BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY – HỌC
TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG ĐH THỦ ĐÔ HÀ NỘI
BẰNG PHÂN TÍCH SWOT – AHP
TS. Bùi Thị Thanh Hương
Trường ĐH Thủ đô Hà Nội
Tóm tắt: Bằng mô hình phân tích SWOT, tình hình giảng dạy Tiếng Anh chuyên
ngành Địa lý được đánh giá theo hai mặt tích cực và tiêu cực: thuận lợi và khó khăn ở
hiện tại (giai đoạn 2010 – 2015), đồng thời cũng dự tính được những cơ hội và thách
thức trong tương lai (giai đoạn 2020 – 2025). Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất được 26
giải pháp, phân loại thành 4 nhóm: (1) tổ chức đào tạo, (2) đánh giá chất lượng dạy –
học, (3) bồi dưỡng giảng viên, (4) các giải pháp bổ trợ khác. Với sự hỗ trợ của phân
tích AHP, phân hạng thứ tự ưu tiên được gán cho hệ thống các giải pháp đó làm cơ sở
cho lập kế hoạch triển khai các giải pháp ưu tiên ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Qua
đó, mô hình đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội, hội nhập Quốc tế sâu rộng của một
trường đại học được phản ánh khá rõ nét trong kế hoạch phát triển của học phần Tiếng
Anh chuyên ngành Địa lý.
Từ khóa: Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý, phân tích SWOT –AHP, giải pháp ưu
tiên.
Abstract: By SWOT analysis, the status of teaching English for geographical
purpose (EGP) was evaluated following the positive and negative sides: Advantages
and disadvantages in the present (2010 - 2015), also predicted the opportunities and
threats in the future (2020-2025). On this basis, the author has proposed 26 measures
classified into 4 groups: (1) training management, (2) assessment quality of teaching –
learning, (3) retraining measures for lecturers, and the other measures. With the
support of AHP analysis, the priority measures for the short, medium and long term
were shown. Thereby, the training model to meet social need, extensive international
integration of the university will be reflected quyte clearly in the development plan of
tế học người Mỹ của Viện nghiên cứu Standford, Menlo Park (Califoocnia) vào thập kỉ
60 của thế kỉ trước [6].
Phân tích AHP (Analytic Hierarchy Process), một kĩ thuật ra quyết định dựa
trên nhiều chỉ tiêu, được đề xuất bởi Saaty (1980), sử dụng so sánh cặp để phân tích,
đánh giá và tổng hợp dựa trên các logic toán học [2].
Phân tích SWOT – AHP là cách tích hợp phân tích tổng hợp bằng ma trận SWOT
với kĩ thuật phân bậc có trọng số AHP. Ý tưởng tích hợp SWOT với AHP đầu tiên được
đề xuất bởi Kurttila và cộng sự (2000) khi nghiên cứu đánh giá về rừng [5], sau đó, Saaty
và Vargas (2001) đã phát triển hướng bán định lượng khi tích hợp SWOT và AHP.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Thực trạng giảng dạy và học tập Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý
3.1.1. Quá trình hình thành học phần Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý
249
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Hiện nay, Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý đã được đưa vào chương trình đào
tạo bắt buộc của hệ đào tạo Cao đẳng Sư phạm Địa lý chính quy. Đây là một học phần
mới nên việc triển khai đào tạo gặp không ít khó khăn, trải qua nhiều giai đoạn khác
nhau:
Giai đoạn thử nghiệm: Học phần Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý bắt đầu được
đưa vào giảng dạy ở trường Đại học Thủ đô Hà Nội bắt đầu từ năm 2010 - 2011, khi
nó tồn tại trong chương trình đào tạo cấp chứng chỉ giảng dạy Địa lý bằng tiếng Anh
(hay còn gọi là chương trình song ngữ). Trong giai đoạn đầu, việc tập hợp thu hút sinh
viên tham gia học ESP là thách thức lớn nhất đối với giảng viên và cán bộ tổ chức lớp
học. Với nhiều lý do khác nhau, sau 2 năm triển khai thử nghiệm, số lượng sinh viên
Tiếng Anh rất phong phú, rất dễ cập nhật thì tài liệu phục vụ cho biên soạn Tiếng Anh
chuyên ngành Địa lý lại hiếm hoi và khó cập nhật hơn. Song, nhu cầu sử dụng kiến
thức cập nhật, vốn từ vựng phong phú vẫn được đặt ra cho người biên soạn giáo trình
Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý. Vì vậy, sau 5 năm sử dụng, giáo trình Tiếng Anh
chuyên ngành Địa lý là nguồn tài liệu quan trọng hỗ trợ đắc lực cho giảng viên thực
hiện các mục tiêu học phần.
