ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGHIÊN CỨU NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA
XÉT NGHIỆM PSA (PROSTATE SPECIFIC
ANTIGEN) HUYẾT THANH TRONG TẦM
SOÁT VÀ CHẨN ĐOÁN UNG THƯ
TUYẾN TIỀN LIỆT.
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Tp.Hồ Chí Minh- 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGHIÊN CỨU NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA XÉT NGHIỆM PSA
(PROSTATE SPECIFIC ANTIGEN) HUYẾT THANH TRONG TẦM
SOÁT VÀ CHẨN ĐOÁN UNG THƯ
TUYẾN TIỀN LIỆT.
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Chuyên ngành:
Hóa sinh học
Mã số chuyên ngành:
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Phản biện độc lập 1:
Phản biện độc lập 2:
PLCO [76], nồng độ PSA là 4ng/ml được xem là giới hạn để thực hiện sinh thiết. Tuy
nhiên giá trị PSA để quyết định sinh thiết của nghiên cứu ngẫu nhiên ở Châu Âu về
1
ung thư TTL (ERSPC) lại là 3ng/ml [76] và của NCCN 2007 là 2,5 ng/ml [72]. Bên
cạnh đó, nồng độ PSA huyết thanh cũng tăng lên trong trường hợp tăng sản lành tính
TTL (BPH) và sau khi thăm khám TTL [14]. Khoảng 25% - 50% bệnh nhân bị BPH có
nồng độ tăng trên 4ng/ml [14]. Như vậy độ đặc hiệu của PSA trong chẩn đoán ung thư
TTL thấp. 70% số người bị sinh thiết thật sự không có ung thư nhưng họ vẫn phải trải
qua sự lo âu, biến chứng của qui trình như tiểu ra máu, đau ở vùng đáy chậu do sinh
thiết gây ra[14].
Trong vòng 10 năm sau đó, một số nỗ lực cố gắng nhằm gia tăng độ đặc hiệu của
PSA trong chẩn đoán ung thư TTL như xác định mật độ PSA (nồng độ PSA theo thể
tích TTL), tốc độ PSA (tỷ lệ PSA trong một thời gian xác định) và PSA đặc hiệu theo
tuổi [6]. Cùng lúc này một số nhóm nghiên cứu đã kiểm tra những dạng đồng phân của
PSA lưu thông trong máu [14] gồm PSA phức (chủ yếu là PSA-ACT), PSA tự do
(fPSA). Tổng nồng độ PSA-ACT và fPSA là nồng độ PSA toàn phần (tPSA). Các
nghiên cứu cho thấy tỷ lệ PSA – ACT/tPSA tăng đối lập với tỷ lệ fPSA/tPSA giảm ở
người bị ung thư TTL so với người bình thường hoặc bị BPH. Như vậy, việc sử dụng
tỷ lệ fPSA/tPSA trong chẩn đoán phân biệt ung thư TTL và tăng sản lành tính TTL
cũng đã được đề cập tới [14].
Nhằm góp phần giảm thiểu các trường hợp dương tính giả và âm tính giả trong
chẩn đoán sớm ung thư TTL và chẩn đoán phân biệt ung thư TTL với bệnh BPH,
chúng tôi nghiên cứu vai trò của giá trị tPSA, tỷ lệ fPSA/tPSA (%) hoặc kết hợp giá trị
tPSA, tỷ lệ fPSA/tPSA (%) với các giá trị sinh học khác (tuổi, thể tích TTL).
Đề tài “Nghiên cứu nâng cao hiệu quả của xét nghiệm PSA (Prostate specific
antigen) huyết thanh trong tầm soát và chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt” được thực
hiện với 3 mục tiêu cụ thể sau:
đáng ra phải thoái triển như phần lớn các bộ phận khác của cơ thể, ngược lại một số
khá lớn người lại phát triển nhanh hơn điều này tương quan với sự gia tăng tỷ lệ u TTL
từ lứa tuổi này [47].
