BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-*-*-*-
CHUYÊN
ĐỀ
MÔN: LỊCH SỬ TDTT
Lớp: 7A
Tên: Đặng Ngọc Nhật Hòa
TP. Hồ Chí Minh, ngày 2 tháng 4 năm 2016.
1
Chuyên đề: lịch sử phát triển TDTT cận đại, quan điểm đường lối của
đảng và nhà nước về công tác TDTT trong giai đoạn cách mạng mới;
những mặt tốt và chưa tốt của công tác TDTT Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay và những giải pháp thúc đẩy TDTT Việt Nam phát triển.
Bài Làm
I. Thể Dục Thể Thao trong giai đoạn đầu của thời kỳ cận đại:
Thời đại phát triển của chủ nghĩa tư bản từ cuộc cách mạng tư sản đầu tiên
ở thế kỷ thứ 17(Cách mạng tư sản Anh 1640) đến trước cách mạng xã hội
chủ nghĩa tháng Mười vĩ đại gọi là thời cận đại.
Trong thời kỳ này nền kinh tế và văn hóa của chế độ mới đã được phát
triển, đã diễn ra cuộc đấu tranh giữa cái mới,tiến bộ và cái cũ phản động.
Đồng thời, trong lý luận và thực tiễn của giáo dục chung và giáo dục thể
3
Các đại biểu nổi tiếng của hệ thống giáo dục này là Antôn phít và Lôgan
Gútmút (1763 -1839) cho rằng phương tiện giáo dục thể chất gồm:
Rèn luyện chống thời tiết xấu và nhiệt độ thấp của không khí, biết chịu
đựng đói, khát, mất ngủ.
Các bài tập phát triển các giác quan,chủ yếu trong lúc tham gia trò chơi đặc
biệt.
Tất cả các bài tập Hy Lạp, trượt băng, mang vác vật nặng,các trò chơi giải
trí.
Các bài tập cưỡi ngựa, đấu kiếm, nhảy múa trong đó có các bài tập trên
ngựa gỗ và một số dụng cụ khác.
Các động tác đơn giản của từng bộ phận cơ thể , lao động chân tay.
Công lao chính củ Gútmút là soạn thảo kỷ thuật của các bài tập thể dục và
đưa vào trường học.
Hệ thống giáo dục thể chất của Thụy Điển :
Dấu hiệu chủ yếu của bài tập thể dục Thủy Điển là tính đối xứng và thẳng
hàng. Tư thế đúng của tay chân và mình được đặc biệt chú ý. Trong thời
gian tập có nhiều lần nghĩ giữa giờ. Thể dục Thụy Điển đã đặt cơ sở cho sự
phát triển thể dục phát triển chung.
Đến nay hệ thống thể dục Thụy Điển vẫn được áp dụng rộng rãi trong nhà
trường.
Hệ thống giáo dục thể chất của Pháp :
Vào những năm 1770 – 1848 Đại tá Phơranxixcô Amôrốt và những người
kế tục ông có công lao to lớn trong việc xây dựng hệ thống giáo dục của
Pháp. Các ông đã biên soạn hệ thống bài tập có tính ứng dụng quân sự đào
tạo binh sĩ.
Ông cho rằng bài tập thể dục tốt nhất là bài tập phát triển kỹ năng cần thiết
5
giảng dạy trong trường , dạy các bài tập cưỡi ngựa, đấu kiếm, bơi, đua
thuyền.
Nhà nhân đạo chủ nghĩa người pháp Phơrăngxoa Rappolo ( 1494 – 1553)
vì coi trọng giáo dục thể chất nên ông đề nghị luân phiên giờ học văn hóa
và tập thể dục. Ông sử dụng các bài tập của giời quý tộc và của cả người
nghèo vào mục đích giáo dục con người.
Các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng Tômátmô ( 1478 – 1535) người Anh
và Tômadô Campalena ( 1568 – 1639) người Italia là đỉnh cao của sự phát
triển về giáo dục của các tư tưởng theo trường phái nhân đạo chủ nghĩa.
Các ông miêu tả về xã hội tương lai và đời sống hạnh phúc con người.
Theo các ông, mục đích của giáo dục là chuẩn bị kiến thức cho trẻ em phục
vụ xã hội, tăng cường giáo dục thể chất là điều cần thiết để phát triển hài
hòa tinh thần và thể chất con người trong đó có người lao động.
