Biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại xí nghiệp bảo đảm an toàn hàng hải đông bắc bộ - Pdf 35

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS.Vũ Trụ Phi. Các nội dung nghiên cứu, kết quả
trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước
đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét,
đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong
phần tài liệu tham khảo.Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét,
đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có
trích dẫn và chú thích nguồn gốc.
Nếu vi phạm, tôi chịu trách nhiệm và phải chịu sự trừng phạt của Tổ chức
giáo dục và các trường Đại học.
Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Hường

1


LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập, nghiên cứu nghiêm túc tại Khoa sau đại học trường
Đại học Hàng Hải Việt Nam và quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ, tác giả xin
gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS.Vũ Trụ Phi người đã dìu dắt và hướng
dẫn tôi thực hiện luận văn này.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo Viện đào tạo sau đại
học, gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong toàn bộ quá trình học tập và nghiên
cứu, xin được gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo và toàn thể nhân viên trong Xí nghiệp
Bảo đảm an toàn Hàng Hải Đông Bắc Bộ đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi
hoàn thành luận văn này.

2


Tên bảng

Trang

Bảng 2.1

Một số chỉ tiêu kinh tế của Xí nghiệp Bảo đảm an
toàn hàng hải Đông Bắc Bộ giai đoạn 2013-2015

23

Bảng 2.2

Phân tích tình hình lợi nhuận của Xí nghiệp Bảo
đảm an toàn hàng hải Đông Bắc Bộ giai đoạn
2013-2015

28

Bảng 2.3

Phân tích tình hình doanh thu của Xí nghiệp Bảo
đảm an toàn hàng hải Đông Bắc Bộ giai đoạn
2013-2015

29

Bảng 2.4

Phân tích tình hình chi phí của Xí nghiệp Bảo

2013-2015

43

5


DANH MỤC HÌNH

Số hình

Tên bảng

Trang

Sơ đồ 2.1

Sơ đồ tổ chức quản lý tại Xí nghiệp Bảo đảm an
toàn hàng hải Đông Bắc Bộ

21

Hình 2.1

Tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính năm
2013 - 2015

27

Hình 2.2

Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và
phát triển đều phải sử dụng các nguồn lực sẵn có của mình để hoạt động sản xuất
kinh doanh đạt được hiệu quả cao. Hiệu quả là động lực, là mục tiêu hàng đầu, là
cái đích cuối cùng mà doanh nghiệp cần vươn tới nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, hạ giá thành
sản phẩm, mở rộng sản xuất kinh doanh theo chiều rộng lẫn chiều sâu, đủ sức
mạnh trên thị trường với các doanh nghiệp… luôn là vấn đề bức bách, là nỗi trăn
trở của các nhà doanh nghiệp. Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm bắt được
thị trường và khả năng thực của doanh nghiệp như: Tài sản, nguồn vốn, nguồn
nhân lực, việc sử dụng các yếu tố nguồn lực, chi phí, kết quả. Từ đó đưa ra những
quyết định đúng đắn trong sản xuất kinh doanh. Nhận thức được vai trò quan trọng
của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp.
Xí nghiệp Bảo đảm an toàn hàng hải Đông Bắc Bộ là một doanh nghiệp Nhà
nước có nguồn thu chính từ phí Bảo đảm hàng hải. Nhiệm vụ chính của Xí nghiệp
là đảm bảo an toàn cho các tàu biển hành trình được an toàn. Xí nghiệp đã chú
trọng trong việc đổi mới đầu tư các trang thiết bị, sắp xếp lại lao động, tiết kiệm
chi phí... để kinh doanh có hiệu quả. Tuy nhiên hiện nay, hoạt động của Xí nghiệp
đang gói gọn trong sự phân phối của Nhà nước trong khi đó về cơ cấu tổ chức,
trình độ chuyên môn, sự nhạy cảm với thị trường bên ngoài hạn chế do cơ chế cũ
để lại...
Với thực tế của Xí nghiệp, mục tiêu để tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí, tăng
lợi nhuận, tăng sức cạnh tranh, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống cán bộ
công nhân viên là vấn đề đặt ra với toàn ban lãnh đạo Xí nghiệp. Để đạt được hiệu
quả kinh doanh cao trong những năm tiếp theo, Xí nghiệp cần phải đánh giá đúng
tình hình kinh doanh của Xí nghiệp, từ đó đưa ra lộ trình trong việc hoạch định
chiến lược riêng cho mình sao cho phù hợp với điều kiện và xu thế phát triển
chung của toàn ngành Bảo đảm hàng hải.