3.1.2.2.
Triển khai chương trình và phương pháp giảng dạy
Trong giai đoạn thử nghiệm và giai đoạn đào tạo Tiếng Anh chuyên ngành Địa
lý cho lớp chất lượng cao, mục tiêu của chương trình giảng dạy Tiếng Anh chuyên
ngành Địa lý không hoàn toàn phù hợp với năng lực của sinh viên. Bởi, sinh viên Địa
lý đều có trình độ Tiếng Anh đầu vào rất thấp. Vì vậy, tham gia khóa học Tiếng Anh
chuyên ngành Địa lý với mục tiêu mà chương trình đề ra là một khó khăn và thách
thức cho sinh viên sư phạm Địa lý. Nhiều phương pháp giảng dạy Tiếng Anh chuyên
ngành Địa lý đã được lựa chọn và triển khai, song một số phương pháp cũng bộc lộ
nhiều điểm không phù hợp như: các phương pháp tạo hứng thú học tập cho sinh viên,
phương pháp luyện nghe tài liệu ESP, phương pháp hướng dẫn đọc các tài liệu chuyên
ngành, phương pháp kiểm tra, đánh giá, phương pháp hướng dẫn tự học...
Trong giai đoạn triển khai đào tạo đại trà, mục tiêu của chương trình giảng dạy
Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý đã được điều chỉnh phù hợp với năng lực của sinh
viên và điều kiện học tập. Tuy nhiên, kết quả đào tạo sẽ được cải thiện hơn nếu giáo
viên giảng dạy Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý chú ý hơn đến việc phân loại trình độ
đầu vào của sinh viên, điều chỉnh nội dung giảng dạy sát với nhu cầu sử dụng Tiếng
Anh chuyên ngành Địa lý trong thực tế của trường phổ thông.
3.1.2.3.
Liên kết đào tạo và bồi dưỡng
Nhu cầu sử dụng
Số
Tỷ lệ
lượng
Giảng dạy Địa lý bằng Tiếng Anh
0
0.0
Giảng dạy Tiếng Anh (gia sư, giảng dạy ở trung tâm)
10
35.7
Đọc tài liệu bằng tiếng Anh
22
78.6
Tìm tài liệu bằng ESP
22
78.6
Dịch tài liệu Anh - Việt, Việt - Anh
10
35.7
Sử dụng Tiếng Anh khi đi thực tập
5
8.1
Giảng dạy Tiếng Anh (gia sư, giảng dạy ở trung tâm)
3
4.8
Đọc thông tin, tài liệu bằng tiếng Anh
18
29.0
18
29.0
4
Nguồn: [3]
Đối với sinh viên đã tốt nghiệp ra trường, ESP và chứng chỉ giảng dạy Địa lý
bằng Tiếng Anh đã mở thêm cơ hội việc làm song chủ yếu vẫn là những việc làm tạm
thời như: biên dịch tài liệu, thư tín, gia sư tiếng Anh…Nhiều kĩ năng được rèn luyện
252
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
khi học tập ESP được vận dụng nhiều trong thực tiễn như: kĩ năng đọc, nói, biên dịch
và viết (bảng 1). Trong đó, một số giáo viên mới ra trường (khoảng 77,6% sinh viên
được học ESP – bảng 1) đã biết vận dụng vốn từ ESP để tìm tài liệu phục vụ giảng dạy
tương đối hiệu quả. Tuy nhiên, sử dụng ESP phục vụ giảng dạy Địa lý bằng tiếng Anh
vẫn chưa được sử dụng nên vốn kiến thức được học tập trong học phần Tiếng Anh
chuyên ngành Địa lý dần mai một sau một vài năm ra trường.