Học thuyết của các nhà sang lập cộng sản chủ nghĩa khoa học giáo dục thể
chất – một bộ phận của nền văn hóa chung đối với người lao động :
Các nhà sáng lập cộng sản chủ nghĩa khoa học đã chỉ cho tác động nguy
hại của chủ nghĩa tư bản đối với sức khỏe, đối với sự phát triển thể chất và
tinh thần của giai cấp công nhân. Ảnh hưởng của phân công lao động đối
với sự phát triển nhân cách con người là những nguyên nhân làm cho con
người không thể phát triển toàn diện vể thể chất và tinh thần trong điều
kiện xã hội tư bản.
Khi phân tích những điều kiện sống cụ thể của giai cấp công nhân
Ph.Ăngghen đã viết trong cuốn “ Tình cảm của giai cấp công nhân ở Anh ”
rằng “ Giai cấp tư sản chỉ đem lại cho công nhân cuộc sống và học vấn
chừng nào điều đó cần cho lợi ích của nó, giai cấp tư sản hoàn toàn không
quan tâm tới sự phát triển thể chất và trí tuệ của công nhân ”.
7
cho họ và con cái của họ. Có tổ chức hoạt động thể thao không mang tính
chất chính trị. Nhưng cũng có tổ chức tích cực tham gia chính trị, theo yêu
cầu của các tổ chức Đảng, trở thành những trung tâm tuyên truyền cổ động.
Sự phát triển rộng rãi thể thao của công nhân diễn ra vào cuối thế kỉ XIX ở
Đức , Pháp , Hunggary… phong trào trở thành một bộ phận lớn của các lực
lượng tiến bộ trong lịch sử thể thao.
Lo sợ trước sự phát triển này, nhiều xí nghiệp của các nhà tư bản đã thành
lập tổ chức thể thao cho công nhân để lôi kéo thanh niên công nhân về phía
mình, mục đích để họ lãng quên các tổ chức chính trị của giai cấp công
nhân.
Năm 1913 một tổ chức thống nhất các tổ chức thể thao công nhân các nước
Anh , Áo , Hungary , Đức , Pháp , Bỉ đã làm nền tảng cho sự thống nhất
quốc tế của các vận động viên công nhân. Song, do chiến tranh thế giới lần
thứ nhất nên bị gián đoạn , sau cách mạng Tháng Mười và chiến tranh thế
giới lần thứ nhất kết thúc, tổ chức thể thao quốc tế mới ra đời.
Phong trào “ Chim ưng ” và thể dục “ Chim ưng ” :
Để thu hút thanh niên , phong trào “ Chim ưng ” ở Tiệp Khác đã soạn thảo
hệ thống và quy định trang phục thống nhất , có nhạc đệm.
Bài tập được chia thành 4 nhóm :
Nhóm 1 : Thể dục dụng cụ gồm có xà đơn , xà kép , ngựa gỗ…
Nhóm 2 : Những động tác tay không.
Nhóm 3 : Các động tác tập thể.
Nhóm 4 : Các động tác chiến đấu gồm có vật , đấu gươm , thể dục quân sự.
Sự phát triển tiếp tục của thể thao và hệ thống giáo dục thể chất .
8
động tác và khéo léo. Khi thực hiện các bài tập phải biết thả lỏng cơ bắp đã
tham gia hoạt động. Các bài tập phải tuân theo nguyên tắc chung, đảm bảo
về mặt sinh lý vận động, giáo dục và phát triển các tố chất thể lực và các
phẩm chất tâm lý, ý chí. Tuy nhiên còn hạn chế về mặt nhìn nhân sinh lý
học trong giáo dục thể chất.
Phương pháp tự nhiên của Goóc – Ebe:
Ông đề nghị tiến hành các bài tập trên địa hình tự nhiên, không cần trang
thiết bị chuyên môn. Tùy theo hoàn cảnh, giáo viên phải biết sáng tạo các
bài tập trong hoàn cảnh khác nhau kể cả tạo ra chướng ngại vật nhân tạo.
Ông tập trung vào phương pháp tập luyện của nam mà không nêu ra
phương pháp tập luyện của nữ.