1.1.2. Sinh học tế bào và hình thái của tuyến tiền liệt bình thường
Để hiểu về sự phát triển của ung thư TTL thì sự hiểu rõ về phân tử và sinh học tế
bào của sự phát triển TTL là cần thiết. TTL của người gồm những thành phần thượng
mô và thành phần nền được phân cách bởi màng đáy.
3
Hình 1.2. Thành phần cấu tạo nên TTL ở người (Nguồn: Jack Schalken (2005), Eouropin
Urology Supplement 4, 1-42).
-
Phần thượng mô TTL gồm hai loại tế bào cơ bản gồm tế bào đáy và những
tế bào ống tuyến có vai trò tiết. Ngoài ra còn có tế bào thần kinh nội tiết được
phân tán trong vùng này.
+ Lớp tế bào ống tuyến được định vị ở lớp trong của ống có vai trò chế tiết là loại
tế bào chính trong vùng thượng mô. Chức năng chính của những tế bào ống tuyến là
tiết dịch TTL gồm có kháng nguyên đặc hiệu TTL (PSA), acid phosphatase (PAP) và
prostaglandin vào trong lòng ống. Những tế bào tiết có khả năng giới hạn về sự tăng
sinh nhưng có chỉ số nguyên phân rất cao. Tuy nhiên điều quan trọng nhất là những tế
bào này biểu lộ thụ thể androgen (AR) dẫn đến khả năng tiết và khả năng sống sót của
tế bào này phụ thuộc androgen [46].
+ Lớp tế bào đáy là những tế bào ở trong vùng ngoại vi của ống TTL và chúng tiết
những thành phần của màng đáy. Các tế bào đáy không được phát triển mạnh và chúng
hiếm khi biểu lộ thụ thể của androgen. Nhưng điều quan trọng là lớp tế bào đáy bao
cân bằng giữa sự sinh sản của tế bào và sự chết có chương trình thì TTL bình thường
và không có sự phát triển thật sự xảy ra. Trong trường hợp TTL, sự cân bằng giữa sự
tăng sinh của tế bào và sự chết có chương trình được điều hòa bởi androgen [46].
Sự đáp ứng của tế bào đối với androgen được điều khiển bởi thụ thể androgen nhân
(AR) và AR được hoạt hóa bởi dihydrotestosterone (DHT). Khoảng 95% androgen lưu
thông trong máu có nguồn gốc từ tinh hoàn là testosterone. Testosterone ảnh hưởng
trực tiếp đến sự biệt hóa của những tế bào biểu mô TTL và ảnh hưởng gián tiếp đến sự
tăng sinh nhất thời của nhóm tế bào gốc trong lớp thượng mô TTL bằng cách kích
thích tế bào trong phần mô đệm của TTL sản xuất các yếu tố tăng trưởng như yếu tố
tăng trưởng nguyên bào sợi (FGF), tăng trưởng thượng bì (EGF), yếu tố tăng trưởng
tương tự insulin (IGF)…. Bên cạnh đó DHT cũng ảnh hưởng đến hoạt động của TGF-
5
β, nhân tố đóng vai trò điều hòa apoptosis [32].
Hình 1.3. Sự ảnh hưởng của Testosterone (T) và dihydrotestosterone (DHT) đến sự
tăng sinh và biệt hóa của các tế bào biểu mô TTL (Nguồn: Jack Schalken (2005),
Eouropin Urology Supplement 4, 1-42).
1.2.2. Androgen receptor (AR) và ung thư tuyến tiền liệt.
1.2.2.1. Cấu trúc của gen AR
AR là một thành viên của hormone steroid thụ thể nhân. Gen mã hóa cho AR ở
trên nhiễm sắc thể X (Xq11-12) có kích thước 90kb và bao gồm 8 exon. Exon đầu
tiên có chiều dài tương đương 1580bp và mã hóa phần chủ yếu có chức năng hoạt hóa
(AF1). Exon này bao gồm hai vùng lặp lại có tính đa hình cao (CAG và GGN) [29].