Chính vì lý do trên tôi đã chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao hiệu quả kinh

(nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định; nó biểu hiện
mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết
quả đó, phản ánh được chất lượng hoạt động kinh tế đó.
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nói về khái niệm hiệu quả
kinh doanh. Theo P.Samerelson và W.Nordhaus thì: “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi
xã hội không thể tăng sản lượng của một loạt hàng hóa mà không cắt giảm một loạt
sản lượng hàng hóa khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng
sản xuất của nó”. Thực chất của quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có
hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội.Việc phân bổ và sử dụng các nguồn
lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu
quả cao. Có thể nói mức hiệu quả ở đây mà tác giả đưa ra là cao nhất, là lý tưởng
và không thể có mức hiệu quả nào cao hơn nữa.
Một số tác giả lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỷ lệ
giữa sự tăng lên của hai đại lượng kết quả và chi phí. Các quan điểm này mới chỉ
đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không phải toàn bộ phần tham gia vào
quy trình kinh tế.
Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác nhận bởi tỷ số giữa
kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Điển hình cho quan điểm
này là tác giả Manfred Kuhn, theo ông: “Tính hiệu quả được xác định bằng cách
lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh.” Đây là quan điểm
được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế
của quá trình kinh tế.


Một khái niệm được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm chú ý và
sử dụng phổ biến đó là: hiệu quả kinh tế của một số hiện tượng (hoặc một quá
trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để
đạt được mục tiêu đã xác định. Đây là khái niệm tương đối đầy đủ phản ánh được
tính hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tóm lại, hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình


C

Công thức tính hiệu quả sản xuất kinh doanh trong mặt so sánh tương đối
H

=

K
C


Trong đó: H: hiệu quả sản xuất kinh doanh
K: kết quả đạt được
C: chi phí bỏ ra để sử dụng các nguồn lực đầu vào
Do đó để đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty ta phải tính kết
quả đạt được và chi phí bỏ ra. Nếu xét mối quan hệ giữa kết quả và hiệu quả thì kết
quả là cơ sở và tính hiệu quả sản xuất kinh doanh, kết quả sản xuất kinh doanh của
công ty có thể là những đại lượng có khả năng cân, đo, đong, đếm được như số sản
phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu bán hàng, lợi nhuận, thị phần,… Như vậy, kết
quả sản xuất kinh doanh thường là mục tiêu của công ty.
1.1.3. Vai trò của hiệu quả kinh doanh đối với doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị công ty
thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh. Khi tiến hành bất kỳ một hoạt động sản
xuất kinh doanh nào thì các công ty đều phải huy động và sử dụng các nguồn lực
mà công ty có khả năng có thể tạo ra kết quả phù hợp với mục tiêu công ty đề ra. Ở
mỗi giai đoạn phát triển của công ty thì công ty đều phải có những mục tiêu khác
nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng bao trùm toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh
của công ty là tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở sử dụng tối ưu nguồn lực của công ty.
Để thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cũng như các mục tiêu khác, các công

Mục tiêu truyền thống và quan trọng của một doanh nghiệp theo lý thuyết là
đạt được lợi nhuận tối đa và giả thuyết này rất vững chắc. Nó vẫn tạo nên cơ sở
của rất nhiều lý thuyết của kinh tế vi mô.Về lịch sử mà nói những nhà kinh tế trong
các phân tích của họ về doanh nghiệp đều lấy lợi nhuận tối đa làm mục đích cuối
cùng.Tuy nhiên có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển trước Marx, lợi nhuận là
phần trội lên nằm trong giá bán so với chi phí sản xuất.
-

Karl Marx cho rằng: “Giá trị thặng dư hay cái phần trội lên trong toàn bộ
giá trị của hàng hoá trong đó lao động thặng dư chính là lao động không
được trả công của công nhân đã được vật hoá thì được gọi là lợi nhuận”.


-

Nhà kinh tế học hiện đại P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus thì định nghĩa
rằng: “Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ đi
tổng số đã chi” hoặc cụ thể hơn là “Lợi nhuận được định nghĩa như là
khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí của doanh nghiệp”.

