TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
----------
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: D620301
KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG
THUỐC, HÓA CHẤT TRONG AO NUÔI
TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THÂM CANH
TẠI TÂN PHÚ ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG
Cán bộ hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
ThS.NGUYỄN HỮU LỘC
LÂM VĂN THIỆN
ThS.NGUYỄN LÊ HOÀNG YẾN
MSSV: 1153040079
Cần Thơ, 2015
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
LÂM VĂN THIỆN
iii
TÓM TẮT
Đề tài khảo sát tại Tân Phú Đông˗Tiền Giang. Với mục tiêu thực hiện đề tài Tìm hiểu
hiện trạng sử dụng thuốc, hóa chất trong nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh tại Tân
Phú Đông – Tiền Giang nhằm làm cơ sở khoa học tìm ra những mặt ưu khuyết điểm
của thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học, qua đó giúp người nuôi sử dụng thuốc hợp
lý để nghề nuôi tôm thẻ chân trắng phát triển một cách hiệu quả và bền vững.
Phương pháp thu mẫu: khảo sát 20 hộ nuôi tôm thẻ thâm canh ở Tân Phú Đông˗Tiền
Giang.
Kết quả cho thấy, tình hình sử dụng thuốc của nông hộ trong nuôi tôm thẻ thâm canh
ngày càng tăng do dịch bệnh ngày nhiều. Có 4 loại bệnh xuất hiện phổ biến trong quá
trình nuôi và 26 loại thuốc và hóa chất sử dụng phòng và trị bệnh, Vitamin là loại
thuốc được sử dụng phổ biến nhất để bổ sung vào thức ăn chiếm (100%), Leader
(50%), Antygen (30%). Trong đó, bệnh xuất hiện nhiều nhất là hoại tử gan (90%), kế
tiếp là bệnh phân trắng (30%). Tình hình sử dụng thuốc hóa chất rất đa dạng, phổ biến
và các loại thuốc hóa chất dùng trong cải tạo ao như: vôi, saponin, chlorine…,ngoài ra
còn có các loại khác dùng trong quá trình nuôi như: iodine, vitamin…
Từ khóa: Litopenaeus vannamei, thuốc, hóa chất, tôm thẻ, Tân Phú Đông˗Tiền Giang.
iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ…………………….…………………………………………….i
TÓM TẮT……………………………………………………………………...ii
MỤC LỤC ................................................................................................................ iv
v
4.2 Thông tin chung về nông hộ ................................................................................. 11
4.2.1 Độ tuổi .............................................................................................................. 11
4.2.2 Kinh nghiệm và trình độ chuyên môn ............................................................... 12
4.3 Phân tích kỹ thuật của mô hình nuôi tôm thẻ……………………………………..12
4.3.1 Thông tin chung về xây dựng công trình…………………………….………….12
4.3.2 Nguồn gốc thả tôm ……………………………………………………………..14
4.4 Sản phẩm cải tạo ao………………..……………………………………….……..14
4.5 Sản phẩm gây màu nước………..………………………………………………...16
4.6 Mật độ thả nuôi… ………………………………………………………………...17
4.7 Các loại hoá chất dinh dưỡng bổ sung……………………………………………18
4.8 Tình hình dịch bệnh trên tôm ở huyện Tân Phú Đông…………...………………18
4.9 Hiện trạng sử dụng thuốc hóa chất trong nuôi tôm…………………...…………..22
4.10 Các sản phẩm dùng trong phòng và trị bệnh…………………………………….23
4.11 Các khoảng chi phí………………………………………………………………25
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT……………………..……………………27
5.1 Kết luận……………………………………………………………………..…….27
5.2 Đề xuất…………………………………………………………….………………27
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 28
vi
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.1 Nguồn gốc tôm thả nuôi……………..………………………………..….…13
Bảng 4.2 Hoá chất diệt tạp………………………………………………...………….16
Bảng 4.3 Sản phẩm gây màu nước……………………………………………………17
Bảng 4.4 Tỷ lệ dịch bệnh xuất hiện trên tôm nuôi ở Tân Phú Đông Tiền Giang….….18
mạnh mẽ và được xem đây là ngành nghề mũi nhọn của cả nước. Với nhiều đối tượng
nuôi như: tôm sú (Penaeus monodon), tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei),
tôm rằn (P. semisucatus). Trong đó, tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) đang
nuôi ở nước ta là đối tượng nhập ngoại, có nguồn gốc từ Châu Mỹ. Đây là loài có giá
trị kinh tế cao đang được người tiêu dùng ở các thị trường lớn ưa chuộng (Mỹ là thị
trường tiêu thụ tôm thẻ chân trắng lớn nhất sau đó là Châu Âu và Nhật Bản). Nhờ thẻ
chân trắng có thời gian sinh trưởng ngắn (3 ˗ 3,5 tháng), năng suất cao (trên 4 tấn/ha),
thâm canh có thể đạt đến 20 tấn/ha và có giá trị dinh dưỡng rất cao, dễ nuôi, lớn nhanh
và sản lượng lớn (Trần Viết Mỹ, 2009).
