Khóa luận tốt nghiệp QUẢN TRỊ rủi RO TRONG THANH TOÁN QUỐC tế tại NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH 3 TP hồ CHÍ MINH - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ - MARKETING

BÀNH YẾN NHI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ
TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
CHI NHÁNH 3 TP HỒ CHÍ MINH

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THẠC SĨ LÊ MINH TUẤN

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ - MARKETING


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ
TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
CHI NHÁNH 3 TP HỒ CHÍ MINH

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS. LÊ MINH TUẤN
SINH VIÊN THỰC HIỆN: BÀNH YẾN NHI
LỚP – KHÓA: NT02 – K38

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016



NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
TP Hồ Chí Minh, ngày……tháng……năm……


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................

giải quyết khó khăn, và hạn chế, khắc phục những hậu quả do rủi ro trong thanh toán
quốc tế mang lại.


MỤC LỤC

7


DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
SXKD: sản xuất kinh doanh.
CN3: chi nhánh 3.
TSBĐ: tài sản bảo đảm.
TTQT: thanh toán quốc tế.
HĐKD: hoạt động kinh doanh.
NK: nhập khẩu.
XK: xuất khẩu.
NH: ngân hàng.
NHTM: ngân hàng thương mại.
BCT: bộ chứng từ.

8


DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
DANH MỤC BẢNG

9




Phân tích thực trạng quản trị rủi ro trong TTQT tại chi nhánh, tìm ra những điểm còn
thiếu sót hoặc những điểm chưa hợp lý trong việc quản trị rủi ro đó. Từ đó đề xuất một số
giải pháp để hoàn thiện thêm cho nghiệp vụ quản trị rủi ro trong TTQT tại chi nhánh.

10


1.3.

Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi không gian: ngân hàng Vietinbank CN3 TPHCM.
Phạm vi thời gian: nghiên cứu số liệu trong gian đoạn từ năm 2012 đến năm 2015.
1.4.

Phương pháp nghiên cứu:

Bài báo cáo thực tập này được nghiên cứu bằng một số phương pháp sau:
1.4.1. Phương pháp quan sát:
-

Đối tượng và địa điểm quan sát: các anh chị nhân viên trong phòng Khách hàng doanh

-

nghiệp thực hiện các nghiệp vụ TTQT.
Tần suất và thời gian quan sát: một tuần quan sát vào các ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu
trong khoảng thời gian từ 9h đến 11h và từ 14h đến 16h, vì đây là những khoảng thời


11


1.4.3. Phương pháp nghiên cứu tại bàn:
Phương pháp nghiên cứu tại bàn là nghiên cứu dựa vào số liệu và thông tin sẵn có.
-

Phạm vi không gian: phòng Khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng TMCP Công

-

Thương Việt Nam chi nhánh 3 TP Hồ Chí Minh.
Phạm vi thời gian: một tuần vào các ngày thứ hai, thứ tư, thứ sáu từ 7h30 đến 17h.
Nội dung nghiên cứu: nghiên cứu một số công văn về quy trình thực hiện các nghiệp vụ
TTQT của ngân hàng, nghiên cứu những thông tin có trên trang web chính thức của hệ
thống ngân hàng Vietinbank.vn, nghiên cứu báo cáo tài chính tổng hợp của ngân hàng và
của chi nhánh qua các năm từ 2012 đến 2015.
1.5.

Nội dung nghiên cứu:

Nội dung của khoá luận này gồm có bốn chương:
-

Chương 1: Tổng quan về khoá luận
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Thực trạng quản trị rủi ro trong thanh toán quốc tế tại ngân hàng

-


Tóm lại, theo cách nghĩ truyền thống thì “Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy

hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn
có thể xảy ra cho con người”. (Sách Quản trị rủi ro và khủng hoảng – GS.TS Đoàn
Thị Hồng Vân; ThS. Kim Ngọc Đạt; ThS. Hà Đức Sơn – NXB Lao động Xã hội – năm
2013 – trang 31)
Thực tế cho thấy: Xã hội đang ngày càng phát triển, hoạt động của con người ngày
càng đa dạng, phong phú và phức tạp; vì thế, những rủi ro mà con người gặp phải cũng
ngày càng nhiều và đa dạng hơn. Con người cũng quan tâm nhiều hơn đến việc nghiên
cứu, nhận dạng và tìm các biện pháp để quản trị rủi ro. Trong quá trình nghiên cứu đó,
nhận thức về rủi ro của con người cũng thay đổi, trở nên khoan dung, trung hòa hơn.
Theo trường phái trung hòa:
-

