Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
A. Đặt vấn đề
I. Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đã đặt ra từ rất lâu và được
sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà giáo dục, nhất là của các thầy giáo, cô giáo.
Nhưng việc vận dụng đổi mới phương pháp dạy học trong dạy học không phải là
việc dễ dàng thực hiện và đạt được hiệu quả ngay từ đầu. Trước đây, chúng ta
dạy học vẫn theo phương pháp truyền thống với quan niệm : học là quá trình
tiếp thụ và lĩnh hội qua đó hình thành kiến thức, kỹ năng, tư tưởng tình cảm.
Giáo viên(GV) luôn là người truyền thụ toàn bộ những kiến thức, những hiểu
biết của mình về một vấn đề nào đó; còn học sinh(HS) là người ghi nhớ, tiếp thu
mọi lời giảng của GV. Chính vì vậy mà phương pháp đó dẫn đến chỗ HS là
người thụ động và qúa trình nhận thức mang tính chất áp đặt, một chiều. HS học
để đối phó với thi cử và sau khi thi xong những điều đã học thường bị bỏ quên
hoặc ít dùng đến. Hiện nay, phương pháp dạy học truyền thống không còn thích
hợp với mục tiêu giáo dục - đào tạo, hơn thế việc đổi mới chương trình sách
giáo khoa càng cần phải đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương pháp dạy học.
Bởi chỉ có đổi mới cơ bản phương pháp dạy học chúng ta mới có thể tạo được
sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng
động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên
thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong
Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII(1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa
VIII(1996), được thể chế hóa trong luật giáo dục (2005). Điều 28.2 trong Luật
giáo dục đã ghi : “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp
học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập
cho học sinh “ . Có thể nói cốt lõi của việc đổi mới dạy học là hướng tới hoạt
động học tập chủ động; chống lại thói quen học tập thụ động.
sẻ với đồng nghiệp cùng quan tâm để góp phần nâng cao chất lượng chuyên
môn và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong phạm vi nhà trường
THPT.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
- Dựa trên một số lí luận cơ bản về triết học, về tâm lí học, về việc đổi
mới phương pháp dạy học văn ... để đề ra một số biện pháp trong phương pháp
dạy học vấn đáp .
- Nhằm mục đích nâng cao chất lượng của giờ học, phát huy tính tích cực,
tự giác chủ động, sáng tạo của HS; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn cho HS bản lĩnh tự tin, khả năng
diễn đạt một vấn đề, gây hứng thú học tập cho HS.
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tôi đề xuất một số nhiệm vụ của đề
tài:
+ Xác định cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của dạy học vấn đáp (đàm
thoại) .
+ Đề xuất một số biện pháp dạy học vấn đáp trong môn Ngữ Văn.
+ Thực hiện một số công việc trong phương pháp vấn đáp.
Người thực hiện: Lê Thị Hoa
-
N ăm học: 2012- 2013
2
Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
+ Thiết kế một bài dạy vận dụng phương pháp vấn đáp
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
chính HS. Con đường tác động có mục đích tự giác của xã hội bằng giáo dục
đến HS sẽ trở nên vô hiệu hoá nếu như HS không tiếp nhận, không hưởng ứng
những tác động đó, không trực tiếp tham gia vào các hoạt động nhằm phát triển
Người thực hiện: Lê Thị Hoa
-
N ăm học: 2012- 2013
3
Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
tâm lí, hình thành nhân cách. Chính vì vậy qua giờ học vấn vận dụng phương
pháp vấn đáp, HS có dịp bù đắp những tri thức mà mình chưa được biết, chưa
hiểu hoặc hiểu chưa rõ, để tự mình tiếp nhận và hoàn thiện mình về tư tưởng,
đạo đức và hành vi trong học tập và trong cuộc sống.
2. Cơ sở nhận thức.
Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người nhưng sự
phản ánh này không phải giản đơn, thụ động mà là quá trình biện chứng dựa trên
hoạt động tích cực của chủ thể trong quan hệ đối với khách thể. Nhưng không
phải con người nào cũng đều là chủ thể của nhận thức. Con người trở thành chủ
thể khi nó tham gia vào hoạt động xã hội nhằm biến đổi và nhận thức khách thể.