Theo Tổng cục Thủy sản (2013), diện tích nuôi tôm của cả nước đạt 652.612 ha, bằng
99,2% cùng kỳ năm 2012.Trong đó, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng 63.719 ha, sản
lượng thu hoạch tôm thẻ chân trắng là 243.001 tấn. Sự tăng nhanh chóng mở rộng diện
tích đất nuôi tôm ở Việt Nam, đặc biệt ở ĐBSCL đã đưa đến một số lưu ý đó là sự gia
tăng sử dụng thuốc (đặc biệt là thuốc kháng sinh) và hóa chất (đặc biệt hóa chất cải tạo
ao, diệt tạp, xử lý nước...) trong ao nuôi. Từ đây, có thể gây ra những tác động xấu đến
môi trường nước và đến chất lượng tôm. Ngoài ra, việc sử dụng thuốc và hóa chất
chưa hợp lý của người nuôi sẽ làm tăng chi phí sản xuất, không đảm bảo được chất
lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, ảnh hưởng đến xuất khẩu... xuất phát từ thực tế trên
đề tài: “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc, hóa chất trong nuôi tôm thẻ chân trắng
thâm canh tại Tân Phú Đông - Tiền Giang” được thực hiện.
1.2 Mục tiêu đề tài
Tìm hiểu hiện trạng sử dụng thuốc, hóa chất trong nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh
tại Tân Phú Đông ˗ Tiền Giang nhằm làm cơ sở khoa học tìm ra những mặt ưu khuyết
điểm của thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học, qua đó giúp người nuôi sử dụng thuốc
hợp lý để nghề nuôi tôm thẻ chân trắng phát triển một cách hiệu quả và bền vững.
1.3 Nội dung nghiên cứu
Khảo sát hiện trạng sử dụng thuốc, hóa chất sinh học trong nuôi tôm thẻ chân trắng tại
Tân Phú Đông ở Tiền Giang.
Đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc, hóa chất đến hiệu quả kinh tế trong nuôi
tôm thẻ chân trắng thâm canh tại vùng nuôi được điều tra.
ngực 4 và chân ngực 5 có màu trắng đục. Chiều dài lớn nhất của con đực là 187 mm
và con cái là 230 mm (Nguyễn Văn Thường, 2009).
2
2.1.3 Phân bố
Tôm thẻ chân trắng nguồn gốc từ Nam Mỹ chạy dài đến Peru, Mêxicô. Tôm thẻ phân
bố tự nhiên ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới của vùng đông Thái Bình Dương,
khi trưởng thành chúng sống ở biển khơi, và giai đoạn con giống thì chúng sống ở
sông (Bailey – Brock và Moss, 1992; Jory và Cabrera, 2003, trích bởi Trần Ngọc Hải
và ctv., 2009).
Trong tự nhiên, tôm thẻ chân trắng phân bố tập trung ở những nơi có nền đáy cát bùn,
độ sâu 0 ˗72m, tôm con phân bố nhiều ở vùng cửa sông nơi giàu chất dinh dưỡng và
hiện nay được nuôi ở rất nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, Việt Nam.