Từ các quan điểm trên chúng ta thấy rằng nhờ có lý luận vô giá về giá trị hàng
hoá sức lao động, Marx là người đầu tiên đã phân tích nguồn gốc lợi nhuận một
cách khoa học, sâu sắc và có ý nghĩa cả về kinh tế, chính trị. Theo ông, lợi nhuận
là hình thái chuyển hoá của giá trị thặng dư, lợi nhuận và giá trị thặng dư có sự
giống nhau về lượng và khác nhau về chất.
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh
doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh
nghiệp. Từ góc độ của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp có thể thấy rằng: Lợi
nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập (income) và chi


Tóm lại, doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu
thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của
doanh nghiệp. Trong kinh tế học, doanh thu thường được xác định bằng giá bán
nhân với sản lượng.
1.1.4.3. Chỉ tiêu chi phí
Chi phí là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí được nhìn nhận theo nhiều góc độ
khác nhau.Chi phí được hiểu một cách trừu tượng là biểu hiện bằng tiền của những
hao phí lao động sống và lao động vật hoá phát sinh trong quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh được tính trong một thời kì nhất định. Hoặc chi phí là những phí
tổn về nguồn lực, tài sản cụ thể và dịch vụ sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Đặc điểm chung của chi phí:
-

Là sự hao phí tài nguyên (kể cả hữu hình và vô hình), vật chất, lao động

-

Những hao phí này phải gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh

-

Phải định lượng được bằng tiền và được xác định trong một khoảng thời
gian nhất định

1.1.4.4. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh
Để đánh giá cụ thể mặt lượng, mặt chất của việc nâng cao hiệu quả kinh
doanh, chúng ta cần xác định đúng đắn các tiêu chuẩn và chỉ tiêu hiệu quả kinh

Tổng doanh thu thuần
Tài sản bình quân

Chỉ tiêu này cho biết trong 1 kỳ phân tích các tài sản quay được bao nhiêu
vòng, chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăng
doanh thu và là điều kiện nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nếu chỉ tiêu này
thấp, chứng tỏ các tài sản vận động chậm, có thể hàng tồn kho, sản phẩm dở dang
nhiều, làm cho doanh thu của tài sản giảm. Tuy nhiên, chỉ tiêu này phụ thuộc vào
đặc điểm ngành nghề kinh doanh, đặc điểm cụ thể của tài sản trong các doanh
nghiệp.
* Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần:
Khả năng tạo ra doanh thu thuần của tài sản là một chỉ tiêu kinh tế cơ bản để
dự kiến vốn đầu tư khi doanh nghiệp muốn một mức doanh thu thuần như dự kiến,
chỉ tiêu này thường được xác định như sau:


Suất hao phí của tài sản
so với doanh thu thuần

=

Tài sản bình quân
Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, doanh nghiệp thu được 1 đồng doanh
thu thuần thì cần bao nhiêu đồng tài sản đầu tư, chỉ tiêu này càng thấp hiệu quả sử
dụng tài sản càng tốt, góp phần tiết kiệm tài sản và nâng cao doanh thu thuần trong
kỳ của doanh nghiệp.
* Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận sau thuế
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của các tài sản mà

=

Tổng doanh thu thuần
Tài sản ngắn hạn bình quân

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các tài sản ngắn hạn quay được bao
nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là
tốt. Hoặc cho biết 1 đồng giá trị tài sản ngắn hạn đầu tư trong kỳ thì thu được bao
nhiêu đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của tài sản ngắn hạn


trong kỳ, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tài sản ngắn hạn vận động nhanh, đó là
nhân tố góp phần nâng cao lợi nhuận. Số liệu để tính chỉ tiêu này phụ thuộc vào kỳ
phân tích của doanh nghiệp có thể tính theo tháng, quý, năm.
* Suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với doanh thu thuần
Suất hao phí của tài sản ngắn hạn
so với doanh thu thuần

Tài sản ngắn hạn bình quân
Doanh thu thuần

=

Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu thuần trong kỳ
thì cần bao nhiêu đồng giá trị tài sản ngắn hạn, đó là căn cứ để đầu tư các tài sản
ngắn hạn cho phù hợp. Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản
ngắn hạn càng cao.
* Suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với lợi nhuận sau thuế
Suất hao phí của tài sản ngắn hạn
so với lợi nhuận sau thuế


Tổng doanh thu thuần
Tài sản dài hạn bình quân

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, các tài sản dài hạn tạo ra được bao
nhiêu đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này càng cao sẽ góp phần tăng lợi nhuận cho


doanh nghiệp. Mặt khác, chỉ tiêu này thể hiện sức sản xuất của tài sản dài hạn, chỉ
tiêu này càng cao chứng tỏ tài sản hoạt động tốt, đó là nhân tố góp phần nâng cao
hiệu quả của hoạt động kinh doanh.
* Suất hao phí của tài sản dài hạn so với doanh thu thuần
Suất hao phí của tài sản dài hạn
so với doanh thu thuần