Chiều dài của CAG (bộ baglutamine) thay đổi từ 19 đến 23 lần lặp lại. Polyglycine ở
đầu C (GGN) lặp lại khoảng 16 lần. Hai đơn vị hoạt hóa phiên mã (TAU) ở đầu N.
Đơn vị hoạt hóa phiên mã thứ nhất (TAU1) chịu trách nhiệm cho khả năng kích thích
phiên mã của AR [23]. Vùng thứ hai là vùng liên kết với DNA (DBD) vùng này được
AR bao gồm một số vùng quan trọng như vùng hoạt hóa không phụ thuộc ligand
AF-1 ở đầu tận cùng amino, vùng liên kết với DNA (ở giữa), và vùng hoạt hóa phụ
thuộc ligand AF-2 ở đầu tận carboxy. Cả AF-1 và AF-2 đều có vai trò liên kết với các
nhân tố đồng hoạt hóa (hoặc kìm hãm) để kích thích (hoặc kìm hãm) sự phiên mã của
gen.
Ligand (DHT hoặc T) liên kết với AR kích thích vùng LBD gấp khúc thành 12
vòng tạo túi chứa ligand, sau đó là khả năng tiếp xúc với AF-1, AF-2 dẫn đến sự dimer
hóa và hoạt hóa protein [38]. Nếu không có ligand, AR ở trong bào tương và kết hợp
với phức protein chaperon. Trong trường hợp có mặt ligand, sự hình thành phức AR
với chaperon bị thay đổi gây nên sự giải phóng AR. Sự giải phóng này cho phép sự
tiếp xúc với các phân tử bên trong dẫn đến sự hoạt hóa và chuyển vị AR vào trong
nhân. Trong nhân, phức hợp receptor được dimer hóa liên kết với ARE ở gen đích vì
vậy ảnh hưởng đến sự biểu hiện của các gen đó. Androgen có khả năng điều hòa sự
biểu hiện của hàng trăm gen đích trong TTL bao gồm PSA, PAP, nhiều yếu tố tăng
trưởng và những gen liên quan trong kiểm soát chu trình tế bào và chết có chương
trình [91].
1.2.2.3. Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động phiên mã của AR
Hình 1.5. Hoạt động của androgen (Nguồn: Feldman J.B, Feldman D, 2001)
Hoạt động phiên mã của AR được điều hòa bởi sự biến đổi sau dịch mã của AR và
8
sự tiếp xúc của AR với hàng trăm chất đồng điều khiển.
Sự biến đổi sau dịch mã của AR
Sự biến đổi sau dịch mã các AR protein nhìn chung bao gồm 10 sự phosphoryl
hóa, 3 vị trí acetyl hóa và 2 vị trí sumoyl hóa của AR đã ảnh hưởng và điều hòa hoạt
động phiên mã, sự định vị và ổn định của AR. Vị trí được phosphoryl hóa chủ yếu là
and POU2F1 (OCT1) được cho là có ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng AR như
những chất đồng hoạt hóa hoặc đồng kìm hãm [44].
Nhóm 2 được chia thành những nhóm nhỏ tùy theo chức năng của chúng trong
nhân bao gồm những biến đổi của AR như sự phosphoryl hóa, acetyl hóa, sumoyl hóa
hay ubiquitin hóa cũng như sự tiếp xúc trực tiếp với chromatin. Một số chất thuộc
nhóm enzyme acetyl hóa histon (HAT) ảnh hưởng trực tiếp với AR và điều hòa sự
biểu hiện gen. Những chất trong nhóm này có thể là những chất đồng hoạt hóa
NCOA1, NCOA2, NCOA3, EP300, KAT2B, KAT5 và những chất đồng kìm hãm
SIRT1, NCOR1 và HDAC [44]. Những chất đồng điều điều khiển làm biến đổi sự
sumoyl hóa và ubiquitin hóa AR như SUMO3, UBE2I và protein PIAS [44].
Nhóm 3 bao gồm những nhân tố phiên mã đặc biệt như FOXA1, Oct1, ETS1 và
AP-1 [44].