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Tôm thẻ chân trắng là loài ăn tạp thiên về động vật, phổ thức ăn rộng, cường độ bắt
mồi khỏe, tôm sử dụng được nhiều loại thức ăn tự nhiên có kích cỡ phù hợp từ mùn bã
hữu cơ đến các động - thực vật thủy sinh (Nguyễn Khắc Hường, 2007).
Nhu cầu protein trong khẩu phần thức ăn cho tôm thẻ chân trắng (20 ˗ 35%) thấp hơn
nhu cầu protein của tôm sú 40 ˗ 45% (Lee, 1971 Trích bởi Trần Viết Mỹ, 2009). Trong
thời kỳ sinh sản và đặc biệt giữa và cuối giai đoạn phát triễn của buồng trứng thì nhu
cầu lượng thức ăn hằng ngày tăng gấp 2 - 5 lần. Khả năng chuyển hóa thức ăn của tôm
rất cao, trong điều kiện nuôi thâm canh hệ số thức ăn (FCR) là 1,1 ˗ 1,3 (Trần Viết
Mỹ, 2009).
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Tôm thẻ chân trắng là loài tôm nhiệt đới, có khả năng thích nghi với giới hạn rộng về
độ mặn và nhiệt độ. Mặc dù tôm có khả năng thích nghi với giới hạn rộng về nhiệt độ
(15 ˗ 33°C), nhưng nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của tôm là 23 ˗ 32°C.
Nhiệt độ tối ưu cho tôm lúc nhỏ (1g) là 30°C và cho tôm lớn (12 ˗ 18g) là 27°C (Trần
Viết Mỹ, 2009). Tôm thẻ chân trắng có khả năng thích nghi với độ mặn 0,5 ˗ 45‰,
mô hình nuôi công nghiệp, gây nên hiện tượng ô nhiễm đã xuất hiện trên nhiều vùng
nuôi tôm trọng điểm, do người nuôi ngày càng sử dụng nhiều thức ăn, thuốc, hóa chất
xuyên suốt trong quá trình nuôi. Nhưng các sản phẩm này được sử dụng theo thói quen
của người nuôi và hàm lượng thường vượt mức cho phép. Việc dùng kháng sinh để trị
bệnh cho tôm cũng làm ảnh hưởng xấu đến môi trường, bên cạnh đó các chất thải luôn
tồn động trong ao nuôi mà chưa có biện pháp xử lý hiệu quả, khi cho ra môi trường
ngoài sẽ ảnh hưởng đến hệ sinh thái ngoài tự nhiên, trong khi đó hệ thống thủy lợi
trong tình trạng yếu kém (Vũ Dũng Tiến và Nguyễn Thị Minh, 2005). Với mức độ sử
dụng thuốc trừ sâu ngày càng tăng, chắc chắn sẽ tác động xấu đến nguồn lợi thuỷ sản
tự nhiên và sử dụng các loại phân hoá học cũng có ảnh hưởng đến nguồn lợi thuỷ sản.
Theo Nguyễn Văn Năm và Phạm Văn Ty, 2007 thì việc hình thành lớp bùn đáy là do
tích lũy dần các chất hữu cơ đây là nơi sinh sống của sinh vật thối rủa, vi sinh vật sinh
khí độc, vi sinh vật gây bệnh và các loại nấm nguyên sinh động vật. Thông thường các
vi sinh vật này hiện diện trong môi trường, nhưng khi có sự mất thăng bằng các yếu tố
trong ao nuôi thì chúng sẽ gây hại đến vật chủ, ngoài ra môi trường bị ô nhiễm, tôm bị
tress cũng ảnh hưởng đến sức khỏe và khi có cơ hội sẽ bộc phát thành bệnh. Khi đó để
trị bệnh cho động vật thủy sản người nuôi dùng kháng sinh và các loại hóa chất, tuy
nhiên các loại hóa chất và kháng sinh thường có tác dụng phụ, nếu sử dụng đúng quy
định có thể sử dụng một cách an toàn. Theo (Nafiquved, 2006), thì danh mục thuốc thú
y thủy sản (TYTS) sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường trong nuôi tôm, được cấp giấy
chứng nhận đăng ký sản xuất là 1.939 sản phẩm, trong đó bao gồm 99 sản phẩm để
4
phòng bệnh, 756 dùng để bổ sung dinh dưỡng và 1.084 sản phẩm dùng để xử lý và cải
tạo môi trường.
