ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THANH BÌNH
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ
QUỐC GIA BẰNG BIỆN PHÁP TRỌNG TÀI
TRONG LUẬT QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THANH BÌNH
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ
QUỐC GIA BẰNG BIỆN PHÁP TRỌNG TÀI
TRONG LUẬT QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS. TS Nguyễn Bá Diến
Hà Nội - 2014
quyền lãnh thổ quốc gia ................................................................................. 18
1.3. Cơ sở pháp lý của việc giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ quốc gia
bằng biện pháp trọng tài ................................................................................. 20
CHƢƠNG 2. PHƢƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC NGUYÊN TẮC
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ BẰNG TRỌNG
TÀI ................................................................................................................. 22
2.1. Toà trọng tài thường trực LaHaye (PCA) ............................................... 22
2.1.1. Quá trình thành lập của PCA ............................................................... 22
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của PCA ...................................................................... 27
2.1.3. Thẩm quyền của PCA .......................................................................... 29
2.1.4. Thực tiễn giải quyết của PCA ............................................................... 36
2.1.5. Những ưu điểm, nhược điểm của PCA trong việc giải quyết tranh chấp
chủ quyền lãnh thổ ......................................................................................... 57
2.2. Tòa trọng tài luật biển theo Phụ lục VII Công ước Luật biển 1982 .............. 61
2.2.1. Thẩm quyền của Tòa Trọng tài ............................................................ 62
2.2.2. Cơ cấu tổ chức của Tòa Trọng tài ........................................................ 63
2.2.3. Thủ tục xét xử ...................................................................................... 64
2.2.4. Thực tiễn xét xử ................................................................................... 65
2.3. Trọng tài quốc tế đặc biệt theo phụ lục VIII của Công ước Luật Biển năm
1982. ............................................................................................................... 78
2.3.1. Thẩm quyền của Trọng tài đặc biệt ...................................................... 78
2.3.2. Cơ cấu của Tòa Trọng tài đặc biệt ....................................................... 78
2.3.3.Thủ tục xét xử của Tòa trọng tài đặc biệt ............................................. 79
2.3.4. Thực tiễn xét xử ................................................................................... 82
CHƢƠNG 3. VẬN DỤNG PHƢƠNG THỨC TRỌNG TÀI TRONG
VIỆC ĐẤU TRANH, BẢO VỆ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ CỦA VIỆT
NAM TRÊN BIỂN ĐÔNG .......................................................................... 83
3.1. Tình hình về tranh chấp trên biển Đông giữa Việt Nam và các nước .............. 83
DOC
Tuyên bố của các bên về ứng xử trên Biển Đông
COC
Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông
ITLOS
Tòa án quốc tế về Luật biển
ICJ
Tòa án công lý quốc tế của Liên hiệp quốc
ICC
Tòa hình sự quốc tế
UNCITRAL
Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại quốc tế
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN LÃNH
THỔ QUỐC GIA BẰNG BIỆN PHÁP TRỌNG TÀI
1.1.
thổ quốc gia thuộc chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia. Do đó chủ
quyền lãnh thổ của quốc gia- một bộ phận của chủ quyền quốc gia là quyền
lực tối cao, hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia đối với lãnh thổ và trên lãnh
thổ. Quốc gia là chủ thể duy nhất và thực sự có quyền chiếm giữ, sử dụng và
định đoạt một cách hoàn toàn độc lập lãnh thổ của mình.
(3) Chính phủ là một chủ thể có quyền lực để thi hành luật pháp trong
một quốc gia hay một nhóm người ở tầm quốc gia, chính phủ hình thành chủ
yếu theo ý chí của người đứng đầu nhà nước. Thông thường người đứng đầu
nhà nước thường thành lập ra một hệ thống cơ quan quyền lực thay mặt quốc
gia để thực thi quyền lực nhà nước. Chính phủ thống nhất quản lý việc thực
hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và
đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy Nhà nước; bảo đảm
việc tôn trọng và chấp hành luật pháp quốc gia.
(4) Năng lực tham gia vào các quan hệ với các chủ thể quốc tế khác.