Trong nhà trường HS chính là chủ thể của hoạt động nhận thức; còn khách thể
chính là những tri thức kinh nghiệm của nền văn minh nhân loại. Theo cơ sở
triết học: con người tự làm ra mình bằng chính hoạt động của mình nhưng cái
quan trọng là làm ra cái đó như thế nào và bằng cách nào?
Đối với môn Ngữ văn HS đến trường để học tập thực chất là để tiếp nhận,
chiếm lĩnh những giá trị của tác phẩm văn chương. Vì mục đích ấy, HS tự đọc
lấy tác phẩm, tự chiếm lĩnh lấy tác phẩm, nắm bắt được cái hồn của tác phẩm.
hành động theo nhân vật lí tưởng. Chính vì vậy trong giờ học văn rất cần có sự
trao đổi giữa GV và HS, giữa HS và GV để qua giờ học ấy thu được kết quả cao
hơn và cũng qua giờ học ấy HS có dịp bộc lộ mình, tự khẳng định mình, đồng
thời GV cũng có cơ hội để nắm được trình độ tiếp nhận của HS.
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI
Qua quá trình dạy học, kinh nghiệm của bản thân, quá trình dự giờ của đồng
nghiệp , tôi nhân thấy :
- Một số GV chủ yếu vẫn dạy theo phương pháp dạy học truyền thống:
GV sử dụng các phương pháp diễn giảng truyền thụ toàn bộ những kiến thức
một chiều ; còn HS là người ghi nhớ, tiếp thu mọi lời giảng của GV. Giờ học trở
nên khô khan, trầm, thậm chí căng thẳng, HS tham gia học bài một cách chiếu
lệ. Rõ ràng điều đó dẫn đến chất lượng, hiệu quả giờ học không cao.
- Còn một số GV có vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong
giờ học song chưa hiệu quả, còn hình thức. Chẳng hạn vận dụng phương pháp
vấn đáp : GV đặt ra những câu hỏi yêu cầu HS trả lời song chưa tạo ra được
không khí tranh luận sôi nổi giữa HS với nhau hay giữa HS với GV.
- Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là một số GV nhận
thức chưa rõ bản chất của việc dạy học văn. Dạy học văn trong nhà trường
không đơn thuần là giảng văn, phân tích văn học mà là dạy đọc văn bản, đó là
quá trình đối thoại giữa HS, GV và tác giả đằng sau văn bản . Đó là hình thức
giao tiếp, đối thoại vượt thời gian, không gian, không phải là truyền thụ một
chiều. Bên cạnh đó một số GV vẫn còn nhiều ngộ nhận về lí thuyết và lúng túng
trong biện pháp thực thi việc cải cách, đổi mới phương pháp dạy học vấn đáp .
Chẳng hạn các phương pháp đổi mới là gì ? Khi đổi mới phương pháp dạy học
thì vai trò của người thầy có bị hạ thấp không ? Câu hỏi như thế nào là đổi mới?
Bao nhiêu câu hỏi là vừa ?.....
- Ngoài ra, GV chuẩn bị bài dạy chưa thật kĩ, đặc biệt là chưa xây dựng
được hế thống câu hỏi phù hợp với bài dạy, chưa chú ý tới việc chuẩn bị bài học
của HS, chưa phân loại đối tượng HS trong từng lớp ... GV chưa ý thức rõ về
dạng câu hỏi, mức độ yêu cầu của câu hỏi dẫn đến khâu tổ chức dạy học tìm
tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề trước tập thể. Muốn thực hiện điều đó, đòi
hỏi GV phải xây dựng được hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu bài học, hấp
dẫn, sát đối tượng, xác định được vai trò chức năng của từng câu hỏi, mục đích
hỏi , các yếu tố kết nối hệ thống câu hỏi. Câu hỏi phải khơi gợi được hứng thú
tham gia hoạt động của HS và phải được chuẩn bị một cách chu đáo và thực sự
khoa học, không thể tùy hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống, đặc biệt là không có tác
dụng dẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa văn bản. Câu hỏi không cần nhiều
nhưng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống
buộc HS phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình. Ngoài ra
người GV cần dự án các phương án trả lời của HS để có thể thay đổi hình thức,
cách thức mức độ hỏi, có thể dẫn dắt qua các câu hỏi phụ tránh đơn điệu nhàm
chán, nặng nề bế tắc; tạo hứng thú học tập cho HS và tăng hấp dẫn của giờ học .