Theo (GESAMP, 1997) trong mô hình nuôi quảng canh thì nhu cầu sử dụng thuốc, hóa
chất là tối thiểu, chỉ giới hạn trong việc bón phân, xử lý nước, diệt tạp, nhưng trong
mô hình nuôi thâm canh thì nhu cầu sử dụng thuốc và hóa chất nhiều hơn, về chủng
loại thuốc cũng như mức độ đầu tư. Theo (Nguyễn Hoài Châu, 2003), thì trung bình
5
nuôi được 5.874 ha đạt 90,4% so cùng kỳ, tiến độ thả nuôi chậm ở các huyện phía
Đông do nắng nóng kéo dài, lượng mưa ít. Tình hình nuôi nước mặn, lợ tương đối ổn
định, diện tích thả nuôi đạt 8.015 ha tăng 12,7% so cùng kỳ, chủ yếu là tăng diện tích
nuôi tôm thẻ.
Tình hình dịch bệnh trên tôm: trong tháng có 41,3 ha tôm nuôi thâm canh, bán thâm
canh ở huyện Tân Phú Đông có bệnh, 8 tháng có 193 ha ở 02 huyện Tân Phú Đông và
Gò Công Đông có bệnh, chiếm 7,2 % (trong đó có 94,93 ha các hộ khai báo kịp thời
và ngành đã xác minh), đã sử dụng 28.958 kg Chlorinne/84,08 ha trong đó 214 hộ để
xử lý môi trường nuôi.
Sản lượng thủy sản thu hoạch trong tháng được 21.209 tấn, ước tính 8 tháng đạt
162.970 tấn tăng 3,1% so cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch từ nuôi đạt 101.146 tấn tăng
3,9%, sản lượng khai thác đạt 61.824 tấn tăng 1,8%. Thực hiện Quyết định
48/2010/QĐ-TTg, trong tháng tổ thẩm định liên ngành đã xét duyệt đợt 3/2014 có 53
hồ sơ đủ điều kiện được hỗ trợ với tổng số tiền đề nghị hỗ trợ hơn 3 tỷ đồng tạo điều
kiện thuận lợi cho ngư dân bám biển.
2.5 Một số loại thuốc và hóa chất dùng trong nuôi tôm thẻ thâm canh
2.5.1 Sản phẩm được sử dụng trong NTTS
Theo GESAMP (1997) thì thuốc, hóa chất sử dụng trong NTTS với nhiều mục đích
khác nhau như; xử lý nước, chất lắng đọng, tăng năng suất thủy vực, thức ăn bổ sung,
kích thích sinh trưởng...
(1). Vôi đươc dùng rộng rãi để trung hòa axit, tăng độ kiềm, phổ biến là vôi nông
nghiệp CaCO3, Dolomite MgCa(CO3). Trong chuẩn bị ao, bón với liều lượng 10 15kg/100m2, dùng ổn định môi trường 20 – 25 kg/1.000m2. Việc bón vôi có tác dụng
để trung hòa axit sunfuric sinh ra từ quá trình oxy hóa tầng phèn trong các ao được xây
dựng từ vùng rừng ngập mặn.
(2). Zeolite có thành phần là SiO2, Al2O3 dùng để hấp thu khí độc như NH3, NO2 với
liều lượng 10-50 kg/1.000m2, giảm tác dụng khi sử dụng trong nước lợ do bị kiềm chế
bởi nồng độ cation.
thường sử dụng khi thời tiết thay đổi đột ngột, tảo trong ao có biểu hiện tàn, hay tôm
yếu với liều lượng 0,5-1 ppm.
(11). Iodin sản phẩm được dùng phổ biến để diệt khuẩn rất hiệu quả, dùng để sát trùng
nguồn nước 2-3 ppm, dùng để trị bệnh 0,5-1 ppm, iodine giảm tác dụng trong môi
trường có độ kiềm cao do phản ứng tự khử.