Theo David Apgar thì “Rủi ro là bất cứ điều gì không chắc chắn có thể ảnh
hưởng tới các kết quả của chúng ta so với những gì chúng ta mong đợi” (Risk
Intelligence: Learning to Manage What We Don’t Know, 2006, Publisher:

-

Harvard Business School Press).
Trong cuốn “Risk management and insurance”, 1997, NXB McGraw-Hill / Irwin
các tác giả C.Authur William, Jr.Micheal, L.Smith đã viết: “Rủi ro là sự biến động
tiềm ẩn ở những kết quả. Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của
con người. Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả. Sự
hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định. Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào
một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước.”

Như vậy, theo trường phái trung hòa, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được.
Rủi ro có thể gây ra những tổn thất, nguy hiểm, mất mát…nhưng cũng có thể mang lại cơ


chung để chia sẻ rủi ro.
Rủi ro không thể phân tán: là rủi ro không thể giảm bớt nhờ con đường đóng góp
quỹ chung và chia sẻ rủi ro.
2.1.2. Quản trị rủi ro:

Trong quá khứ, có nhiều tác giả cho rằng, quản trị rủi ro chỉ đơn thuần là mua bảo
hiểm, tức là chuyển một phần gánh nặng rủi ro có thể gặp phải sang cho các doanh
nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Cách quản trị này chỉ áp dụng cho những rủi ro thuần túy,
rủi ro có thể phân tán.
Ngược lại, trường phái mới cho rằng cần quản trị tất cả mọi loại rủi ro của tổ chức
một cách toàn diện. Trong sách Corporate Risk Management: An Organisational
Perspective, NXB John Willey & Sons, năm 2011, các tác giả T.Merna và F.AlThani cho
rằng, “Quản trị rủi ro là một quy trình cho phép xác định , đánh giá, hoạch định và quản
lý các loại rủi ro”. Từ khái niệm này cho thấy, quản trị rủi ro hướng đến ba mục tiêu
chính: phải xác định được rủi ro, thực hiện phân tích một cách khách quan các loại rủi ro
đặc thù đối với tổ chức và ứng phó với những rủi ro đó một cách phù hợp và hiệu quả.

14


Nói tóm lại, Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn
diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu tổn thất,
mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro (Sách Quản trị rủi ro và khủng hoảng –
GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân; ThS. Kim Ngọc Đạt; ThS. Hà Đức Sơn – NXB Lao động
Xã hội – năm 2013 – trang 66).
2.1.3. Rủi ro trong TTQT:
Rủi ro trong hoạt động TTQT là rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động
TTQT, thường do các nguyên nhân phát sinh từ quan hệ giữa các bên tham gia TTQT
(nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, ngân hàng, nhà vận chuyển, bảo hiểm và các cá nhân, tổ

thể phải chấp nhận sử dụng các phương thức TTQT bất lợi cho mình để có được hàng
(như chuyển tiền trả trước 100% giá trị hàng hóa hoặc là phương thức giao chứng từ nhận
tiền) thì nhà nhập khẩu phải có sẵn một lượng tiền hàng trước khi nhận được hàng. Việc
này có thể làm cho nhà nhập khẩu bị ứ đọng vốn lớn trong một khoản thời gian, hoặc có
thể phải vay ngân hàng để thanh toán.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, với một số lý do đặc biệt như chính trị, thiên tai,
nhà xuất khẩu yêu cầu nhà nhập khẩu phải trả mức giá cao hơn so với thỏa thuận. Trong
trường hợp này, nhà nhập khẩu có thể từ chối hợp đồng và tìm người cung cấp mới, song
sẽ bị chậm hơn so với quy định với các đối tác. Nhiều khi họ không còn sự lựa chọn nào
khác và buộc phải chấp nhận giá cao gây tổn thất trong lợi nhuận.
Rủi ro về chất lượng hàng hóa: ngân hàng không chịu trách nhiệm đối với chất lượng
hàng hóa mà nhà xuất khẩu cung ứng cho nhà nhập khẩu, vì thế, nếu bộ chứng từ mà nhà
xuất khẩu xuất trình cho ngân hàng là hợp lệ thì ngân hàng hoàn toàn có quyền thanh
toán tiền cho nhà xuất khẩu, trong khi có thể đến khi nhà nhập khẩu nhận hàng thì chất
lượng hàng hóa lại không như thỏa thuận, nhưng lúc đó thì nhà nhập khẩu không thể đòi
tiền lại được nữa, mà phải chấp nhận thanh toán cho ngân hàng.
2.1.3.3.

