TRƯỜNG CAO ĐẲNG KỸ THUẬT LÝ TỰ TRỌNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
--- ---
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU VỂ THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
SINH VIÊN : NGUYỄN HOÀNG NHẬT
LỚP : 12ĐT3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Môi trường quyết định cho sự tồn tại và phát triển của con người
và mọi sinh vật sống trên Trái đất. Môi trường cung cấp cho ta
những điều kiện sống cơ bản như thức ăn, nước uống, không khí,
ánh sáng … Nếu không có một trong những điều kiện đó thì con
người và các sinh vật khác đều không thể tồn tại và phát triển được.
Bởi vậy, môi trường là một vấn đề to lớn và cực kỳ quan trọng của
toàn thể nhân loại.
Ô nhiễm môi trường là một vấn nạn lớn của toàn cầu, của mỗi
quốc gia trong thời đại văn minh này. Môi trường, khí hậu trái đất
đang thay đổi quá nhanh và theo chiều hướng ngày càng tiêu cực
hơn vì một bộ phận vô ý thức của xã hội loài người. Trong bối cảnh
toàn cầu hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhất là những nước
đang phát triển như ở nước ta hiện nay thì giải quyết ô nhiễm môi
trường là một vấn đề rất cấp bách, khó giải quyết nhất mà Đảng và
Nhà nước ta rất quan tâm trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội,
dân sinh.
nay và phương hướng, giải pháp để khắc phục.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hoá các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài nghiên
cứu: Thực trạng ô nhiễm môi trường của thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay.
Khảo sát đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường ở thành phố Hồ
Chí Minh và các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng ô nhiễm môi
trường nơi đây.
Đề xuất biện pháp nhằm cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường
nơi đây.
PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Khái niệm về môi trường và ô nhiễm môi trường
Môi trường bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên và nhân tạo có
mối liên hệ gắn kết với nhau, bao quanh con người, mọi sinh vật tác
động đến đời sống, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh
vật sống.
Ô nhiễm môi trường là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng
vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con
người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi
trường. Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí
thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hóa chất hoặc tác
nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ.
3
Tuy nhiên, môi trường chỉ được xem là bị ô nhiễm nếu trong đó
hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức
có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu
Ô nhiễm môi trường đất
chính gây ô nhiễm đó là các sự cố tràn dầu.
Ô nhiễm nước có nguyên nhân từ các loại chất thải và
nước thải công nghiệp được thải ra lưu vực các con sông
mà chưa qua xử lí đúng mức; các loại phân bón hoá học và
thuốc trừ sâu ngấm vào nguồn nước ngầm và nước ao hồ;
nước thải sinh hoạt được thải ra từ các khu dân cư ven
sông.
4
Ô nhiễm không khí
Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự
biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho
không khí không sạch hoặc gây ra sự tỏa mùi, có mùi khó
chịu, giảm tầm nhin xa do bui. Hiện nay, ô nhiễm khí
quyển là vấn đề thời sự nóng bỏng của cá thế giới chứ
không phải riêng của một quốc gia nào. Môi trường khí
quyển đang có nhiều biến đổi rõ rệt và có ảnh hưởng xấu
đến con người và các sinh vật. Hàng năm con người khai
thác và sử dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt. Đồng
thời cũng thải vào môi trường một khối lượng lớn các
chất thải khác nhau, làm cho hàm lượng các loại khí độc hại
tăng lên nhanh chóng.
Hàng năm có:
- 20 tỉ tấn cácbon điôxít
- 1,53 triệu tấn SiO2
- Hơn 1 triệu tấn niken
- 700 triệu tấn bụi
- 1,5 triệu tấn asen
học trên thế giới đã đưa ra dự báo rằng đến năm 2050
nhiệt độ của Trái Đất sẽ tăng thêm 1,5 – 4,50°C nếu như
con người không có biện pháp hữu hiệu để khắc phục hiện
tượng hiệu ứng nhà kính.
2. Thực trạng môi trường ở thành phố Hồ Chí Minh
Cho đến thời điểm hiện tại, ô nhiễm môi trường vẫn đang là vấn
đề rất nhứt nhối và nan giải, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh
quan, đời sống, sức khoẻ của người dân và sinh vật, quá trình
phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố
đã có nhiều giải pháp để giải quyết vấn đề này nhưng không triệt
để và có chăng cũng là những giải pháp tình thế, đối phó, khiến
tình trạng ô nhiễm ở đây ngày càng trầm trọng.