Thể dục cơ bản của Ninxơ Búc :
Ông sử dụng rộng rãi các dụng cụ thể dục sáng tạo như thang dóng, ghế
băng, khung treo… Ông đã làm cho thời gian hoạt động của giờ học đạt
giới hạn. Cho đến nay , phương pháp này vẫn được áp dụng.
Những quan điểm giáo dục thể chất tiến bộ ở nước Nga trước cách mạng xã
hội chủ nghĩa Tháng Mười.
Các nhà khoa học Nga đã có vai trò to lớn trong việc phát triển các quan
điểm khoa học đúng đắn về giáo dục thể chất:
Nhà sư phạm kiệt xuất Côntantin Usinxky là người đầu tiên đề nghị cho trẻ
em tập luyện thân thể 5 phút trong thời gian học lý thuyết để nâng cao hiệu
quả học tập.
P.Létsgap là nhà khoa học đầu tiên tìm hiểu quá trình giáo dục thể chất
bằng phương pháp khoa học ở những điểm sau :
Giáo dục trí tuệ và giáo dục thể chất phải chuẩn bị cho con người lao động
có năng suất cao, vì hạnh phúc của toàn xã hội.
10
chỉ thị 180 CT/TƯ 28/8/1970 công tác TDTT phát triển đúng hướng, góp
phần tích cực phục vụ sản xuất , chiến đấu, đời sống và xây dựng con
người mới. Trong tình hình mới chỉ thị yêu cầu nghành TDTT “ phấn đấu
vươn lên, đưa phong trào quần chúng rèn luyện thân thể và nề nếp, phát
triển công tác TDTT có chất lượng, có tác dụng tích cực nhằm mục tiêu
khôi phục và tăng cường sức khỏe của nhân dân, góp phần xây dựng con
người mới phát triển toàn diện” .
Để thực hiện mục tiêu này, chỉ thị đã nêu ra 4 phương hướng là:
Kết hợp TDTT, lấy thể dục làm cơ sở, kết hợp thể dục với vệ sinh phòng
chống bệnh, kết hợp thành tựu hiện đại của thế giới với kinh nghiệm truyền
thống của dân tộc , tập trung phục vụ phong trào cơ sở.
Tập luyện TDTT phải phù hợp với từng lứa tuổi nam nữ, nghành nghề, sức
khỏe của từng người và phù hợp với điều kiện kinh tế, hoàn cảnh địa lí tự
nhiên và truyền thống của từng vùng. Thực hiện kiểm tra y học và bảo đảm
an toàn trong tập luyện và thi đấu.
Kết hợp việc phát triển quần chúng với việc xây dựng lực lượng nồng cốt
bao gồm cán bộ, huấn luyện viên, trọng tài, giáo viên, hướng dẫn viên, và
vận động viên TDTT.
Triệt để sử dụng những điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất có sẵn, dựa vào
lực lượng của nhân dân.
Trải qua 20 năm thực hiện chỉ thị 227 CT/TƯ Ban Bí thư trung ương Đảng
đã đánh giá:
Nhũng năm gần đây TDTT đã phát triển, phong trào TDTT được mở rộng
với nhiều hình thức, nhiều môn thể thao dân tộc được khôi phục và phát
triển, nhiều môn thể thao đã được những thành tích đầy khích lệ, cơ sở vật
chất đã được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới.
12
trường dạy nghề và sư phạm kỹ thuật. Chương trình gồm 60 tiết học nội
khóa và một số giờ ngoại khóa.
Từ khi thành lập Hội Thể thao Đại học Việt Nam đã phối hợp cùng Bộ Đại
học –Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề tổ chức nhiều hoạt động
TDTT quy mô khu vực và toàn nghành cũng như quốc tế. Hội thể thao Đại
học Việt Nam đã tham dự các hội thể thao mùa hè của sinh viên thế giới
(Universiade) lần XI năm 1981, XII năm 1983, XIII năm 1985, XIV năm
1987, XV năm 1989, XVI năm 1991…
Chỉ thị 17
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT
NAM
********
******************
Số 07- HD/KGTW
Hà nội, ngày 12 tháng 11 năm 2002
14
Kính gửi: Tỉnh uỷ, thành uỷ các tỉnh,
Thành phố trực thuộc Trung ương
HƯỚNG DẪN
trách nhiệm lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền đối việc phát triển
TDTT. Làm cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu sâu hơn về vị trí,
vai trò của TDTT đói với việc nâng cao sức khoẻ, thể lực của mọi người
dân, đặc biệt là thanh thiếu niên và góp phần xây dựng nếp sống văn hoá,
trật tự an toàn xã hội, tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước
ta.
2. Xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản của tỉnh ủy, thành uỷ về
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng nhằm phát triển TDTT của địa phương
theo tinh thần Chỉ thị số 17-CT/TW của Ban bí thư.
- Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, thành uỷ phối hợp với tổ chức đảng Sở
TDTT và các ban, ngành liên quan dự thảo văn bản (nghị quyết hoặc kế
hoạch hành động…) về phát triển TDTT của địa phương thực hiện Chỉ thị
số 17-CT/TW của Ban bí thư để trình tỉnh ủy, thành ủy xem xét và phê
duyệt. Dự thảo văn bản cần đánh giá thực trạng công tác TDTT; khẳng định
vị trí, tầm quan trọng của công tác TDTT; đối với việc chuẩn bị nguồn nhân
lực phục vụ CNH, HĐH (nâng cao sức khoẻ và thể lực; góp phần giáo dục
đạo đức, lối sống; nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân; góp
phần đẩy lùi tệ nạn xã hội, giữ gìn trật tự, an ninh xã hội…); những vấn đề
bức xúc nhất đang đặt ra ở địa phương; các chủ trương và giải pháp thích
16
hợp với tình hình thực tế của địa phương để tăng cường đầu tư về tài chính,
cơ sở vật chất, cán bộ cho TDTT ở cơ sở, ưu tiên đối với những vùng khó
khăn; phân công trách nhiệm cụ thể cho từng ngành, từng tổ chức, từng cán
bộ lãnh đạo; hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện của các cấp, các ngành,
đoàn thể ở địa phương.
- Sau khi có văn bản của tỉnh uỷ, thành uỷ, Ban Tuyên giáo và tổ
chức đảng cơ sở TDTT có trách nhiệm giúp cấp uỷ tổ chức hướng dẫn và
các nguồn tài trợ để tăng đầu tư cho hoạt động TDTT ở cơ sở, nhất là ở các
vùng khó khăn.
- Căn cứ vào thực tiễn hoạt động của mạng lưới TDTT ở địa phương
để chủ động điều chỉnh các cơ chế thích hợp và đề xuất với các cơ quan
trung ương về viễc bổ sung hoàn thiện và ban hành mới các văn bản pháp
luật và các chính sách liên quan.
- Tổng kết việc triển khai xã hội hoá TDTT ở cơ sở, rút ra các bài
học kinh nghiệm, các cách làm hay để không ngừng phát huy kết quả của
xã hội hoá TDTT. Tăng cường sự phối hợp liên ngành, phối hợp với các tổ
chức và cá nhân trong, ngoài nước để khai thác các nguồn lực và tìm ra
những giải pháp thiết thực nhằm phát triển TDTT.
4. Trước mắt các cấp uỷ đảng có liên quan cần tập trung chỉ đạo việc
chuẩn bị và tổ chức thật tốt SEA Games 22 (năm 2003) theo tinh thần Chỉ
thị số 17-CT/TW
III. KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHỈ THỊ
Ban tuyên giáo các tỉnh uỷ, thành uỷ và tổ chức đảng sở TDTT định
kỳ kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị ở các cấp, các ngành; kịp thời chỉ đạo các
cơ sở giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện Chỉ thị.
Hàng năm tổng hợp đánh giá tình hình, đúc rút kinh nghiệm để báo cáo tỉnh
18
uỷ, thành uỷ, đồng thời gửi báo cáo về Ban Khoa giáo Trung ương để Ban
tổn ghợp báo cáo Ban Bí thư.
Chỉ thị 641
THỦ TƯỚNG
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt
Nam giai đoạn 2011 – 2030 (sau đây gọi tắt là Đề án), với những nội
dung chủ yếu sau đây:
1. Mục tiêu tổng quát
Phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam trong 20 năm tới để nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước; từng bước nâng cao chất lượng giống nòi và tăng tuổi thọ
khỏe mạnh của người Việt Nam.