Rủi ro đối với ngân hàng:

Ngân hàng bị ràng buộc vào cam kết thanh toán cho người hưởng lợi nếu bộ chứng từ
phù hợp được xuất trình. Do đó, nếu hàng hóa không đảm bảo chất lượng yêu cầu, khiến
cho nhà nhập khẩu không thực hiện được việc kinh doanh của mình để có tài chính đảm
bảo thanh toán cho ngân hàng, thì ngân hàng cũng phải chịu rủi ro khi cấp tín dụng cho
nhà nhập khẩu để thanh toán cho bên xuất khẩu.
Ngân hàng thương lượng khi đã chiết khấu, ứng trước bộ chứng từ có sai sót hoặc
không bảo lưu quyền đòi truy đòi nhà xuất khẩu thì có thể nhận lấy rủi ro không được
thanh toán của ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng bồi hoàn.
Rủi ro đến từ khả năng áp dụng quy chế và năng lực cán bộ trong quá trình thẩm định
việc cho vay xuất - nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ trước khi thực hiện các phương thức

bất lợi, dẫn đến các rủi ro: Không những phải chịu chi phí sửa đổi, đôi khi những điều
17


này lại có lợi cho người bán nên họ sẽ không chấp nhận sửa đổi nếu họ không có thiện
chí vì vậy có thể dẫn đến rủi ro cho người mở kéo theo rủi ro cho ngân hàng.
Kiểm tra chứng từ không phát hiện được sai sót mà thực hiện thanh toán sẽ gặp
khả năng rủi ro không được hoàn lại tiền từ nhà nhập khẩu.
• Ngân hàng xác nhận : Bằng việc gắn thêm các cam kết thanh toán theo thư tín dụng khi
ngân hàng phát hành không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán cho ngân
hàng. Vì vậy nó có rủi ro do:
+ Rủi ro thương mại của ngân hàng phát hành, họ không có khả năng thanh toán.
+ Rủi ro do kiểm tra bộ chứng từ: Nếu ngân hàng xác nhận thanh toán không đúng
cho người hưởng khi bộ chứng từ có sai sót thì ngân hàng phát hành có quyền từ chối
hoàn tiền cho ngân hàng xác nhận.
• Ngân hàng thông báo: Ngân hàng thông báo L/C sẽ không có bất cứ một cam kết nào khi
thông báo thư tín dụng nhưng việc xác thực một thư tín dụng hay sửa đổi thư tín dụng
qua các khóa mật hoặc kiểm tra cẩn thận vể tính chân thật của nó sẽ có những rủi ro do
đã thông báo L/C giả mạo không xác thực mà không lưu ý cho người được thông báo.
• Ngân hàng chiết khấu, thương lượng: Ngân hàng này bao gồm các rủi ro của ngân hàng
phát hành, ngân hàng hoàn trả tiền của người hưởng và rủi ro kiểm tra chứng từ. Nếu
ngân hàng thương lượng không kiểm tra chứng từ giao hàng của nhà xuất khẩu một cách
cẩn thận, thích đáng thì những sai sót của bộ chứng từ đã được thương lượng sẽ bị ngân
hàng phát hành từ chối một cách hợp pháp.
2.1.4. Quản trị rủi ro trong TTQT:
Dựa theo định nghĩa quản trị rủi ro ở trên, thì quản trị rủi ro trong TTQT nghĩa là có
hệ thống nhận diện và tiếp cận rủi ro trong TTQT một cách toàn diện từ rủi to về tỷ giá,
đến rủi ro trong quá trình tác nghiệp, đến rủi ro về môi trường pháp lý…để có biện pháp
phòng ngừa, né tránh rủi ro.
Quản trị rủi ro trong TTQT bao gồm những nội dung sau:

-

rủi ro đã xuất hiện trước đó khi thực hiện quy trình?
Phân tích các hợp đồng TTQT: từ phần mở đầu, giới thiệu các chủ thể, nội dung
của các điều kiện, điều khoản của hợp đồng và phần ký kết hợp đồng. Vì số lượng
hợp đồng là rất lớn nên chỉ cần chọn ra những hợp đòng tiêu biểu, đặc thù, có giá
trị lớn. Đặc biệt là phần phân tích chủ thể của hợp đồng, vì đó thường là nơi phát
sinh rủi ro nhiều nhất nếu không thẩm định kỹ trước khi ký kết.

