMT của bệnh viện được dựa trên Thông tư số: 45/2013/TTBYT ban hành ngày 26 tháng 12 năm 2013 với các mục tiêu sau:
- Đảm bảo hiệu quả, an toàn cho người sử dụng;
- Sẵn có với số lượng đầy đủ, có dạng bào chế phù hợp với điều kiện
bảo quản, cung ứng và sử dụng;
- Phù hợp với mô hình bệnh tật, phương tiện kỹ thuật, trình độ của thầy
thuốc và nhân viên y tế trong cơ sở khám chữa bệnh;
- Giá cả hợp lý;
6
- Đa số là đơn chất, nếu là đa chất phải chứng minh được sự kết hợp đó
có lợi hơn khi dùng từng thành phần riêng rẽ về tác dụng và độ an toàn.
Trường hợp có hai hay nhiều thuốc tương tự nhau phải lựa chọn trên cơ sở
đánh giá đầy đủ về hiệu lực, độ an toàn, chất lượng và khả năng cung ứng.
Tóm lại các yếu tố liên quan đến hoạt động lựa chọn, xây dựng DMT
có thể được khái quát theo sơ đồ dưới đây:
Mô hình bệnh
tật tại BV
Hướng dẫn điều
trị
Danh mục
TTY
Không giống MHBT ở cộng đồng, Bệnh viện (BV) là nơi khám và
chữa bệnh cho người mắc bệnh trong cộng đồng. Mỗi bệnh viện có một
MHBT riêng do mỗi BV có tổ chức nhiệm vụ khác nhau, đặt trên các địa bàn
khác nhau với đặc điểm dân cư địa lý khác nhau. Đặc biệt là sự phân công
chức năng nhiệm vụ trong các tuyến y tế khác nhau. Ở Việt Nam cũng như
trên thế giới có hai loại MHBT bệnh viện theo hình 1.2
MHBT trong bệnh viện là một căn cứ quan trọng giúp BV xây dựng
danh mục thuốc phù hợp.
Mô Hình Bệnh Tật Bệnh Viện
MHBT của BV Đa Khoa
(Gồm các bệnh thông thường và
bệnh chuyên khoa)
MHBT của BV Chuyên Khoa,
Viện có giƣờng bệnh
(Gồm các bệnh chủ yếu là bệnh
chuyên khoa và bệnh thông thường)
Hình 1.2. MHBT của hệ thống bệnh viện
1.2.2 Hƣớng dẫn điều trị chuẩn (STG)
SGT (Phác đồ điều trị) là văn bản chuyên môn cótính chất pháp lý. Nó
được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, được sử dụng như một khuôn mẫu
trong điều trị học mỗi loại bệnh. Một phác đồ điều trị có thể có một hoặc
nhiều công thức điều trị khác nhau.
Theo WHO: Các tiêu chí của một SGT về thuốc gồm:
- Hợp Lý: Phối hợp đúng thuốc, đúng chủng loại, còn hạn sử dụng;
- An Toàn: Không gây tai biến, không làm cho bệnh nặng thêm, không
có tương tác thuốc;
8
Cải thiện Sử Dụng và khả
năng Cung Ứng
Hình 1.3. Sơ đồ chu trình tác động của STG và DMT lên kết quả
chăm sóc và phòng bệnh
9
1.2.3. DMT chủ yếu tại cơ sở khám, chữa bệnh
DMT chủ yếu được xây dựng trên cơ sở danh mục TTY của Việt Nam
và của WHO hiện hành.
Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa
bệnh là cơ sở để các cơ sở khám chữa bệnh lựa chọn thuốc phù hợp với mô
hình bệnh tật. Hiện nay, danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu đang được sử
dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh là danh mục thuốc Tân dược thuộc phạm
vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế được ban hành kèm theo Thông tư số:
40/2014/TT-BYT ngày 17 tháng 11 năm 2014. Trong đó bao gồm: 845 Hoạt
chất, 1064 thuốc tân dược; 57 thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu.
Theo Thông tƣ 40: Việc lựa chọn thuốc thành phẩm để mua sắm, sử
dụng cho người bệnh theo nguyên tắc:
- Ưu tiên lựa chọn thuốc Generic;
- Thuốc đơn chất;
-
Thuốc sản xuất trong nước.