2. Mục tiêu cụ thể
Tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ
sinh, giảm mạnh tỷ lệ suy dinh dưỡng để cải thiện các chỉ số cơ bản của trẻ
em 5 tuổi và đảm bảo các tiêu chí đánh giá thể lực, tầm vóc thân thể của
thanh niên Việt Nam lứa tuổi trưởng thành.
a) Cải thiện tầm vóc thân thể của thanh niên Việt Nam đạt nhịp độ tăng
trưởng ổn định theo các tiêu chí sau:
- Đối với nam 18 tuổi: Năm 2020 chiều cao trung bình 167 cm; năm 2030
chiều cao trung bình 168,5 cm.
- Đối với nữ 18 tuổi: Năm 2020 chiều cao trung bình 156 cm; năm 2030
chiều cao trung bình 157,5 cm.
b) Cải thiện thể lực, đặc biệt là sức bền và sức mạnh của đa số thanh niên
có bước phát triển rõ rệt, thu hẹp khoảng cách so với các nước phát triển ở
châu Á theo các tiêu chí sau:
- Đối với nam 18 tuổi
20
+ Chạy tùy sức 5 phút tính quãng đường trung bình đạt 1.050 m vào năm
5. Các chương trình của Đề án
a) Chương trình 1: Nghiên cứu triển khai, ứng dụng những yếu tố chủ yếu
tác động đến thể lực, tầm vóc người Việt Nam.
- Phân công thực hiện
+ Cơ quan chủ trì: Bộ Y tế.
+ Cơ quan phối hợp: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và
Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và
Đầu tư).
- Nhiệm vụ: Xây dựng các chỉ số sinh học và các tiêu chí, tiêu chuẩn phát
triển thể lực, tầm vóc; đề xuất khả năng can thiệp cải thiện thể lực, tầm vóc
người Việt Nam.
- Nội dung chủ yếu
+ Khảo sát, thống kê các chỉ số sinh học và tổng hợp các tiêu chí, tiêu
chuẩn đánh giá thể lực, tầm vóc người Việt Nam.
+ Khảo sát thống kê số liệu về yếu tố di truyền và môi trường chi phối
chiều cao đứng.
+ Điều tra tổng hợp và xác định tần số bệnh tật gây bất thường về tầm vóc
thân thể, thể lực; đề xuất một số biện pháp can thiệp.
- Tiêu chí đánh giá: Có tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá thể lực, tầm
vóc người Việt Nam; thí điểm triển khai, ứng dụng những yếu tố chủ yếu
tác động đến thể lực, tầm vóc người Việt Nam từ 03 tuổi đến 18 tuổi ở 25%
số trường mẫu giáo và phổ thông.
b) Chương trình 2: Chăm sóc dinh dưỡng kết hợp với các chương trình
chăm sóc sức khỏe, chất lượng dân số có liên quan.
- Phân công thực hiện
22
+ Cơ quan chủ trì: Bộ Y tế.
học đường đối với toàn bộ các trường mẫu giáo và tiểu học.
c) Chương trình 3: Phát triển thể lực, tầm vóc bằng giải pháp tăng cường
giáo dục thể chất đối với học sinh từ 03 tuổi đến 18 tuổi.
- Phân công thực hiện
+ Cơ quan chủ trì: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
+ Cơ quan phối hợp: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Xây dựng, Bộ
Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương, Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Trung
ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
- Nhiệm vụ: Nâng cao chất lượng giờ học thể dục chính khóa; tổ chức các
hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa, hướng dẫn học sinh tự luyện tập thể
dục thể thao để tăng cường thể lực, cải thiện chiều cao thân thể.
- Nội dung chủ yếu
+ Khảo sát thực trạng thể dục thể thao trường học, thể chất và sức khỏe học
sinh là đối tượng của Đề án.
+ Cải thiện và tăng cường điều kiện phục vụ hoạt động thể dục thể thao
trong trường học bao gồm: cơ chế chính sách, tổ chức quản lý, nguồn nhân
lực và cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ tập luyện.
+ Chuẩn hóa, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục thể chất đối với
các trường thí điểm.
+ Tận dụng các công trình thể dục thể thao trên địa bàn để phục vụ cho
hoạt động giáo dục thể chất trong trường học (chính khóa và ngoại khóa).
+ Đảm bảo chất lượng dạy và học thể dục chính khóa, các hoạt động thể
thao ngoại khóa cho học sinh; xây dựng chương trình giáo dục thể chất hợp
lý có kết hợp với giáo dục quốc phòng, triển khai đồng bộ với công tác y tế
24
học đường và dinh dưỡng học đường.