1.2.2.4. Cơ sở tế bào học của ung thư TTL
Trong phần thượng mô TTL có tế bào ống tuyến là tế bào có khả năng biểu lộ thụ
thể androgen, tiết PSA và phụ thuộc androgen cho sự tăng sinh của chúng, tế bào gốc
trung gian không phụ thuộc androgen cho sự sống còn nhưng lại phụ thuộc androgen
cho sự tăng sinh mở rộng và tế bào gốc có khả năng tái sinh để mở rộng nhưng không
phụ thuộc androgen [46].
Sự phát triển khối u ác tính do sự kích thích bất thường của androgen. Sự phát sinh
ung thư chủ yếu xuất hiện ở phần thượng mô TTL. Gần 80-90 % ung thư ở giai đoạn
đầu là phụ thuộc androgen do vậy với liệu pháp loại bỏ androgen sẽ dẫn đến sự chết tế
bào có chương trình của tất cả tế bào phụ thuộc androgen do đó tất cả những tế bào
ống tuyến sẽ bị chết tế bào có chương trình. Kết quả là TTL nhanh chóng teo lại. Chỉ
những tế bào gốc và những tế bào gốc trung gian không phụ thuộc androgen còn sống,
10
những tế bào này được duy trì trong suốt quá trình loại bỏ androgen, vì chúng thích
ứng với nồng độ androgen trong môi trường thấp và tiếp tục điều chỉnh tín hiệu
tiết sang mô hình tự tiết. Thêm vào đó những thay đổi trong sự cân bằng giữa những
chất đồng điều khiển AR và các AR khác nhau cho phép hoạt động của cơ chế không
phụ thuộc AR.
Hầu hết những khối u ở giai đọan sớm là phụ thuộc androgen và vì vậy việc chữa
trị chung thường là loại bỏ đi androgen thông qua phẫu thuật hay chiếu xạ. Khi
androgen được loại bỏ, những tế bào phụ thuộc androgen sẽ chết và môi trường có
lượng hormon thấp này sẽ lựa chọn những tế bào không cần androgen để tăng sinh và
đây chính là ung thư TTL không phụ thuộc androgen (AIPC- androgen independent
protate cancer).
1.2.2.5. Một số con đường phân tử dẫn đến AIPC
Những thay đổi trong trao đổi chất của androgen
Gia tăng sự sản xuất androgen tại chỗ để bù vào sự giảm sút testosteron lưu thông
trong máu. Những tế bào TTL gia tăng tốc độ biến đổi testosteron thành DHT bằng
cách gia tăng hoạt động của 5 α- reductase [41]. Những nghiên cứu dịch tễ cho thấy
rằng những người có mức độ hoạt động cao của 5α- reductase thì có tần suất ung thư
TTL cao. Mặc dù tần suất ung thư TTL thì tương tự nhau ở nam giới thuộc các dân
tộc khác nhau nhưng tỷ lệ nam giới biểu hiện ra bên ngoài triệu chứng lâm sàng của
bệnh ung thư TTL cao nhất thuộc về người Châu Phi rồi đến người da trắng và cuối
cùng là Châu Á. Sở dĩ tỷ lệ nam giới châu Phi mắc ung thư TTL đặc biệt cao vì họ có
tần suất đa hình về gen 5α- reductase là cao nhất. Sự đa hình ở đây chính là sự thay
thế valine ở codon 89 bằng leucine và điều này làm cho hoạt động của enzyme được
tăng cường. Ngoài ra sự tăng cường hoạt động của enzyme còn do sự đột biến của
gen 5α- reductase.