Người thực hiện: Lê Thị Hoa
-
N ăm học: 2012- 2013
6
Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
3. Các nhân vật tham gia trong giờ học vấn đáp.
a. Giáo viên trong giờ học vấn đáp.
Thực tế cho thấy, trong một thời gian dài trước khi cải cách giáo dục người
ta đã từng quan niệm học văn là một quá trình thầy đọc, giảng, cảm thụ còn trò
chỉ là những cỗ máy ghi chép. Theo cách dạy học truyền thống, người giáo viên
trong giờ học là người quyết định một cách toàn diện chất lượng dạy học và
được coi là chủ thể của hoạt động dạy. Thế nhưng, trước yêu cầu ngày càng cao
-
N ăm học: 2012- 2013
7
Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
phù hợp với tình huống, đối tượng HS và mục tiêu bài học. Chẳng hạn, đứng
trước một vấn đề mà HS khó phát hiện cũng như khó trả lời, người GV cần có
câu hỏi gợi mở để từ đó giúp HS có sự định hướng và trả lời.
b. Học sinh trong giờ học vấn đáp.
Trong cơ chế dạy học văn theo lối cũ, mối liên hệ giữa GV và HS là mối
liên hệ giữa người giảng với người nghe, người truyền thụ với người tiếp thu,
người đưa thông tin với người tiếp nhận, người trình bày với người ghi nhớ.
Như vậy những năng lực chủ quan của bản thân HS không được phát huy. Trong
giờ học văn, HS chỉ có nhiệm vụ, nghe nhớ, và lặp lại điều đã nhớ được qua lời
giảng của GV. HS được xem như là khách thể, một đối tượng thụ động chịu sự
tác động của GV, của tài liệu, của tiến trình giảng dạy mà không thấy rõ HS
cũng là chủ thể năng động trong tiến trình tổ chức dạy học.
Tư tưởng đổi mới dạy học văn hiện nay là coi trọng, chú trọng đến người
học, là phát huy cao độ tiềm năng sáng tạo của người học. Do đó, khi dạy một
bài Ngữ văn, GV không chỉ chú trọng đến văn bản, đến việc dạy cái gì và cách
dạy như thế nào mà còn phải chú ý tới người học sẽ học như thế nào. Sai lầm lâu
nay của cách dạy học cũ là GV chỉ say mê khám phá văn bản và khổ công tìm
tòi cách thức lên lớp sao cho hấp dẫn mà không chú ý HS học bài đó như thế
nào. Xác định đúng đắn vai trò của HS như là một chủ thể cảm thụ trong giờ dạy
học văn sẽ đưa đến những đổi mới cơ bản trong phương pháp dạy học văn.
Trong giờ đọc hiểu văn bản, khi GV vận dụng phương pháp vấn đáp gợi
hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống, khơi gợi được hứng thú
tham gia hoạt động của HS, phù hợp với nội dung bài học .
Qua tài liệu tham khảo và kinh nghiệm của bản thân, tôi nhận thấy có ba
phương pháp (mức độ) vấn đáp: Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích chứng
minh và vấn đáp tìm tòi, phát hiện, sáng tạo
II.1. Vấn đáp tái hiện : Đây là phương pháp GV đặt ra câu hỏi yêu cầu
HS chỉ cần nhớ lại và tái hiện nội dung bài học. Đây là dạng vấn đáp ở mức độ
bình thường, không đòi hỏi HS phải tư duy mà chỉ cần huy động trí nhớ hoặc
dựa vào văn bản văn học.
Ví dụ 1: GV cho HS tìm hiểu phần tiểu dẫn của đoạn trích Việt Bắc, có
thể đặt câu hỏi: Nêu hoàn cảnh ra đời của bài ? HS dựa vào tiểu dẫn trả lời:
Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7- 1954, Hiệp định Giơ-nevơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải
phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới . Tháng 10- 1954, những người
kháng chiến từ căn cứ miền núi về miền xuôi, nhân sự kiện có tính lịch sử ấy Tố
Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.