(12). Ethyleneaminetetraacetic (EDTA) có công thức hóa học là (C10H16N2O8) dùng để
kết tủa kim loại nặng, như đồng, sắt, cadium,… có trong nước ảnh hưởng đến tôm
dùng để xử lý nước trước khi nuôi với liều lượng 10 - 15 ppm và phòng trị bệnh do vi
khuẩn từ 2 ˗ 3 ppm.
(13). Vitamin C (Axit ascorbic) dùng tăng cường sức đề kháng và hội chứng suy giảm
miễn dịch ở cá, vẹo cột sống, xuất huyết toàn thân. Tôm sú thiếu axit sẽ không có khả
năng lột xác, khuyết tật ở vỏ giáp, rối loạn trao đổi khí ở mang và tỷ lệ chết cao.
(14). Vitamin E (Tocoferol) giúp tăng cường sức đề kháng, ngăn ngừa hội chứng suy
giảm, suy dinh dưỡng thiếu máu và tác hại đối với màng tế bào, thoái hóa bắp thịt, gan
,não, mở.
7
(15). Vitamin B1 (Thyamin) có tác dụng giúp ngăn ngừa viêm thần kinh, tê phù, nếu
thiếu vitamin B1 tuyến sinh dục kém phát triển, trứng dễ thối hóa, kém ăn và sinh
trưởng chậm.
2.5.2 Một số loại kháng sinh sử dụng trong nuôi trồng thủy sản
Oxytetracylin dạng bột vàng ánh, bền ở trạng thái khô, hòa tan trong nước và dung
môi hữu cơ có hiệu lực trong vòng 48 giờ, ở nhiệt độ thường có tác dụng rộng diệt
khuẩn gram âm (–) và gram dương (+).
Erythromycin dạng bột tinh thể hơi vàng, không mùi, vị đắng, tan trong nước, ở nhiệt
độ thường bị hủy khi đem đung sôi và pH
Hiệu quả sử dụng thuốc, hóa chất
Thông tin chung về nông hộ
Thông tin về thuốc, hóa chất: hóa chất gây màu và cải tạo ao, hóa chất kiểm tra môi
trường, vitamin, khoáng và chế phẩm sinh học sử dụng trong vụ nuôi, thuốc và hóa
chất dùng trong phòng trị bệnh trong quá trình nuôi.
3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý trên phần mềm Microsoft office Excel được dùng để tính
toàn và xử lý số liệu. Dùng phần mềm Microsoft office Word để hoàn thành bài viết.
9
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình kinh tế và xã hội ở Tân Phú Đông ˗ Tiền Giang
Cơ cấu kinh tế: chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng,
dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản
chiếm 39% (kế hoạch 39,2%), khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 31,3% (kế hoạch
32,2%), khu vực dịch vụ chiếm 29,7% (kế hoạch 28,6%); năm 2013 tỷ trọng các khu
vực nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 41,3%, khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm
29,4% và khu vực dịch vụ chiếm 29,3%.
Thủy hải sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 15.749 ha, tăng 2,5% so với năm
2013. Diện tích nuôi thủy sản nước ngọt đạt 6.526 ha giảm 2,9% so cùng kỳ; diện tích
thả nuôi nước mặn, lợ đạt 9.223 ha tăng 6,4% so cùng kỳ do diện tích nuôi tôm thẻ
tăng cao hơn cùng kỳ 35,7% tương ứng tăng 701 ha và ngược lại diện tích tôm sú chỉ
bằng 86,4% do tôm thẻ ít bệnh hơn và thời gian nuôi ngắn hơn, năm nay giá tôm ổn
định ở mức cao nên người nuôi an tâm sản xuất.
4.2 Thông tin chung về nông hộ
4.2.1 Độ tuổi
Thông qua số liệu điều tra cho thấy độ tuổi trung bình của các hộ nuôi tôm tại huyện
nhất là 4.500m² chiếm 5%. Do huyện Tân Phú Đông là một huyện đảo, bốn mặt tiếp
giáp với biển nên diện tích còn hạn chế. Mỗi hộ nuôi cao nhất chỉ có từ hai đến ba ao
nuôi, nhưng diện tích không lớn (Hình 4.3).