Quốc gia tự do có quyền lựa chọn và quyết định quan hệ với các quốc gia
khác, quyền được trở thành thành viên của tổ chức quốc tế phổ biến, không
chịu sự can thiệp của bất kỳ quốc gia nào khác.
Như vậy, nói đến quốc gia là nói đến bốn yếu tố cấu tạo nên quốc gia đó
và lãnh thổ quốc gia là yếu tố vật chất cơ bản, nền tảng cấu thành nên quốc gia.
Chủ quyền quốc gia gồm 2 nội dung cơ bản đó là: quyền tối cao của
quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình; quyền độc lập của quốc gia trong
quan hệ quốc tế. Trong cuốn từ Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam thì Chủ
quyền quốc gia là thuộc tính chính trị - pháp lí không thể tách rời của quốc
gia. Nội dung của chủ quyền quốc gia gồm quyền tối cao của quốc gia trong
phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc
2
tế. Quyền tối cao của quốc gia ở trong nước thể hiện ở quyền lực đầy đủ để
giải quyết mọi vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá... không có sự can
- Quốc gia có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thích hợp, có
quyền điều chỉnh, kiểm soát các hoạt động của công ty đa quốc gia, sở hữu cả
người nước ngoài cũng như hoạt động của các tổ chức tương tự, kể cả trường
hợp quốc hữu hóa, tịch thu, trưng thu tài sản cuả tổ chức, cá nhân nước ngoài
có bồi thường hoặc không bồi thường;
- Quốc gia có quyền và nghĩa vụ bảo vệ, cải tạo lãnh thổ quốc gia theo
những nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế; có quyền định sử dụng thay
đổi lãnh thổ phù hợp với pháp luật và lợi ích của cộng đồng dân cư sống trên
lãnh thổ đó;
Mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ và tuyệt đối với lãnh thổ
của mình. Chủ quyền đó được gọi là quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh
thổ. Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ được thể hiện ở hai phương
diện cơ bản:
* Phương diện quyền lực: Đây là sự tồn tại và phát triển của hệ thống
cơ quan nhà nước với các hoạt động nhằm thực hiện quyền lực bao trùm lên
tất cả các lĩnh vực của đời sống của một quốc gia. Quyền lực này mang tính
hoàn toàn, riêng biệt, không chia xẻ với bất cứ quốc gia nào khác và là chủ
quyền thiêng liêng của từng quốc gia. Tất cả cộng đồng dân cư và mọi hoạt
động diễn ra trên lãnh thổ quốc gia đều thuộc về quyền lực này.
- Quốc gia thực hiện quyền tài phán của mình đối với người và tài sản
trong phạm vi lãnh thổ một cách không hạn chế (trừ một số trường hợp vì lợi
ích của toàn thể cộng đồng hay vì lợi ích của một số quốc gia nhất định và ý
chí chủ quyền của nhân dân)
- Trên phạm vi lãnh thổ quốc gia được quyền tiến hành mọi hoạt động
với điều kiện các hành vi đó không bị pháp luật quốc tế cấm. Tuy nhiên việc
4
tiến hành thể hiện chủ quyền của quốc gia không được làm thiệt hại đến chủ
Nội dung quy chế pháp lý của lãnh thổ quốc gia thể hiện qua các văn
bản pháp luật quốc gia gồm:
- Quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội phù
hợp với nguyện vọng của cộng đồng dân cư sống trên lãnh thổ mà không có
sự can thiệp từ bên ngoài, dưới bất kỳ hình thức nào;
- Quyền tự do lựa chọn phương hướng phát triển đất nước, thực hiện
những cải cách kinh tế - xã hội phù hợp với các đặc điểm của quốc gia. Các
quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng lựa chọn này;
- Quyền tự quy định chế độ pháp lý đối với từng vùng lãnh thổ của
quốc gia;
- Quyền sở hữu hoàn toàn đối với tất cả tài nguyên thiên nhiên trong
lãnh thổ của mình;
- Thực hiện quyền tài phán đối với mọi công dân, tổ chức, kể cả các cá
nhân, tổ chức nước ngoài trong phạm vi lãnh thổ quốc gia;
- Quyền của quốc gia áp dụng các biện pháp cưỡng chế, điều chỉnh,
kiểm soát hoạt động của các pháp nhân và người nước ngoài, kể cả các trường
hợp quốc hữu hoá, quốc tịch, trưng thu tài sản của tổ chức, cá nhân nước
ngoài có bồi thường hoặc không có bồi thường;
- Quyền quyết định sử dụng, thay đổi lãnh thổ phù hợp với pháp luật và
lợi ích của cộng đồng dân cư sống trên phần lãnh thổ đó.