Đối với sinh viên đang học tập tại trường Đại học Thủ đô Hà Nội, học phần
Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý là học phần bắt buộc 2 tín chỉ cho sinh viên Sư phạm
Địa lý. Nhu cầu sử dụng Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý mới chỉ dừng lại ở việc hoàn
thiện các bài tập trên lớp, các bài tập tiểu luận. Đối với sinh viên các lớp chất lượng
cao, Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý còn được dùng trong tìm kiếm tài liệu phục vụ
NCKH, viết báo cáo, viết thư bằng Tiếng Anh, biên dịch tài liệu. Tuy nhiên, kỹ năng
nói, thuyết trình tiếng Anh trên lớp còn nhiều hạn chế.
3.1.4. Kết quả rèn luyện của sinh viên
3.1.4.1. Kết quả học tập chung
70
60
62 SV
2013-2014
2
8
2
2014-2015
42
15
5
Nguồn: [3]
Hình 1: Kết quả xếp loại học lực cho sinh viên học phần Tiếng Anh chuyên
ngành Địa lý giai đoạn 2010 - 2015
3.1.4.2.
Kết quả rèn luyện kỹ năng học tập trên lớp
253
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Bảng 2: Tỷ lệ sinh viên đạt yêu cầu theo các kĩ năng học tập Tiếng Anh chuyên
ngành Địa lý giai đoạn 2010 - 2015
2010 - 2011
2011-2012
100
100
Viết
100
100
83.3
64.5
Nguồn: [3]
3.2.
Thực trạng quản lý dạy và học Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý
Phòng Quản trị
Phòng Đào tạo
Phòng Khảo thí
Khoa KHTN
& Bộ môn
Giảng viên
chuyên
CSVC
&
Phương
tiện lý
Địa
3.2.1. Quản lý mục tiêu môn học
Việc quản lý mục tiêu học phần Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý dựa trên các
mặt: kiến thức, kỹ năng và thái độ. Tuy nhiên, việc đánh giá trong và đánh giá ngoài
đối với nội dung này vẫn chưa được thực hiện một cách bài bản và thường xuyên.
3.2.2. Quản lý nội dung, chương trình môn học
Nội dung, chương trình ESP cung cấp cho sinh viên sư phạm Địa lý là những
kiến thức đại cương, cơ bản nhất về Địa lý đại cương, Địa lý khu vực và Địa lý Việt
Nam, thông qua các thuật ngữ Địa lý bằng tiếng Anh, các dạng cấu trúc thường dùng,
254
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
cũng như định hướng cách sử dụng những kiến thức, kĩ năng đã được học trong học
phần ở tương lai.
3.2.3. Quản lý trình độ đầu vào của sinh viên
Trình độ Tiếng Anh của sinh viên sư phạm Địa lý khi bắt đầu học học phần này
ở mức độ Tiếng Anh cơ bản (Tiếng Anh 1 và Tiếng Anh 2) và Tiếng Anh nâng cao
(tiếng Anh 3). Về nguyên tắc, với thiết kế chương trình này, sinh viên sư phạm Địa lý
sẽ đủ điều kiện năng lực ngoại ngữ để học ESP. Tuy nhiên, trong thực tế, năng lực
Tiếng Anh của sinh viên Địa lý tương đối yếu so với các ngành đào tạo khác nên giảng
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Việc đánh giá chất lượng học tập của sinh viên không chỉ là cơ sở để phân loại
sinh viên mà còn có vai trò quan trọng trong việc xác định chất lượng đào tạo, giúp
cho việc điều chỉnh nội dung, chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
phù hợp hơn. Thực tế, các hoạt động kiểm tra đánh giá trong học phần Tiếng Anh
chuyên ngành Địa lý tương đối đa dạng. Kiểm tra thường xuyên (10% và 30%) gồm
các bài kiểm tra vấn đáp ngắn, bài tập ngắn, viết luận, bài tập online (phục vụ tự học).
Kiểm tra cuối kì (60%) gồm các bài thi tự luận 90 phút, bài thi trắc nghiệm trên máy
tính, thi vấn đáp, tiểu luận hoặc bài tập lớn thay thế kết thúc học phần.
3.2.7. Quản lý cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật dạy học
Để tạo điều kiện về cơ sở vật chất và trang thiết bị đảm bảo chất lượng cho hoạt
động dạy và học Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý, nhà trường đã triển khai tốt các nội
dung quản lý như: Quản lý giáo trình và tài liệu phục vụ cho việc dạy và học. Đảm
bảo trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học ngoại ngữ (ampli, cassettes, máy đèn
chiếu, projectors, băng hình và các giáo cụ trực quan…). Đối với những giờ dạy luyện
nghe, sinh viên cần phải được bố trí học tại phòng nghe nhìn. Bàn ghế, bảng và các
thiết bị dạy học cần phải được sắp xếp bố trí khoa học. Tuy nhiên, yêu cầu sắp xếp tổ
chức lớp học Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý dưới 30 người/lớp mới chỉ được triển
khai ở các lớp chất lượng cao.