=

Tài sản dài hạn bình quân
Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu thuần trong kỳ
thì cần bao nhiêu đồng giá trị tài sản dài hạn, đó là căn cứ để đầu tư các tài sản dài
hạn cho phù hợp. Chỉ tiêu này còn là căn cứ để xác định nhu cầu vốn dài hạn của
doanh nghiệp khi muốn mức doanh thu như mong muốn.
* Suất hao phí của tài sản dài hạn so với lợi nhuận sau thuế
Suất hao phí của tài sản dài hạn
so với lợi nhuận sau thuế

=


điều lệ thì hiệu quả kinh doanh thấp, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thu
hút vốn. Tuy nhiên, sức sinh lời của vốn chủ sở hữu cao không phải lúc nào cũng
thuận lợi vì có thể là do ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính, khi đó mức độ mạo hiểm
càng lớn. Do vậy khi phân tích chỉ tiêu này cần kết hợp với cơ cấu của vốn chủ sở
hữu trong từng doanh nghiệp cụ thể.
 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn vay

Tiền vay của doanh nghiệp bao gồm vay ngắn hạn, vay dài hạn và vay của
mọi đối tượng để phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Phân tích hiệu quả tiền vay là
căn cứ để các nhà quản trị kinh doanh đưa ra quyết định có cần vay thêm tiền để
đầu tư vào hoạt động kinh doanh không, nhằm góp phần bảo đảm và phát triển vốn
cho doanh nghiệp. Để phân tích hiệu quả sử dụng tiền vay ta thường xác định chỉ
tiêu khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp được tính theo kỳ.
* Hiệu quả sử dụng lãi vay
Hiệu quả sử dụng lãi vay =

Lợi nhuận trước thuế + Chi phí lãi vay
Chi phí lãi vay

Chỉ tiêu này phản ánh độ an toàn, khả năng thanh toán lãi tiền vay của doanh
nghiệp, chỉ tiêu này càng cao khả năng sinh lời của vốn vay càng tốt, đó là sự hấp
dẫn của các tổ chức tín dụng vào hoạt động kinh doanh.
Khi phân tích các chỉ tiêu thuộc nhóm này ta so sánh giữa năm nay với năm
trước, so sánh giữa các doanh nghiệp có cùng điều kiện tương đương, so sánh với
các chỉ tiêu hiệu quả huy động vốn trên thị trường chứng khoán. Khi phân tích có
thể xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố và những nguyên nhân tác động
đến từng chỉ tiêu, từ đó đưa giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tiền vay.
* Tỷ suất sinh lời của tiền vay: chỉ tiêu này được xác định như sau:



thể.
* Tỷ suất sinh lời của chi phí bán hàng
Tỷ suất sinh lời của
chi phí bán hàng

=

Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
Chi phí bán hàng

x 100

Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp đầu tư 100 đồng chi phí
bán hàng thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ
mức lợi nhuận trong chi phí bán hàng càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm được chi
phí bán hàng.
* Tỷ suất sinh lời của chi phí quản lý doanh nghiệp
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
Tỷ suất sinh lời của chi phí
=
x 100
quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp đầu tư 100đồngchi phí
quản lý doanh nghiệp thì thu được bao nhiêu đồnglợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao


chứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí quản lý doanh nghiệp càng lớn, doanh
nghiệp đã tiết kiệm được chi phí quản lý doanh nghiệp.
* Tỷ suất sinh lời của tổng chi phí

Tổng số lao động

Chỉ tiêu này cho biết 1 lao động sử dụng trong doanh nghiệp sẽ tạo ra bao
nhiêu đồngdoanh thu trong 1 kỳ phân tích.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
1.2.1.Nhân tố khách quan
-

Yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế có vai trò quan trọng quyết định đối với việc hình thành và
hoàn thiện môi trường kinh doanh, đồng thời các yếu tố này cũng góp phần quyết
định năng suất sản xuất, khoa học công nghệ, khả năng thích ứng của doanh
nghiệp. Nó có thể trở thành cơ hội hay nguy cơ đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố kinh tế bao gồm: tốc độ tăng trưởng của nền
kinh tế, lãi suất ngân hàng, các chính sách kinh tế của nhà nước…chúng không chỉ


ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng
tới môi trường vi mô của doanh nghiệp. Trong thời đại nền kinh tế mở cửa, tự do
cạnh tranh như hiện nay đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có vị thế nhất định đảm
bảo chống lại những tác động tiêu cực từ môi trường, mặt khác các yếu tố kinh tế
tương đối rộng nên các doanh nghiệp cần chọn lọc để nhận biết các tác động cụ thể
ảnh hưởng trực tiếp nhất đến doanh nghiệp từ đó có các giải pháp hạn chế những
tác động xấu.
-

Yếu tố chính trị, pháp luật
Nhà nước có thể chế chính trị, hệ thống luật pháp rõ ràng, đúng đắn và ổn
định sẽ là cơ sở đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp trong nước
hoạt động sản xuất kinh doanh và thúc đẩy các nhà đầu tư nước ngoài. Hiện nay,

Yếu tố xã hội
Các doanh nghiệp cần phân tích các yếu tố xã hội nhằm nhận biết các cơ hội
và nguy cơ có thể xảy ra, từ đó giúp doanh nghiệp có thể xây dựng các chiến lược
kinh doanh phù hợp với đặc điểm văn hóa xã hội của từng khu vực. Các yếu tố xã
hội như dân số, văn hóa, thu nhập ...
1.2.2. Nhân tố chủ quan

-

Khách hàng
Khách hàng là những người quyết định quy mô và cơ cấu nhu cầu trên thị
trường của doanh nghiệp, là yếu tố quan trọng hàng đầu khi xây dựng chiến lược
kinh doanh, là những người quyết định sự thành công hay thất bại của doanh
nghiệp. Do vậy, tìm hiểu kỹ lưỡng và đáp ứng đủ nhu cầu cùng sở thích thị hiếu
của khách hàng mục tiêu sẽ là điều kiện sống còn cho sự tồn tại và phát triển của
mỗi doanh nghiệp.

-

Đối thủ cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường thì sự cạnh tranh là một điều tất yếu, số lượng
các đối thủ cạnh tranh trong ngành càng nhiều thì mức độ cạnh tranh càng gay gắt.
Các đối thủ cạnh tranh và hoạt động của họ luôn được xem là một trong yếu tố ảnh
hưởng quan trọng đến việc ra quyết định kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Tuy
nhiên trên phương diện xã hội thì cạnh tranh sẽ có lợi cho người tiêu dùng và thúc
đẩy xã hội phát triển. Việc phân tích các đối thủ cạnh tranh trong ngành nhằm
nắm được các điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ để từ đó xác định chiến lược nhằm
tạo được thế vững mạnh trên thị trường.

-


: 031.3.827.309

Bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam nay là Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải
miền Bắc (tên viết tắt: VMSN). Cách đây 55 năm, sau 2 ngày Hải Phòng được giải
phóng, vào ngày 15/5/1955, ngành Bảo đảm hàng hải đã tiếp nhận từ tay người
Pháp 2 ngọn hải đăng lớn nhất miền Bắc lúc bấy giờ đó là Hải đăng Long Châu và
hải đăng Hòn Dấu. Ngày ấy đã đi vào lịch sử và tiềm thức của mỗi cán bộ công
nhân viên Bảo đảm hàng hải và trở thành Ngày truyền thống của Bảo đảm an toàn
hàng hải Việt Nam. Xí nghiệp Bảo đảm an toàn hàng hải Đông Bắc Bộ là đơn vị
thành viên trực thuộc Tổng Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền Bắc chịu sự
quản lý trực tiếp của Tổng Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền Bắc đồng thời
chịu sự quản lý nhà nước của cơ quan có thẩm quyền ở địa phương trong phạm vi
hoạt động theo quy định của pháp luật hiện hành. Xí nghiệp có tư cách pháp nhân
hoạt động theo sự ủy quyền và phân cấp của Tổng giám đốc Tổng Công ty Bảo
đảm an toàn hàng hải miền Bắc có con dấu riêng, là đơn vị hạch toán phụ thuộc,
được mở tài khoản tại Ngân hàng. Xí nghiệp đăng ký hoạt động chi nhánh lần đầu
ngày 22 tháng 1 năm 1999, đăng ký thay đổi lần thứ 5 ngày 24 tháng 8 năm 2012.
Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong Xí nghiệp trực thuộc Đảng bộ Tổng Công
ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền Bắc, hoạt động theo Điều lệ của Đảng Cộng sản
Việt Nam và các quy định của Đảng bộ Tổng Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải
miền Bắc. Tổ chức Công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong Xí



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status