Chủ quyền quốc gia nói riêng và chủ quyền lãnh thổ quốc gia nói
chung có vai trò quan trọng, thể hiện sự tồn tại của mỗi quốc gia vì trong
phạm vi lãnh thổ quốc gia của mình quốc gia có toàn quyền quyết định các
vấn đề cơ bản của mình từ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Mỗi quốc gia là
một tác nhân của cộng đồng quốc tế, bình đẳng với các nước khác và có toàn
quyền tự chủ trong những sinh hoạt phục vụ lợi ích của mình. Mỗi nước có
6
được thừa nhận như một thực thể độc lập, có chủ quyền pháp lý ngang hàng
với các nước khác. Và chỉ khi vừa là thành viên, vừa là chủ thể trong một hệ
thống quản trị quốc tế, một quốc gia mới có thể khắc phục được những vấn đề
vượt quá biên giới lãnh thổ của mình, bảo vệ quyền lợi của dân tộc và đáp
ứng định nghĩa của chủ quyền thực tiễn. Từ những nội dung trên, việc nghiên
cứu vấn đề liên quan đến chủ quyền lãnh thổ quốc gia có ý nghĩa vô cùng
quan trọng đối với mỗi quốc gia, để thực hiện được quyền năng chủ thể của
mình đối với cộng đồng quốc tế các quốc gia cần phải được các quốc gia khác
công nhận là quốc gia có chủ quyền.
1.1.2. Khái niệm giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ quốc gia
Hiện nay, hợp tác cùng phát triển trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ là xu hướng tất yếu mà các quốc gia lựa chọn. Tuy nhiên,
sự gia tăng của các quan hệ hợp tác quốc tế lại tiềm ẩn nguy cơ nảy sinh các
mâu thuẫn, bất đồng và có thể hiểu đó là các tranh chấp quốc tế. Tranh chấp
quốc tế là hoàn cảnh thực tế mà trong đó các chủ thể tham gia có những quan
điểm trái ngược hoặc mâu thuẫn nhau. Đó là sự không thoả thuận được với
nhau về quyền hoặc sự kiện, đưa đến sự mâu thuẫn, đối lập nhau về quan
điểm pháp lý hoặc quyền giữa các bên chủ thể luật quốc tế với nhau.
Tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ là một dạng của tranh chấp quốc tế.
Tranh chấp lãnh thổ quốc gia là một trong những tranh chấp phổ biến và vô
cùng phức tạp trong quan hệ giữa các nước và cũng là nguyên nhân chủ yếu
gây nên các xung đột và chiến tranh giữa các quốc gia. Giải quyết tranh chấp
về lãnh thổ hết sức phức tạp, cần phải nắm vững một số nội dung sau:
- Xác định rõ nguyên nhân của tranh chấp: do yếu tố lịch sử, chính trị,
kinh tế, xã hội …
8
- Nắm chắc tình hình thực tế (địa hình, cơ sở pháp lý, lịch sử, hiện tại
quốc tế, thẩm quyền của các cơ quan tài phán quốc tế thường phụ thuộc vào ý
chí của các bên tranh chấp trong việc chấp nhận trao cho những thiết chế đó
quyền giải quyết vụ việc xảy ra. Cơ quan tài phán quốc tế là những cơ quan
hình thành trên cơ sở thoả thuận hoặc thừa nhận của các chủ thể luật quốc tế
nhằm thực hiện chức năng giải quyết bằng trình tự, thủ tục tư pháp các tranh
chấp nảy sinh trong quá trình các chủ thể thực thi, tuân thủ luật quốc tế [1].