1.2.4. Hội đồng thuốc và điều trị (DTC)
nhân liên quan đến sử dụng thuốc và lựa chọn các giải pháp can thiệp.
5. Giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) và các sai sót trong điều trị:
Xây dựng quy trình phát hiện, đánh giá, xử trí, dự phòng ADR; Tổ chức giám sát
ADR; Triển khai hệ thống báo cáo ADR; Thông tin kịp thời ADR để rút kinh
nghiệm; Cập nhật, bổ sung, sửa đổi danh mục dựa trên thông tin về ADR; Tổ
chức tập huấn về ADR.
6. Thông báo, kiểm soát thông tin về thuốc.
Nhiệm vụ quan trọng nhất của HĐT&ĐT chính là đánh giá, lựa chọn
thuốc để xây dựng danh mục thuốc bệnh viện. Trong chu trình quản lý thuốc ở
bệnh viện, HĐT&ĐT là tổ chức đứng ra điều phối quá trình cung ứng thuốc.
HĐT&ĐT thường phải phối hợp với bộ phận mua thuốc và phân phối thuốc.
HĐT&ĐT không thực hiện chức năng mua sắm mà có vai trò đảm bảo xây
11
dựng hệ thống danh mục và chính sách thuốc, bộ phận mua thuốc sẽ thực hiện
theo yêu cầu của HĐT&ĐT.
d. Tổ chức của Hội đồng thuốc và điều trị
Thông tư số 21/2013/TT-BYTquy định: Hội đồng phải được thành lập
ở tất cả bệnh viện, do Giám đốc bệnh viện ra quyết định thành lập; hoạt động
theo chế độ kiêm nhiệm.
Tùy theo hạng bệnh viện, Hội đồng có ít nhất 5 thành viên trở lên, bao
gồm các thành phần sau:
- Chủ tịch Hội đồng: là Giám đốc hoặc Phó Giám đốc bệnh viện phụ
trách chuyên môn;
- Phó Chủ tịch Hội đồng kiêm ủy viên thường trực là trưởng khoa Dược
bệnh viện;
- Thư ký Hội đồng là trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp hoặc dược sĩ
khoa Dược hoặc cả hai thành viên này;
thuốc, bộ phận mua thuốc sẽ thực hiện theo yêu cầu của HĐT&ĐT. Vai trò của
HĐT&ĐT trong chu trình quản lý thuốc được thể hiện theo hình:
Lựa chọn
DTC
Sử dụng
Mua thuốc
Mua Thuốc
Phân phối
Sơ đồ chu trình quản lý thuốc
13
Hình 1.4.
1.3. THỰC TRẠNG CUNG ỨNG THUỐC TRONG CÁC BỆNH
VIỆN Ở NƢỚC TA
Tại Việt Nam những năm qua, công tác dược nói chung đã có những
bước phát triển rất cơ bản về tổ chức, quản lý, sản xuất và cung ứng thuốc. Hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật về Dược được rà soát, sửa đổi, bổ sung và
xây dựng mới để đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển, đặc biệt là Luật Dược đã
được Quốc Hội thông qua và có hiệu lực từ 1/10/2005.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ,
ngành công nghiệp Dược cũng có những phát triển vượt bậc. Ở Việt Nam, thị
trường dược phẩm cũng rất phong phú, từ chỗ thiếu thuốc chủ yếu là nhập
khẩu đến hết năm 2008 thuốc sản xuất trong nước đã đáp ứng được phần lớn
nhu cầu của nhân dân, có khoảng 1.500 hoạt chất với khoảng 18.000 sản
giữa thuốc nội và thuốc ngoại là 50/50, đến tháng 6 năm 2010 là 46/54 [15].
Tuy nhiên thuốc nội chỉ chiếm 19-25% về giá trị tiền. Kết quả khảo sát tại
bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy năm 2006 tỉ lệ thuốc ngoại chiếm
78,9% thuốc nội 21,1% mặc dù so với năm 2002 tỉ lệ thuốc nội trong DMT đã
tăng từ 13,6% lên 21,1% .Tại BV Đa khoa Hải Dương năm 2004 tỷ lệ thuốc
nội là 61,4% năm 2006 là 70%. Tại BV Đa khoa Xanh Pôn Hà Nội tỷ lệ thuốc
nội tăng trong 3 năm liên tiếp năm 2006 là 28,5%, năm 2007 là 31,9% đến
2008 đã là 33,4% [25].