Phân tích rủi ro: là để xác định ra nguyên nhân gây ra rủi ro đó. Đây là một công
việc phức tạp bởi lẻ một rủi ro đâu chỉ do một nguyên nhân gây ra, mà còn có nguyên
nhân trực tiếp – gián tiếp…
Đo lường rủi ro: một tổ chức không thể nào cùng lúc ngăn ngừa, kiểm soát được tất
cả mọi rủi ro, do đó, cần đo lường rủi ro để phân loại rủi ro, biết được đối với tổ chức nào
thì rủi ro nào xuất hiện nhiều, rủi ro nào gây hậu quả nghiêm trọng hơn…từ đó có những
biện pháp quản trị rủi ro thích hợp: chủ động và ưu tiên giải quyết những rủi ro có hậu
quả nghiêm trọng.

19


2.1.4.2.

Kiểm soát – Phòng ngừa rủi ro:

Né tránh rủi ro: tìm hiểu kỹ các đối tác trước khi ký hợp đồng (tình hình tài chính,
tình hình kinh doanh, lịch sử các công ty từng giao dịch…), tìm hiểu các ngân hàng sẽ có
mối liên quan trong quy trình TTQT,…
Ngăn ngừa tổn thất: lựa chọn ngân hàng xác nhận có uy tín, lựa chọn đường đi an
toàn cho hàng hóa (tránh những vùng có chiến tranh, thiên tai..), theo dõi thường xuyên

phải có chữ ký của người đại diện nhập khẩu hoặc của một văn phòng đại diện nào đó thì
sẽ rất khó khăn trong khâu có được đầy đủ giấy tờ để nhận thanh toán.

20


2.2.

Các yếu tố tác động đến rủi ro trong TTQT:

2.2.1. Các yếu tố khách quan:
2.2.1.1.

Tỷ giá hối đoái:

Tỷ giá hối đoái là một vấn đề không thể thiếu trong TTQT, bởi đã nói đến yếu tố quốc
tế thì việc phải quy đổi đồng tiền của nước này sang đồng tiền của nước khác để giao
dịch là điều tất yếu. Trong khi đó, tỷ giá lại thay đổi thất thường và khó có thể dự báo
chính xác được nên tỷ giá biến động mang lại rất nhiều rủi ro.
+ Đối với nhà xuất khẩu, tỷ giá biến động sẽ phá vỡ kế hoạch tính toán của nhà
xuất khẩu, chẳng hạn khi giá cả đồng tiền trong nước so với đồng ngoại tệ tăng (tỷ giá hối
đoái giảm) sẽ bất lợi cho nhà xuất khẩu vì tiền bán hàng thu về bằng ngoại tệ sẽ được ít
đồng nội tệ hơn do vậy mua được ít yếu tố đầu vào hơn làm cho kinh doanh xuất khẩu có
thể bị thua lỗ. Biến động tỷ giá hối đoái giảm còn ảnh hưởng khi nhà xuất khẩu nhận tài
trợ xuất khẩu từ ngân hàng bằng nội tệ để phục vụ sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu.
+ Đối với nhà nhập khẩu, việc lựa chọn đồng tiền thanh toán và đồng tiền tính
toán trong một thương vụ khác nhau cũng gây nên rủi ro cho nhà nhập khẩu khi có biến
động tỷ giá. Ngược lại với xuất khẩu, khi tỷ giá hối đoái biến động tăng (giá cả đồng nội
tệ so với đồng ngoại tệ giảm) sẽ bất lợi cho nhà nhập khẩu vì họ mua ngoại tệ thanh toán
cho hàng hóa nhập khẩu với giá cao nhưng giá cả tiêu thụ hoặc nguyên vật liệu còn phụ

Sự thay đổi về chính trị, kinh tế cũng là những yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động
TTQT, hoạt động Quản trị rủi ro trong TTQT. Những yếu tố này khiến cho nhà xuất khẩu
không nhận được tiền hàng và nhà nhập khẩu không nhận được hàng hóa. Biểu hiện của
những yếu tố này đó là:
-

Xảy ra chiến tranh, đảo chính, biểu tình ở các nước.

-

Xảy ra khủng hoảng chính trị, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính – tiền
tệ gây ra những khó khăn trong thanh toán.