Trong một nghiên cứu rộng lớn về ung thư TTL, trên 18800 người đàn ông ở độ
tuổi 55 hoặc hơn được chữa trị bằng finasteride và dutasteride (những tác nhân ức chế
5α- reductase) cho thấy nguy cơ phát triển ung thư TTL lần lượt giảm 20%, 22,8%
[111]. Trong sự tiến triển của ung thư TTL, ngay khi liệu pháp loại bỏ androgen được
sử dụng, nồng độ DHT bên trong TTL vẫn còn cao. Chính những tế bào ung thư TTL
thấp [31]. Một số lượng nhỏ đột biến vô nghĩa đã được phát hiện ở những phần của
AR. Các đột biến vô nghĩa (K179R và C619Y) ảnh hưởng đến những vùng ở đầu N và
DBD của protein AR [112]. K179R có hiệu lực trong việc bãi bỏ sự điều tiết của
androgen trong khi đó C619Y gây nên sự bất hoạt và sự gắn nhầm chỗ của receptor
[83].
Sự khuếch đại và sự biểu hiện quá mức của AR
13
Một số nhà khoa học cho rằng cơ chế cho phép những tế bào ung thư TTL tăng
sinh trong điều kiện nồng độ androgen thấp liên quan đến sự biểu hiện quá mức AR
[18]. Sự gia tăng đáng kể AR dẫn đến tăng cường sự liên kết AR với ligand. Gần 30%
mô trở thành không phụ thuộc androgen có sự khuếch đại gen AR sau khi thực hiện
liệu pháp loại bỏ androgen trong khi đó các mô này trước đây khi chưa thực hiện liệu
pháp này thì không thấy [41]. Kết quả này đã cho thấy sự khuếch đại là kết quả của sự
lựa chọn những dòng tế bào mà có thể tăng sinh mặc dù nồng độ rất thấp của
androgen [41]. Sự khuếch đại AR ở những mô không nhạy cảm với androgen bao
gồm sự khuếch đại vừa nồng độ RNA và nồng độ protein [18].
Những biến thể AR splice
Có 3 loại đồng phân AR thiếu vùng liên kết với ligand, được ký hiệu là AR3, AR4
và AR5 đã được tìm thấy trong CRPC [51]. Trong đó AR3 là một trong những biến thể
AR splice chủ yếu biểu hiện trong mô TTL [51]. Ít nhất có 4 cơ chế tạo thành những
những biến thể AR protein như: sự thay đổi codon bắt dịch mã, sự phân cắt protein, sự
tạo thành codon kết thúc sớm do đột biến và do sự thay đổi ở vị trí bắt đầu phiên mã.
Khớp
nối
Hình 1.7. Sơ đồ cấu trúc của những biến thể AR splice ở người (Nguồn: Guo Z và
Tầm quan trọng của AKT trong tiến trình không phụ thuộc androgen được kết hợp
với việc loại bỏ chức năng của PTEN. Gen PTEN là một gen gây ức chế khối u nằm
trên NST số 10. Hoạt động của gen này là loại 3-phosphate từ 3-phosphorylate
inositol lipid, điều này là cần thiết cho hoạt động của AKT. Ở những tế bào bình
thường bằng cách khóa con đường AKT, PTEN đã cho phép tế bào đi vào apoptosis
trong khi đó những tế bào khối u đã đánh mất chức năng PTEN do đó đã làm gia tăng
hoạt động của AKT và như vậy đã khóa tín hiệu của apoptosis.
1.3. TĂNG SẢN LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT VÀ UNG THƯ TUYẾN TIỀN
LIỆT
Tăng sản lành tính TTL và ung thư TTL là bệnh xuất hiện ở nam giới lớn tuổi, có
giai đoạn tiềm tàng rất lâu và vì TTL bọc chung quanh cổ bàng quang, nên bệnh lý của
TTL sẽ ảnh hưởng đến chức năng đi tiểu [11].