3.3.
Đánh giá tình hình giảng dạy Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý bằng mô
hình phân tích SWOT
Bằng mô hình phân tích SWOT, tác giả bài báo giới thiệu kết quả đánh giá tình
hình giảng dạy Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý ở trường Đại học Thủ đô Hà Nội giai
đoạn 2010 – 2015 thông qua 4 bộ tiêu chí chính: điểm mạnh (những thuận lợi cho dạy
và học Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý ở hiện tại), điểm yếu (những khó khăn cho dạy
và học Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý ở hiện tại), cơ hội (dự tính những thuận lợi cho
viên sư phạm Địa lý còn thấp
dục (đề án ngoại ngữ 2020).
[S5]:Nhu cầu giáo viên Địa lý có khả
[W5]: Kĩ năng tự học ESP của sinh
năng giảng dạy bằng Tiếng Anh tại các
viên sư phạm Địa lý còn yếu
trường song ngữ
[S6]: Có nhiều bài học kinh nghiệm [W6]: Kết quả đánh giá sinh viên sau
sau giai đoạn thử nghiệm
học phần ESP còn thấp
[S7]: Cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy [W7]: Nhu cầu sử dụng Tiếng Anh
Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý đạt chuyên ngành Địa lý của sinh viên sau
yêu cầu.
tốt nghiệp không nhiều.
[S8]:Có sự hỗ trợ của các giảng viên và
[W8]: Cơ chế tài chính cho các giảng
chuyên gia ở Đại học Sư phạm Hà Nội
viên và chuyên gia ngoài trường
và Học viện Khoa học và Công nghệ
Cơ hội (O - Opportunities)
Thách thức (T - Threats)
[O1]: Nhu cầu nâng cao năng lực ngoại [T1]:Thời lượng cho đào tạo Tiếng
ngữ cho giáo viên trong bối cảnh hội Anh chuyên ngành Địa lý còn ít (2 tín
nhập Quốc tế
chỉ)
[O2]:Trình độ giảng viên giảng dạy [T2]: Giáo trình Tiếng Anh chuyên
Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý sẽ ngành Địa lý chưa được cập nhật theo
được nâng cao
[O7]: Thị trường sử dụng Tiếng Anh [T7]: Yêu cầu sử dụng Tiếng Anh
chuyên ngành Địa lý sẽ ngày một mở chuyên ngành Địa lý của sinh viên sau
rộng
tốt nghiệp sẽ đòi hỏi ngày càng cao
Nguồn: [3]
Qua phân tích tình hình thực tế giảng dạy Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý cho
thấy, trước yêu cầu của Bộ giáo dục, trường Đại học Thủ Đô Hà Nội đã có nhiều chuyển
biến trong chuẩn bị các điều kiện cơ bản cho đào tạo Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý từ
thí điểm đến đào tạo đại trà trong tất cả các lớp đào tạo sư phạm Địa lý như xây dựng
chương trình, giáo trình, đầu tư có sở vật chất cho giảng dạy Tiếng Anh chuyên ngành
Địa lý, có sự hỗ trợ của chuyên gia và giảng viên ngoài trường. Mặt khác, tổ chức đào
tạo Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý gặp phải không ít khó khăn như: năng lực đầu vào
của sinh viên còn thấp, nhu cầu sử dụng Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý không nhiều
nên động cơ học tập của sinh viên còn yếu; trong khi năng lực của giảng viên chuyên
ngành chưa tiếp cận được yêu cầu mới thì việc tận dụng các nguồn lực ngoài trường cho
đào tạo Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý cũng không đơn giản.
Trong xu thế hội nhập ngày một sâu rộng, nhu cầu giáo viên Địa lý có trình độ
ngoại ngữ ngày một gia tăng, giảng dạy Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý sẽ có nhiều
cơ hội thuận lợi để mở rộng và đầu tư nâng cao chất lượng. Theo đó, tổ chức đào tạo
Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý sẽ phải đối mặt với không ít thách thức từ chuẩn năng
lực đầu ra đến điều kiện giảng dạy và học tập. Vì vậy, việc lựa chọn các giải pháp và
xây dựng một lộ trình thực hiện các giải pháp đó là một đòi hỏi bức thiết đặt ra từ bối
cảnh thực tiễn.