Ô nhiễm kênh rạch có lẽ không còn xa lạ đối với người dân
thành phố Hồ Chí Minh và các Huyện vùng ven. Mặc dù chính
quyền đã treo băng rôn cấm đổ rác, ghi mức phạt và làm rào
chắn rất cao; nhưng rất nhiều đoạn kênh vẫn bị phủ một “thảm”
rác; thậm chí hàng lưới chắn bảo vệ còn bị một số người dân cắt
ra để bỏ rác. Rác nhiều đến nỗi nước không chảy được, kênh
biến thành ao tù, bốc mùi hôi thối và là nơi sinh sôi của muỗi,
ruồi…
Nhiều con kênh trên địa bàn TP HCM đang bị ô nhiễm nặng nề…
6
Ô nhiễm kênh rạch đang ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống người dân
nơi đây.
Ô nhiễm kênh rạch còn do nạn lấn chiếm lòng kênh để xây, mở
là vẫn còn gần 20% số đơn vị có chất lượng nước sau xử lý chưa
đạt quy chuẩn cho phép đối với chỉ tiêu ô nhiễm hữu cơ BOD5.
Hiện vẫn chưa thống kê được số nguồn thải gây ô nhiễm môi
trường nước có lưu lượng nước thải nhỏ hơn 50m3/ngày
đêm.Thành phố đã thực hiện công tác di dời hơn 10 năm qua và
đã di dời được hơn 1.300 cơ sở vùng nội thành (tập trung tại các
quận 5, 6, 11) đến các khu công nghiệp. Hiện nay vẫn còn một số
cơ sở sản xuất gây ô nhiễm tồn tại trong khu vực nội thành và
thành phố đang lên kế hoạch, tiến độ thực hiện di dời.
Môi trường nước đang bị ô nhiễm bởi nước thải khu dân cư và
nước thải từ các khu công nghiệp là chủ yếu. Một bộ phận không
nhỏ cộng đồng dân cư không quan tâm đến việc xử lý nước thải
sinh hoạt, dẫn đến chất lượng nước kênh rạch thành phố càng ô
nhiễm. Theo Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2010, kết quả
quan trắc các đoạn sông chính trong cả nước, nhiều chất ô nhiễm
trong nước có nồng độ vượt quá QCVN từ 1,5 – 3 lần. Còn tại các
khu vực hồ, ao, kênh rạch và các sông trong khu vực nội thành
các thành phố đều bị ô nhiễm nghiêm trọng, vượt quá mức QCVN
08:2008, vấn đề ô nhiễm chủ yếu là ô nhiễm hữu cơ và
Coliforms. Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường nước do
nước thải từ KCN trong những năm gần đây là rất lớn, tốc độ gia
tăng này cao hơn rất nhiều so với tổng nước thải từ các lĩnh vực
khác.
Theo kết quả thống kê các nguồn thải công nghiệp trên địa bàn
TP.HCM từ năm 2010 đến 2012 được thực hiện trên địa bàn 24
Quận/huyện với 826 nguồn thải, chỉ có khoảng 60% nguồn thải có
hệ thống xử lý nước thải, các nguồn thải còn lại chỉ qua xử lý sơ
bộ (bể tự hoại) trước khi xả thải ra môi trường. Điều đáng lưu ý là
trong số các nguồn thải được khảo sát thì có đến 44% các nguồn
thải có lưu lượng nước thải từ 50m 3/ngày.đêm, đây là nguồn thải
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
Quận1
Quận2
Quận3
Quận4
Quận5
Quận6
Quận7
Quận8
Quận9
Quận10
Quận11
Quận12
32
110
96
288
236
220
325
464
96
130
Song song với những khó khăn, thách thức trong việc giải quyết
tình trạng ô nhiễm môi trường do thiên tai, bão lũ gây ra hằng
năm, chất thải y tế chưa qua xử lí cũng đang là mối đe doạ cho
môi trường. Dù chưa có số liệu thống kê nhưng vẫn không thể
xem thường tác hại của ô nhiễm môi trường do rác thải y tế gây
ra. Toàn thành phố hiện có hàng trăm bệnh viện lớn nhỏ nhưng
cũng chỉ có 1 vài bệnh viện có hệ thống xử lí chất thải y tế đạt
tiêu chuẩn.