1.3.1. Tăng sản lành tính TTL
Tăng sản lành tính TTL (BPH) là sự gia tăng về kích thước của TTL do sự phát
15
triển quá mức của những tế bào khỏe mạnh. TTL bắt đầu phát triển mạnh ở tuổi dậy
thì, đến tuổi 40 – 45 đã có những biến đổi về cả kích thước và mô [7]. Bởi vì niệu đạo
đi qua vùng chuyển tiếp của TTL nên sự phát triển quá mức này có thể ép lên niệu đạo
do đó có thể dẫn đến những triệu chứng của rối loạn tiểu tiện. Những triệu chứng này
có thể bị nhầm lẫn với những triệu chứng của ung thư TTL bởi vì cả BPH và ung thư
TTL đều liên quan đến sự gia tăng về kích thước của tuyến [11]. Sự chữa trị chỉ thật sự
cần thiết khi sự to lên về kích thước của TTL gây cản trở đường tiểu. Tuy nhiên cũng
có những trường hợp BPH và ung thư TTL cùng tồn tại vì vậy nam giới sau khi được
chẩn đoán là BPH thì cũng cần có thêm những xét nghiệm chẩn đoán ung thư TTL
[11].
Cơ sở tế bào học của tăng sản lành tính TTL
khả năng điều trị nữa [11]. Đôi khi, ung thư TTL gây triệu chứng tương tự như bệnh
tăng sản lành tính TTL. Những triệu chứng này thường bao gồm đi tiểu thường xuyên,
tiểu đêm, gặp khó khăn để bắt đầu và duy trì một dòng ổn định của nước tiểu, tiểu ra
máu và đi tiểu đau. Khoảng một phần ba số bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung
thư tuyến tiền liệt có một hoặc nhiều triệu chứng như vậy, trong khi hai phần ba không
có triệu chứng [64]. Bên cạnh những vấn đề về tiết niệu, ung thư TTL còn gây ra vấn
đề về chức năng tình dục và hiệu suất, chẳng hạn như khó đạt được sự cương cứng
hoặc đau đớn khi xuất tinh [64].
Ung thư tuyến tiền liệt tiến triển có thể lan ra các phần khác của cơ thể, có thể gây
ra triệu chứng khác. Các triệu chứng thường gặp nhất là đau xương, thường là trong
các đốt sống, xương chậu, hoặc xương sườn. Ung thư tuyến tiền liệt trong cột sống
cũng có thể nén các tủy sống, gây yếu chân, tiết niệu và tiểu không tự chủ phân [89].
1.3.2.2. Yếu tố nguy cơ của bệnh ung thư TTL
Không có nguyên nhân đặc biệt nào gây nên ung thư TTL nhưng các nhà nghiên
cứu đã nhận diện được một số nhân tố được xem là đi kèm với sự phát triển ung thư.
Sự hiểu biết về nguy cơ ung thư TTL có thể giúp nam giới có sự kiểm tra thích hợp ở
giai đoạn sớm hơn. Các nguy cơ ung thư TTL bao gồm: tuổi, yếu tố di truyền, chủng
tộc, chế độ ăn uống, địa phương, nghề nghiệp.
Về tuổi
Ung thư tuyến tiền liệt thường không phổ biến ở nam giới dưới 45 tuổi. Độ tuổi
trung bình tại thời điểm chẩn đoán ung thư là 70 tuổi [43]. Tuy nhiên, nhiều nam giới
không bao giờ biết họ bị ung thư tuyến tiền liệt. Nghiên cứu khám nghiệm tử thi của
nam giới ở Trung Quốc, Đức, Israel, Jamaica, Thụy Điển, Uganda và những người đã
chết vì các nguyên nhân khác đã tìm thấy ung thư tuyến tiền liệt trong 30% nam giới ở
tuổi 50, và trong 80% nam giới trong độ tuổi 70 [41].
Về yếu tố di truyền
Yếu tố di truyền được xác định là một nguy cơ đặc biệt trong ung thư TTL. Nhiều
công trình nghiên cứu dịch tễ học cho thấy nguy cơ ung thư TTL tăng lên đáng kể ở
18
19
[31]. Cuối cùng, béo phì và nồng độ testosterone trong máu cao có thể làm tăng nguy
cơ ung thư tuyến tiền liệt [22].