11
Hình 4.3 Diện tích ao nuôi tôm
Độ sâu ao nuôi tôm (m)
Kết quả điều tra cho thấy độ sâu ao nuôi tôm của các hộ dân không quá sâu trung bình
khoảng 1,37 ± 0,13. Thấp nhất là 1,2m chiếm 25% và cao nhất là 1,6m chiếm 5%. Chủ
yếu người nuôi tôm ở Tân Phú Đông nuôi theo quy trình của Công ty cổ phần chăn
nuôi CP Việt Nam nuôi với mực nước thấp để tiện quản lý con giống, thức ăn và chất
lượng nước. Theo quy trình nuôi tôm (CP) với mục nước thấp sẽ giúp cho hộ nuôi tôm
dễ kiểm soát được lượng tôm trong ao nuôi, sự phát triển cũa dịch bệnh...., bên cạnh
đó do mực nước thấp môi trường dể bị biến động, oxi thấp ảnh hưởng đến hoạt động
sống của tôm nuôi.
Hình 4.4 Độ sâu ao nuôi
Diện tích ao lắng: Ao lắng có vai trò rất lớn góp phần thắng lợi cho những mô hình
nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh, ao lắng có chức năng giữ nước chủ động cấp
cho ao nuôi; là nơi xử lý nước bằng lắng cơ học, xử lý hóa chất loại bỏ mầm bệnh
trước khi đưa vào ao nuôi. Qua khảo sát cho thấy 100% hộ nuôi tôm không có ao lắng,
do Tân Phú Đông là huyện đảo, diện tích còn hạn hẹp nên những hộ nuôi có diện tích
ao nuôi ít, người nuôi chỉ tập chung đào ao để nuôi tôm, chứ không sử dụng ao lắng.
12
Số vụ nuôi/năm: Qua quá trình khảo sát cho thấy do không có ao lắng nên quá trình
chuẩn bị nước đã được xử lý để chuẩn bị cho vụ nuôi tiếp theo nên còn chậm, đa số
sinh cũng như thuốc và hóa chất giúp bà con có động lực hơn trong việc chăn nuôi mà
không lo lắng về mặt kinh tế nên đa số người dân ở đây đều chọn nhập nguồn con
giống từ công ty CP.
4.4 Sản phẩm cải tạo ao
Ao nuôi tôm TCT thâm canh được tiến hành bơm cạn và phơi khô, sau khi phơi khô
nền đáy, loại bỏ lớp mùn bã và chất thải bằng cách nạo vét, tiến hành bón vôi. Tùy
theo pH đất mà liều lượng vôi CaCO3 liều lượng từ 3.000-5.000 kg/ha hoặc 1.00013
Tỷ lệ (%)
3.000 kg/ha vôi CaO, CaMg(CO3)2 tiến hành phơi nền đáy 7-10 ngày, sau đó cấp nước
vào ao để xử lý.
Hình 4.6 Sản phẩm cải tạo ao nuôi
Qua kết quả điều tra cho thấy 80% hộ nuôi sử dụng vôi đá,70% sử dụng canxi, sử
dụng dolomite là 55%, 40% sử dụng Iodine và Chlorine được các hộ nuôi sử dụng là
60%. Đây là những loại hóa chất rẻ tiền, dễ mua, có tính sát khuẩn cao đem lại hiệu
quả tốt nên thường được người nuôi sử dụng trong quá trình cải tạo ao, phòng trị bệnh
(Hình 4.6). Chlorine có tác dụng xử lý đáy ao trước khi lấy nước vào (50 - 100 ppm)
và dùng để xử lý nước trong ao (20 - 30 ppm). Lưu ý: khi sử dụng Chlorine để xử lý
đáy ao và nước ao xong phải mở quạt nước thật mạnh để cho Chlorine mau trung hòa.
Tốt nhất trước khi thả giống nên thử lại Chlorine trong nước.
Sau khi lấy nước vào ao tiến hành diệt các đối tượng như: cá tạp, cá dữ, giáp xác, ốc.
Theo kết quả khảo sát cho thấy 100% các hộ nuôi đều sử dụng Saponin để diệt tạp.