Việc xây dựng DMT trong BV còn chưa chú trọng nhiều đến nguyên
tắc “Ưu tiên chọn thuốc Generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong
nướcđạt chất lượng, thuốc của các doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn thực hành sản
xuất tốt (GMP)”. Việc sử dụng thuốc ngoại nhập, thuốc biệt dược vẫn chiếm
tỷ lệ cao. Đặc biệt là những loại thuốc của một số công ty dược phẩm phân
phối độc quyền được sử dụng nhiều dẫn đến tình trạng hiện nay sử dụng
thuốc tại các bệnh viện lớn thường vượt quá khả năng kinh tế của người
bệnhvà khả năng chi trả của quỹ Bảo hiểm y tế.
15
Thống kê của Cục Quản Lý Dược – Bộ Y Tế cho thấy, tính đến hết
năm 2009, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng ở Việt Nam đã lên đến hơn 1,696
triệu USD, tăng gần 19% so với năm 2008. Điều này có nghĩa tiền thuốc đã
tăng mạnh qua từng năm và phản ánh hai khía cạnh: Một là số lượng người
bệnh tăng lên, sử dụng thuốc nhiều hơn. Hai là giá thuốc tăng cao và kéo theo
chi phí bỏ ra mua thuốc cũng tăng theo. Năm 2009 Quỹ Bảo hiểm y tế bị thâm
hụt xấp xỉ 2.000 tỷ đồng [15] [27].
Trong những năm gần đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hoạt động
cung ứng thuốc trong bệnh viện. Vấn đề này đã được nghiên cứu ở nhiều
bệnh viện tuyến trung ương như bệnh viện Hữu Nghị, bệnh viện Bạch Mai,
3. Nghiên cứu khoa học về Y học;
4. Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật;
5. Phòng bệnh;
6. Hợp tác quốc tế;
7. Quản lý kinh tế trong bệnh viện.
1.4.3 Mô hình bệnh tật của bệnh viện Quận 9
Bảng 1.1. Mô hình bệnh tật của bệnh viện đƣợc phân loại theo bảng phân
loại bệnh tật quốc tế ICD 10
Số lƣợt
STT
Nhóm bệnHh
Mã ICD
bệnh
nhân
Tỷ lệ
(%)
1
Bệnh da và mô ngoài da
L00-L99
2321
2,92
5
Bệnh hệ tiêu hóa
K02-K93
9.802
12,31
6
Bệnh hệ tuần hoàn
I00-I99
8.229
10,34
7
Bệnh hệ thần kinh
G00-G13
510
0,64
10
Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển
hóa
11
Bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng
A06-A67
3.670
4,61
12
Bệnh tai và xương chũm
H55-H99
863
1,08
V01-Y56
167
0,21
F00-F09
78
0,10
17
Thai nghén, sinh đẻ và hậu sản
O03-O99
2.190
2,75
R10-R09
1.209
1,52
Z00-Z23
665
0,84
79.611
2.2. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Số liệu nghiên cứu được thu thập dựa trên thống kê của bệnh viện từ 1
tháng 1 năm 2015 đến 31 tháng 12 năm 2015
2.3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Biến số nghiên cứu
Bảng 2.1: Các biến số nghiên cứu
TT
Tên biến số
1
Nhóm tác dụng
dược lý
2
Kinh phí sử dụng
của từng thuốc
3
Thành phần thuốc
4
Nguồn gốc xuất
xứ
5
Tính theo công thức:
số lượng x đơn giá
- Thuốc đơn thành phần: trong công thức có 1
hoạt chất có hoạt tính.
- Thuốc đa thành phần: trong công thức có > 1
hoạt chất có hoạt tính.
- Thuốc có nguồn gốc sản xuất trong nước.
- Thuốc có nguồn gốc sản xuất nước ngoài.