3. Những nguyên nhân gây ra ô nhiễm:
3.1 Sinh hoạt, hoạt động kinh tế hằng ngày
Chất lượng nước sông Sài Gòn, kênh Tàu Hủ… bị suy giảm bởi
rất nhiều nguồn thải như nước chảy tràn đô thị, nước thải từ các
khu dân cư, rò rỉ dầu từ hoạt động giao thông thủy, bãi chôn lấp
rác, khai khoáng và hoạt động sản xuất công nghiệp, nông
nghiệp. Minh chứng rõ cho từng nguồn thải, ông Segimon Serrat
10
Serra, Chủ nhiệm dự án kiểm soát nguồn thải sông Sài Gòn cho
an toàn, và chỉ 10% lượng rác thải này được xử lý triệt để.
Môi trường thành phố vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có nơi
đã đến lúc báo động, đất đai bị xói mòn, thoái hóa, chất lượng
các nguồn nước suy giảm mạnh. Ở nhiều đô thị, khu dân cư,
không khí bị ô nhiễm nặng, khối lượng phát sinh và mức độ
độc hại của chất thải ngày càng tăng, điều kiện vệ sinh môi
trường, cung cấp nước sạch không bảo đảm, tốc độcông
nghiệp hóa, đô thị hóa, gia tăng dân số đã gây áp lực lớn cho
công tác bảo vệ môi trường, nhất là ở các đô thị như thành phố
11
Hồ Chí Minh là một điển hình.
3.3 Ý thức người dân còn hạn chế
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung lao động từ khắp nơi
trên cả nước đổ về đây sinh sống. Vì thế việc kiểm soát và
nâng cao ý thức người dân vẫn đang là vấn đề khó khăn của
các cấp, các ngành.
Bụi, khí thải độc hại, nhớt đã qua sử dụng, thuốc bảo vệ thực
vật…. được người dân, người lao động xã thẳng ra môi trường,
vượt hàng trăm, hang ngàn mứ cho phép gây ra các hiệu ứng
tiêu cực ảnh hưởng về lâu dài tớ sức khoẻ của con người và
sinh vật sống nơi đây.
Khói bụi “ngợp trời” trong giờ cao điểm ở thành phố Hồ Chí Minh.
4. Tác hại việc ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường có thể tác động đến cơ thể con người trực
tiếp hoặc gián tiếp. Trực tiếp là do mỗi ngày con người sống
trong môi trường nước, không khí ô nhiễm, hít thở hoặc sử
nghiệp gây ô nhiễm mạnh mẽ hơn. Cần thay đổi quan điểm cho
rằng, phải hy sinh lợi ích môi trường cho phát triển kinh tế.
Phải nhìn nhận rằng, ô nhiễm môi trường chính là “sát thủ sinh
học”. Có những chất thải ô nhiễm có thể chuyển hóa hoặc cải
thiện theo thời gian hoặc có tác động của con người. Tuy nhiên
cũng có những chất thải tồn tại vĩnh viễn, gây tổn hại đến sức
khỏe cho nhiều thế hệ. Do vậy, những doanh nghiệp có hành vi
vi phạm môi trường thì không nên chỉ đơn thuần là bị xử lý vi
phạm hành chính mà cần phải bị truy tố trước pháp luật. Đáng
tiếc là cho đến nay vẫn chưa thể giải quyết triệt để việc gây ô
nhiễm môi trường. Và nếu thực trạng trên không thể khắc phục
thì dù nhà nước có đầu tư xây dựng bao nhiêu bệnh viện cũng
không thể giải quyết hết tình trạng quá tải vốn đang ngày càng
trầm trọng tại các bệnh viện hiện nay.
13
Ô nhiễm môi trường đã và đang len lỏi vào từng ngóc ngách
của cuộc sống. Riêng tại TPHCM, vấn nạn ô nhiễm môi trường
đã trở nên rất đáng lo ngại. Cụ thể, về môi trường nước, tại các
điểm quan trắc trên sông Sài Gòn và Đồng Nai ở khu vực dùng
cho mục đích cấp nước, một số chỉ tiêu như DO, nồng độ dầu
và Coliform đều không đạt quy chuẩn cho phép. Trên các kênh
rạch nội thành, kết quả quan trắc cho thấy các chỉ tiêu ô nhiễm
hữu cơ (BOD, COD) và Coliform hầu hết đều cao hơn quy
chuẩn nhiều lần.