Một số nghiên cứu bệnh chứng đã chỉ ra rằng lối sống có nhiều bạn tình hoặc bắt
đầu hoạt động tình dục sớm trong cuộc sống làm tăng đáng kể nguy cơ ung thư tuyến
tiền liệt [31, 75]. Sự tương quan này cho thấy một nhiễm trùng lây truyền qua đường
tình dục (STI) có thể gây ra một số trường hợp ung thư tuyến tiền liệt. Tuy nhiên,
nhiều nghiên cứu đã không thành công trong việc cố gắng để chứng minh sự liên hệ
như vậy [85].
Các nghiên cứu kiểm tra về các bệnh lây truyền qua đường tình dục một thập kỷ
hoặc trước hơn thời điểm để chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt đã tìm thấy sự liên kết
quan trọng giữa bệnh ung thư tuyến tiền liệt và các tác nhân truyền nhiễm qua đường
tình dục (HPV-16, HPV-18 và HSV-2) [27]. Một số nghiên cứu cho thấy mối liên quan
giữa sự bắt đầu lan truyền nhiễm trùng qua đường tình dục và khoảng thời gian dài
tiềm tàng ung thư tuyến tiền liệt [75, 86].
1.4. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN VÀ TẦM SOÁT UNG THƯ TTL
Ung thư TTL ở giai đoạn sớm thường ít có triệu chứng lâm sàng. Cách phát hiện
chủ yếu là khám định kỳ (thăm khám qua trực tràng) và thử PSA trong máu ở những
người trên 50 tuổi [11]. Thông thường khi thăm TTL qua trực tràng có thể thấy TTL
cứng, đáng ngờ, từ đó giúp phát hiện ra bệnh [7]. Khi đã có triệu chứng lâm sàng như
rối loạn đi tiểu giống như tăng sản lành tính TTL, các triệu chứng chèn ép gây nên do
bướu hoặc do di căn (ở xương) thì lúc này bướu đã phát triển lớn, ăn lan lên niệu đạo
và cổ bàng quang [11].
1.4.1. Siêu âm TTL
Nếu trong điều kiện có một máy siêu âm Doppler màu chuẩn với đầu dò qua đường
trực tràng có thể giảm bớt được 40% các cuộc sinh thiết không cần thiết [7].
1.4.2. Chụp cộng hưởng từ
21
nhập vào mô đệm xung quanh [70].
- Độ 4: Sự phát triển ung thư mức độ mô học cao và độ biệt hóa kém hoặc những
chuỗi những tế bào biểu mô ác tính [70].
- Độ 5: Đây là ung thư TTL có độ biệt hóa kém nhất. U không có cấu trúc tuyến. Các
tế bào u xâm nhập vào mô liên kết xung quanh [70].
Điểm Gleason
Các tế bào từ TTL được kiểm tra dưới kính hiển vi, nhà nghiên cứu bệnh học sẽ xác
định nhiều loại tế bào từ bình thường, những tế bào lành đến những tế bào bất thường
ác tính và xác định loại tế bào nào là nhiều nhất và loại nào là nhiều thứ hai [70].
Mỗi một loại tế bào này được phân mức độ từ 1 đến 5. Trong hệ thống này, số càng
lớn thì đồng nghĩa là có nhiều tế bào bất thường, tế bào ung thư ác tính. Vì do có hai
loại tế bào ung thư phổ biến nhất được xác định trong TTL, điểm Gleason là sự kết
hợp hai loại tế bào [70].
Ví dụ: nếu loại tế bào phổ biến nhất có mức độ là 3 và loại phổ biến thứ hai là 4 thì
22
điểm Gleason được ghi nhận là 7 hoặc được ghi là “3+4”. Điểm Gleason thay đổi từ 2
đến 10 và được phân làm 3 mức độ: mức độ nhẹ hay biệt hoá rõ (điểm Gleason 2 - 4),
mức độ trung bình hay biệt hoá trung bình (điểm Gleason 5 - 7), mức độ nặng hay độ
biệt hoá kém (điểm Gleason 8 - 10). Trong hầu hết các trường hợp, điểm Gleason càng
thấp thì ung thư càng ít xâm lấn và tiên lượng bệnh càng tốt [70].