258
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
3.4.
2025
I. Nhóm giải pháp tổ chức đào tạo
G1: Xây dựng chuẩn đầu ra
Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý
0.28
theo chuẩn của chương trình đào
tạo Địa lý chất lượng cao
1
G2: Xây dựng chuẩn đầu ra
Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý
0.03
(gắn liền với nhu cầu giáo viên
song ngữ ở trường phổ thông)
10
G3: Xây dựng chương trình đào
tạo theo chuẩn đầu ra chất lượng 0.16
cao
2
G4: Xây dựng chương trình đào
tạo theo chuẩn đầu ra theo nhu 0.044
cầu giáo viên song ngữ
8
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
G7: Phân loại các lớp học phần
Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý 0.152
theo năng lực người học
3
G8: Thiết kế chương trình thực
tập, thực hành cho Tiếng Anh 0.052
chuyên ngành Địa lý
7
G9: Thiết kế chương trình thực
0.042
tập - thực địa ở nước ngoài
9
G10: Phối hợp giảng dạy với các
0.075
chuyên gia ngoài trường
6
0.107
kết thúc học phần
4
G15: Bài tập trắc nghiệm trực
0.107
tuyến phục vụ tự học
4
G16: Khảo sát hiệu quả môn học
0.107
từ người học
4
G17: Khảo sát chất lượng đầu ra
0.061
từ nhà tuyển dụng
7
G21: Khuyến khích giảng viên
tham gia các hội thảo khoa học 0.151
liên quan đến giảng dạy ESP
3
G22: Tạo cơ chế thúc đẩy các
giảng viên Địa lý viết báo khoa 0.101
học bằng tiếng Anh
4
IV.Các hoạt động bổ trợ
G23: Bồi dưỡng tinh thần ham
mê học tập bằng các hoạt động
ngoại khóa tại các trường song 0.354
ngữ (có giảng dạy Địa lý bằng
Tiếng Anh)
1
được 8 điểm thuận lợi và 8 điểm khó khăn cho giảng dạy và học tập ở hiện tại (giai
đoạn 2010 – 2015), đồng thời cũng dự tính 7 điểm cơ hội và 7 điểm thách thức cho
đào tạo Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý trong tương lai (giai đoạn 2020 – 2025). Trên
cơ sở đó, tác giả đã đề xuất được 26 giải pháp phân loại theo 4 nhóm: nhóm giải pháp
tổ chức đào tạo, nhóm giải pháp đánh giá chất lượng giảng dạy, nhóm giải pháp bồi
261
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
dưỡng giảng viên, và nhóm các giải pháp bổ trợ khác. Với sự hỗ trợ của phân tích
AHP, phân hạng về thứ tự ưu tiên được gán cho hệ thống các giải pháp đó, làm cơ sở
cho lập kế hoạch triển khai các giải pháp ưu tiên trong giai đoạn 2017 – 2020 và 2020
– 2025. Qua đó, mô hình đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội, hội nhập Quốc tế sâu rộng
của một trường đại học được phản ánh khá rõ nét trong kế hoạch phát triển của học
phần Tiếng Anh chuyên ngành Địa lý như: chuẩn đầu ra gắn liền với các trường song
ngữ, Quốc tế, chương trình thực tập, thực hành chuyên ngành ở nước ngoài, bồi dưỡng
giảng viên ở nước ngoài, thúc đẩy giảng viên, sinh viên NCKH và viết báo khoa học
bằng Tiếng Anh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Đỗ Thị Xuân Dung, (2011), Dạy và học Tiếng Anh chuyên ngành theo nhu cầu
xã hội. Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống (Hội Ngôn ngữ học Việt Nam), 2011, Số:
12 (194) 2011, Tr 37-43.
[2]. Bùi Thị Thanh Hương, (2015), Nghiên cứu ảnh hưởng của hạn hán và hoang
mạc hóa đến sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Bình Thuận trong bối cảnh biến đổi khí
hậu, LATS Địa lý Tài nguyên và Môi trường, Học viện Khoa học và Công nghê, tr
20-26.