Ví dụ 2: Khi hướng dẫn HS tìm hiểu những phát hiện của người nghệ sĩ
nhiếp ảnh trongvăn bản Chiếc thuyền ngoài xa(Nguyễn Minh Châu) , GV đặt
câu hỏi vấn đáp tái hiện : Tuy nhiên, ngay khi tâm hồn bay bổng trong những
cảm xúc thẫm mỹ, đang tận hưởng cái khoảng khắc trong ngần của tâm hồn thì
người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã kinh ngạc phát hiện ra điều gì tiếp theo ngay sau
bức tranh ? Tâm trạng người nghệ sĩ khi đó như thế nào? .
HS tái hiện : Bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ là một người
đàn bà xấu xí, mệt mỏi ; một gã đàn ông to lớn, dữ dằn ; một cảnh tượng tàn
nhẫn: gã chồng đánh đập vợ một cách thô bạo ... đứa con thương mẹ đã đánh lại
cha để rồi nhận lấy hai cái bạt tai của bố ngã dúi xuống cát...Chứng kiến cảnh
tượng đó người nghệ sĩ Phùng kinh ngạc đến thẫn thờ. Người nghệ sĩ như chết
lặng, không tin vào những gì đang diễn ra trước mắt.
Người thực hiện: Lê Thị Hoa
-
sao ?.
HS thảo luận rồi trả lời: Đúng là Nguyễn Tuân đã có sự quan sát công phu, tìm
hiểu kĩ càng để khắc họa sự hung bạo trên nhiều dạng vẻ . Từ đó, HS vận dụng
thao tác giải thích, chứng minh để làm sáng tỏ vấn đề. Kết quả HS trả lời : Sông
Đà được miêu tả chỗ thì chẹt lại như chiếc yết hầu. Lại có những quãng sông
hàng cây số của một thế giới đầy gió gùn ghè, đá giăng đến chân trời và sóng
bọt tung trắng xóa... Tả cái hút nước quãng Tà Mường Vát, những cái hút nước
xoáy tít lôi tuột mọi vật xuống đáy sâu... Những trùng vi thạch trận sẵn sàng
nuốt chết con thuyền và người lái. .. Âm thanh luôn thay đổi...
Chẳng hạn khi tìm hiểu dáng vẻ, diện mạo con sông Hương phía thượng
nguồn trong bút kí : Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường ,
GV nêu câu hỏi : Tại sao nói : Sông Hương tựa như “một bản trường ca của
rừng già” với nhiều tiết tấu hùng tráng, dữ dội. HS căn cứ vào văn bản suy
Người thực hiện: Lê Thị Hoa
-
N ăm học: 2012- 2013
10
Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
ngẫm thảo luận trả lời : Sông Hương tựa như “một bản trường ca của rừng
già” với nhiều tiết tấu hùng tráng, dữ dội : khi “ rầm rộ giữa bóng cây đại
ngàn”, lúc “ mãnh liệt vượt qua ghềnh thác”, khi “ cuộn xoáy như cơn lốc vào
những đáy vực sâu”, lúc “ dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi
màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Sông Hương hiện ra tựa “Cô gái Digan phóng
khoáng và man dại” với một “bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong
sáng”.
-
N ăm học: 2012- 2013
11
Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
trên cơ sở những đặc tính của cây xà nu, sự gắn bó mật thiết của nó với nhân dân
Tây Nguyên. Sau một thời gian tìm thảo luận HS trả lời :
Cây xà nu là biểu tượng cho cuộc sống và phẩm chất cao đẹp của người
Xô Man:
+ Cây xà nu chịu thương tích, chết chóc bởi quân thù tàn bạo cũng như
dân làng Xô Man bị chúng giết hại ( Anh Xút, bà Nhan; mẹ con Mai) hoặc phải
mang thương tật suốt đời như anh Tnú.