Saponin có nhiều trong bã hạt trà, là chất độc đối với cá nhưng không gây tác hại trên
các loài giáp xác nên được dùng để diệt cá tạp trong ao nuôi tôm. Saponin sẽ giảm độc
tính nhanh trong điều kiện ánh sáng mạnh hoặc trời nắng và độc tính của saponin sẽ tỷ
lệ nghịch với độ mặn của nước trong ao nuôi tôm.
Cách dùng: Trước khi sử dụng, ngâm saponin vào nước 12 - 24 giờ sau đó tạt đều vào
phẩm
Phân lân
Phân DAP
Thành phần
Chủ yếu chứa
Ca(H2PO4)2 và hàm lượng
P2O5 chỉ khoảng 16%
Đạm ( Nitơ) và Lân ( P2O5)
Công dụng
Gây màu nước cho
ao, tạo nguồn thức
ăn tự nhiên ban đầu
cho tôm và hạn chế
sự phát triển của
rong đáy.
Tỷ lệ (%)
65
25
Dolomite
CaCO3: 62% - 75%,
Qua kết quả điều tra cho thấy số hộ nuôi tôm dùng phân lân và phân DAP để gây màu
nước cho ao, tạo nguồn thức ăn tự nhiên ban đầu cho tôm và hạn chế sự phát triển của
rong đáy chiếm 65% và 25%. Dolomite và DO được người nuôi dùng ổ định pH, tăng
hệ đệm đều chiếm 10%. 35% số hộ nuôi tôm dùng BZT đáy để một số vi sinh hữu ích.
15
Nhìn chung, các hộ nuôi trong việc gây màu nước trước khi thả nuôi, góp phần nâng
cao tỷ lệ sống, tạo điều kiện cho tôm phát triển tốt ở giai đoạn giữa và cuối chu kỳ
nuôi, đồng thời giúp ổn định môi trường và tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho ao nuôi.
4.6 Mật độ tôm thẻ thả nuôi
Qua số liệu điều tra cho thấy mật độ thả nuôi 73,0±36,2 con/m². Mật độ thả cao nhất là
150 con/m² và thấp nhất là 40 con/m². Mật độ nuôi từ < 80 con/m2 được thả nuôi nhiều
nhất chiếm 45 %, mật độ nuôi trung bình 80 - 100 con/m2 được hộ nuôi thả ít chiếm
25 %, đối với hộ nuôi thả nuôi với mật độ cao 100 - 150 con/m2 chiếm 15%. Con
giống có kích cỡ nhỏ thì tỷ lệ hao hụt càng cao và mật độ cao cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ
sống của tôm nuôi.
Thông qua số liệu điều tra, một số hộ nuôi cho biết mật độ thả tôm 70 con/m² với độ
sâu 1,6m cho năng suất trung bình 900 kg/1000m², trong khi nuôi tôm với mật độ 100
con/m² ở độ sâu 1,2m thì đạt năng suất trung bình 1,2 tấn/1000m². Từ kết quả điều tra
trên cho thấy giữa mật độ nuôi và độ sâu không phụ thuôc vào nhau. Chủ yếu người
nuôi ở Tân Phú Đông áp dụng theo quy trình nuôi tôm với mực nước thấp.
4.7 Các loại chất dinh dưỡng bổ sung
Các sản phẩm này được nhiều người nuôi sử dụng, nhằm đảm bảo sức khỏe và khả
năng tăng trưởng cho tôm nuôi, được nhiều người nuôi trộn vào thức ăn và tạt vào
nước trong quá trình nuôi, để kích thích khả năng tiêu hóa, tăng cường miễn dịch và
sức đề kháng, nhằm hạn chế dịch bệnh. Qua khảo sát thực tế tại địa bàn huyện Tân
Phú Đông, các hộ nuôi có sử dụng các loại như: Vitamin, premix, aqua Mineral, aluse
(Bảng 4.4)
Bảng 4.4 Sản phẩm bổ sung vào thức ăn
Tỷ lệ
Số hộ Tỷ lệ
sử dụng (%))
ử dụng
5 - 10g
20
3 – 10g
9
100
Vitamin – axit amin :
Premix
Premix S
Vitatamin A, methionine,
lysine, vitamin D, vitamin B1
Khoáng: Iron, copper, zinc,
manganese, selenium,
choromium
16
45