Còn về môi trường không khí, ô nhiễm bụi là vấn đề đáng quan
ngại nhất trong đô thị. Chất lượng không khí ven đường luôn có
nồng độ bụi tổng cộng (TSP) dao động từ 0,44 – 0,65 mg/m³,
môi trường; Thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững; từng
bước phát triển “năng lượng sạch”, “sản xuất sạch”, “tiêu dùng
sạch”; Tăng cường hợp tác quốc tế để phối hợp hành động và
tranh thủ sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế cho công tác bảo vệ
tài nguyên và môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; Đẩy
mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.
Thứ ba: Coi trọng yếu tố môi trường trong tái cơ cấu kinh tế,
tiếp cận các xu thế tăng trưởng bền vững và hài hòa trong phát
triển ngành, vùng phù hợp với khả năng chịu tải môi trường,
sinh thái cảnh quan, tài nguyên thiên nhiên và trình độ phát
triển. Đã đến lúc “nói không” với tăng trưởng kinh tế bằng mọi
giá; Tăng trưởng kinh tế phải đồng thời với bảo vệ môi trường,
ứng phó với biến đổi khí hậu. Bảo vệ môi trường, ứng phó với
biến đổi khí hậu cũng phải thay đổi theo hướng có lợi cho tăng
trưởng kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra công ăn việc
làm, hỗ trợ để đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn.
Thứ tư: Dự báo, cảnh báo kịp thời, chính xác các hiện tượng
khí tượng thủy văn, chung sức và chủ động ứng phó với biến
đổi khí hậu; Tập trung triển khai thực hiện Chiến lược phát
triển ngành khí tượng thủy văn đến năm 2020 và hai đề án: Tiếp
tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và
cộng đồng quốc tế trong việc tham gia ứng phó với biến đổi khí
hậu toàn cầu; lồng ghép các yếu tố biến đổi khí hậu với Chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011-2020) và kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2011-2015), xác định các giải
pháp chiến lược và chính sách thực thi, bố trí các nguồn lực cần
thiết để tổ chức và triển khai thực hiện tốt Chương trình mục
tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.
Thứ bảy: Hoàn thiện hệ thống pháp luật về môi trường, chuẩn
bị cơ sở pháp lý cho ứng phó với biến đối khí hậu theo hướng
thống nhất, công bằng, hiện đại và hội nhập đáp ứng yêu cầu
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục hoàn
thiện hệ thống pháp luật hiện hành, tiến tới xây dựng
Bộ Luật Môi trường, hình thành hệ thống các văn bản quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành theo hướng thống nhất, công
bằng, hiện đại và hội nhập, khắc phục tình trạng chồng chéo,
mâu thuẫn, không rõ trách nhiệm và thiếu khả thi.
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết Luận
Thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 này, con người đã đạt được những
thành tựu to lớn, vượt bậc trong rấtn hiều lĩnh vực. Con người
tự hào khi đã có thể thám hiểm vì sao và các hành tinh khác.
Internet đã kéo cả thế giới lại gần nhau hơn. Công nghệ sinh
học đã can thiệp vào bản đồ gen người. Con người đã biết
hưởng thụ cuộc sống, những tiện nghi chưa từngo ó, những
chiếc xe hơi, những ngôi nhà số, du lịch vũ trụ… Nhưng cung
cách đối xử với bà mẹ thiên nhiên thì đang đi xuống nhanh
chóng, con người đang can thiệp quá sâu vào thiên nhiên làm
cho thiên nhiên nổi giận gây cho con người vô vàn tai ương,
16
dịch bệnh.
Bảo vệ môi trường là một trong những mục tiêu rất quan trọng
để hướng đất nước tới phát triển bền vững. Công tác bảo vệ môi
trường tốt giúp môi trường trong lành và chất lượng cuộc sống
được nâng cao hơn.
Các tài liệu đã tham khảo:
Sggp.org.com
Dothi.net
Baodatviet.vn
Vea.gov.vn
Baohaiquan.vn
Hoahocngaynay.com
Nguoiduatin.vn
Và một số nguồn tin khác.
18
Mục lục
Phần mở đầu
Trang
Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
4
6
11
11
12
12
13
15
18
18
19
19
20