- Thuốc có đường dùng là tiêm
- Thuốc có đường dùng là uống
- Thuốc có đường dùng khác
- Thuốc biệt dược: Thuốc được xếp vào gói biệt
dược trong danh mục thuốc trúng thầu tại bệnh
viện năm 2015.
- Thuốc generic: Thuốc được xếp vào gói thuốc
generic trong danh mục thuốc trúng thầu tại
bệnh viện năm 2015.
- Thuốc có hoạt chất và hàm lượng nằm trong
các phụ lục 1, 2 và 3, 4 của thông tư
19/2014/TT-BYT
- Các thuốc còn lại
- Thuốc hạng A (k: 0-75%)
- Thuốc hạng B (k: 75-90%)
- Thuốc hạng C (k>90%)
- Thuốc nhóm V
- Thuốc nhóm E
- Thuốc nhóm N
19
lãnh đạo trước đó trong bệnh viện);
- Toàn bộ biên bản họp của DTC về hoạt động xây dựng DMT và quản
lý sử dụng DMT năm2015.
- Bảng dự trù thuốc năm2015 của các khoa lâm sàng.
- Danh mục thuốc trúng thầu năm 2015.
- DMT bệnh viện xây dựng năm 2014, 2015.
- Báo cáo sử dụng thuốc (Báo cáo Nhập - Xuất - Tồn) của năm 2015.
- Sổ theo dõi ADR và sổ thông tin thuốc năm 2015.
- Giấy đề nghị bổ sung và loại bỏ thuốc ra khỏi danh mục của các
khoa/phòng năm 2014, 2015.
+ Thu thập số liệu từ các khoa phòng khác:
- Bảng kiểm tra bệnh viện năm 2015 – Lưu tại phòng KHTH
- Báo cáo tổng thu, tổng chi năm 2015 – Lưu tại phòng Tài chính kế
toán
- Khai thác phần mềm quản lý bệnh viện - tại phòng công nghệ thông
tin / Phòng Kế hoạch tổng hợp
2.3.4. Xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu sau khi thu thập được mã hóa, làm sạch. Số liệu được nhập
bằng phần mềm Microsoft Excel 2007. Sắp xếp theo mục đích phân tích, tính
số liệu, giá trị và tỷ lệ phần trăm của từng biến.
20
- Các số liệu trình bày bằng phần mềm Microsoft Word dưới dạng:
bảng biểu, đồ thị, biểu đồ và sơ đồ.
2.4. PHÂN TÍCH CƠ CẤU DMT
2.4.1. Cơ cấu danh mục thuốc
Các số liệu sau khi được thu thập được đưa vào phần mềm Microsoft
Excel để xử lý và phân tích theo các bước sau:
Tổng hợp toàn bộ những dữ liệu về DMT đã sử dụng năm 2015 trên
sản phẩm chia cho tổng số tiền: pi = ci x100/C
Bước 5: Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giá trị giảm dần
Bước 6: Tính giá trị % tích luỹ của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm (k):
bắt đầu với sản phẩm số 1 sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách
Bước 7: Phân hạng sản phẩm như sau:
+ Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75 – 80% tổng giá trị tiền
(có k từ 0 80%)
+ Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 15 – 20% tổng giá trị tiền
(có k từ 80 95%)
+ Hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm 5 – 10% tổng giá trị tiền
(có k > 95%)
Bước 8: Thông thường, sản phẩm hạng A chiếm 10 – 20% tổng sản
phẩm; hạng B chiếm 10 – 20% và 60 – 80% còn lại là hạng C.
Kết quả thu được có thể trình bày dưới dạng đồ thị bằng cách đánh dấu
phần trăm của tổng giá trị tích lũy vào cột dọc hay trục tung của đồ thị và số
sản phẩm (tương đương giá trị tích lũy này) trên cột ngang hay trục hoành của
đồ thị.
Lợi ích của phương pháp phân tích ABC: Cho thấy những thuốc được
sử dụng thay thế với lượng lớn và có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn
trên thị trường, thông tin này được sử dụng để:
- Lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn;
22
- Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế;
- Thương lượng với nhà cung cấp để mua được thuốc với giá thấp hơn;
- Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức
khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện những điểm chưa hợp lý trong sử dụng
thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với MHBT;