-

Những cấm vận trong thanh toán: nước nhập khẩu bị phong tỏa tài khoản do
những món nợ nước ngoài chưa trả, hoặc do quan hệ không bình thường giữa hai nước có
quan hệ kinh tế quốc tế làm cho các hợp đồng ngoại thương, hiệp định thương mại bị hủy
bỏ giữa chừng.
2.2.1.4.

Chính sách của một quốc gia:

Chính sách kinh tế đối ngoại: Chính sách kinh tế đối ngoại của một quốc gia liên
quan đến việc mở cửa nền kinh tế, luân chuyển các nguồn lực như vốn, lao động, khoa
học kỹ thuật…Chính sách này liên quan đến chính sách thương mại và chính sách đối với
tài khoản vốn. Do đó, nó sẽ có tác động tích cực và tiêu cực đến tình hình thương mại
quốc tế nói chung và thanh toán quốc tế nói riêng.

22

tệ trong mỗi hợp đồng TTQT; sự chuẩn bị những giấy tờ trong bộ chứng từ TTQT (về số
lượng, về tính hợp lệ của bộ chứng từ,…); về thời hạn giao nhận hàng hóa… Vì vậy,
23


khách hàng cũng là một yếu tố tác động đến quản trị rủi ro trong TTQT nói riêng và
TTQT nói chung của NHTM.
2.2.2. Yếu tố chủ quan:
2.2.2.1.

Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng:

TTQT là một hoạt động đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn cao, bởi lẽ một giao dịch
TTQT nào cũng liên quan đến rất nhiều bên, ảnh hưởng đến lợi ích của các bên, đặc biệt
là cán bộ ngân hàng – người liên quan đến vấn đề thanh toán cho các bên. Vì thế, nếu
trình độ nghiệp vụ của nhân viên còn yếu kém, rất dễ xảy ra các sai sót trong quá trình tác
nghiệp như điều tra khách hàng không cẩn thận, kiểm tra bộ chứng từ không cẩn thận,
thiếu kinh nghiệm trong việc nhận biết các sai sót, lừa đảo; thiếu kinh nghiệm trong đàm
phán, giao dịch với khách hàng, có thể dẫn đến nhiều rủi ro không sửa chữa được.
2.2.2.2.

Mạng lưới TTQT:

Hệ thống các ngân hàng đại lý có vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu giao
dịch, thanh toán của NHTM trong nước và nước ngoài. Một NHTM có hệ thống đại lý
rộng lớn, độ bao phủ rộng và uy tín thì sẽ dễ dàng nhận được sự lựa chọn của khách hàng
khi tiết kiệm được thời gian cũng như chi phí khi giao dịch qua nhiều ngân hàng trung
gian, đồng thời giảm thiểu tối đa rủi ro khi thực hiện TTQT.
2.2.2.3.


đẩy hoạt động TTQT ngày càng phát triển hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, đi kèm với sự phát
triển của công nghệ hiện đại, luôn đi kèm với những rủi ro do sai lệch thông tin vì khoảng
cách địa lý, rò rỉ thông tin, bị tin tặc xâm phạm…Do đó, các NHTM cũng cần phải có
chính sách quản trị rủi ro về mặt khoa học công nghệ trong hoạt động TTQT.
2.3.

Cơ sở pháp lý của hoạt động TTQT:

Hoạt động TTQT được thực hiện trên cơ sở những luật và bộ quy tắc quy định về các
giấy tờ liên quan trong TTQT, các quy trình, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham
gia trong TTQT…Đó là: Luật về các công cụ chuyển nhượng; Luật thống nhất về hối
phiếu và kỳ phiếu 1930 (ULB 1930); Quy tắc thống nhất về nhờ thu (URC 522); Tập
quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế để kiểm tra chứng từ theo thư tín dụng phát hành số
681 (ISBP 681 – 2007 ICC); Các quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ
(UCP 600 – 2006 ICC).
2.3.1. Luật về các công cụ chuyển nhượng (Luật CCCCN):
Luật về các công cụ chuyển nhượng được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua
ngày 29/11/2005. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006.
Luật này gồm có 6 chương với 83 điều với các nội dung cơ bản sau:
Về phạm vi điều chỉnh: Luật này điều chỉnh các quan hệ công cụ chuyển nhượng
trong việc phát hành, chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán,
truy đòi, khởi kiện. Công cụ chuyển nhượng quy định trong Luật này bao gồm: Hối phiếu
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status