+ Cây xà nu có sức sống mãnh liệt. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã
có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên
bầu trời ... chúng ham ánh sáng và khí trời, cũng như các thế hệ người Xô Man
kế tiếp nhau đứng dậy chiến đấu kiên cường bất khuất giành lấy sự sống, tự do.
Ví dụ: sau khi hướng dẫn HS tìm hiểu cuộc đời, thân phận nô lệ tăm tối
của nhân vật Mị khi sống trong nhà thống lí(Vợ chồng A Phủ-Tô Hoài) GV đưa
ra câu hỏi vấn đáp tìm tòi : Phải chăng nhà văn Tô Hoài chỉ dừng lại ở cuộc đời
tủi nhục, nô lệ của Mị. Tô Hoài đã phát hiện ra điều gì ở Mị khi sống trong nhà
thống lí ? Câu hỏi có tình chất nêu vấn đề đòi hỏi HS phải tìm tòi, phát hiện :
Tô Hoài không dừng lại ở cuộc đời tủi nhục, nô lệ của Mị mà đã đi sâu khám
phá và phát hiện ra đằng sau cuộc đời tăm tối, tủi nhục kia vẫn tiềm ẩn một cô
Mị ham sống , khát khao tự do hạnh phúc. Từ đó GV tổ chúc hướng dẫn HS đi
sâu phát hiện sức sống tiềm tàng của Mị qua những biểu hiện, chi tiết...
Chẳng hạn khi sau khi GV hướng dẫn HS tìm hiểu những phát hiện bất
của GV trong giờ học văn. Khi đã đưa ra một hệ thống câu hỏi, nếu học sinh
không thể tìm ra câu trả lời ngay được thì người GV cần phải dẫn dắt, gợi mở
vấn đề bằng những câu hỏi phụ để từ đó HS tìm ra ý cho câu hỏi chính. Trong
thực tế, HS có thể nắm được nhiều các chi tiết của tác phẩm nhưng chưa biết kết
nối các chi tiết đó để có thể rút ra được các nhận định đánh giá. Đây cũng là lý
do khiến các em rụt rè khi trả lời, vì vậy đòi hỏi GV gợi mở, dẫn dắt.
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
Khi sử dụng nhuần nhuyễn phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ
văn kết quả chất lượng HS trong lớp tôi dạy đã tiến bộ rõ rệt
- Trong giờ học Văn không khí học tập sôi nổi, đã có sự cộng hưởng cảm
xúc giữa nhà văn - HS - GV. HS tích cực trao đổi thảo luận, hăng hái xung
phong phát biểu xây dựng bài. HS thực sự hứng thú khi được học môn Văn và
tiếp xúc với các tác phẩm văn học. Chất lượng, hiệu quả giờ học được nâng cao
rõ rệt.
- HS được rèn luyện nhiều về tư duy mới trong thảo luận phát vấn đáp,
được rèn luyện cách diễn đạt trình bày phát biểu; các em tỏ ra chủ động, tự tin,
linh hoạt khi diễn đạt trước tập thể. Qua đó, đã hình thành được một số kĩ năng
tự tiếp nhận, chiếm lĩnh tác phẩm văn học cho HS.
Người thực hiện: Lê Thị Hoa
-
N ăm học: 2012- 2013
13
Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
C. KẾT LUẬN
mức tới công việc vận dụng việc đổi mới phương pháp dạy học, không chủ quan
Người thực hiện: Lê Thị Hoa
-
N ăm học: 2012- 2013
14
Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn
ỷ vào kinh nghiệm, khả năng dạy vốn có; nếu không chính chúng ta là người lạc
hậu trì trệ.
- Đối với mỗi GV : phải thường xuyên học tập, học hỏi để nâng cao trình
độ chuyên môn, tích cực chủ động đổi mới phương pháp dạy học, tích lũy kinh
nghiệm dạy học.
Trên đây là một vài kinh nghiệm và ý kiến nhỏ của tôi, tất nhiên không
tránh khỏi thiếu sót, rất mong đồng nghiệp chia sẻ và bổ sung, .
Xin chân thành cảm ơn!.
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 04 năm 2013
Người viết
Lê Thị Hoa
Người thực hiện: Lê Thị Hoa
-
N ăm học: 2012- 2013