Trong lịch sử hoạt động, hình thức tài phán quốc tế đầu tiên tồn tại dưới
dạng trọng tài quốc tế. Người ta không biết chính xác phương thức trọng tài
bắt đầu xuất hiện từ khi nào, nhưng có thể khẳng định đây chính là hình thức
tiền thân của việc hình thành các tòa án sau này. Tòa trọng tài là một trong
những phương thức cổ xưa nhất để giải quyết bất hòa giữa người với người,
giữa quốc gia với quốc gia. Người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã biết sử dụng
phương thức này để giải quyết tranh chấp. Quy định sơ khai về trọng tài trong
luật mua bán hàng hóa cho phép các lái buôn được tự phân xử bất hòa của
mình không cần có sự can thiệp của Nhà nước. Về sau Luật La Mã cho phép
mở rộng phạm vi tranh chấp, không chỉ trong biên giới lãnh thổ, mà còn ở
những nước La Mã có trao đổi hàng hóa, có nghĩa là trải rộng trên hầu khắp
lục địa Châu Âu.
Trước thế kỷ XX, hình thái của cơ quan tài phán quốc tế là các trọng tài
vụ việc (ad hoc). Công ước Lahaye 1899 lần đầu tiên đã trù định việc thành
lập một cơ quan tài phán quốc tế thường trực, theo đó Toà án trọng tài thường
trực được thành lập năm 1900 và đi vào hoạt động từ năm 1902 [12]. Tuy
nhiên, đây chỉ là một danh sách các trọng tài viên thường trực, có thể được
các quốc gia lựa chọn khi giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng việc sử dụng
biện pháp này. Các cơ quan tài phán quốc tế thực chất là loại hình tài phán do
các chủ thể luật quốc tế thành lập và lựa chọn sử dụng với tính chất là công
cụ pháp lý khi nhu cầu bảo vệ lợi ích được đặt ra, vai trò của các cơ quan tài
10
trọng tài nếu thấy phán quyết đó bất lợi cho mình. Hạn chế này đã được khắc
phục trong Luật năm 1697.
Trong Hiệp ước Jay năm 1794, Anh và Mỹ đã thống nhất đưa các vấn
đề còn đang tranh chấp liên quan đến các khoản nợ và biên giới ra giải quyết
ở trọng tài. Việc giải quyết tranh chấp này kéo dài 7 năm, và được coi là kết
thúc thành công.
Từ đầu thế kỷ XX, các nước (trong đó có Pháp và Mỹ) bắt đầu thông
qua các đạo luật quy định và khuyến khích việc phân xử ở cấp trọng tài thay
cho kiện tụng ở tòa án vốn được cho là kém hiệu quả hơn.
Trong quan hệ quốc tế, tòa trọng tài giải quyết tranh chấp phát sinh từ các
quan hệ mang tính liên quốc gia là một trong số thiết chế tài phán, thuộc sự
lựa chọn của các quốc gia. Tòa trọng tài là cơ quan tài phán quốc tế được các
quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận thành lập, trên cơ sở
điều ước quốc tế (hoặc điều khoản) về trọng tài nhằm giải quyết tranh chấp
phát sinh giữa các bên.
Như vậy, tòa trọng tài không có thẩm quyền đương nhiên. Cơ sở xác định
thẩm quyền của trọng tài là sự nhất trí của các bên tranh chấp về việc đưa vụ
tranh chấp ra giải quyết tại tòa trọng tài. Sự nhất trí này phải được thể hiện
một cách rõ ràng, minh bạch trong một điều ước quốc tế về trọng tài. Điều
ước quốc tế về trọng tài có thể là điều ước quốc tế song phương hoặc đa
phương. Ngoài việc thể hiện rõ ràng sự nhất trí của các bên về việc giải quyết
tranh chấp thông qua trọng tài, nội dung của các điều ước quốc tế này đồng
thời xác định thẩm quyền, trình tự thành lập tòa trọng tài, đối tượng tranh
chấp, thủ tục xét xử, nguồn luật được tào trọng tài áp dụng, thủ tục đưa ra
phán quyết và nghĩa vụ của các bên phảI tuân thủ phán quyết trọng tài. Trong
một số trường hợp, sự nhất trí về việc thành lập tòa trọng tài để giải quyết
12
Ngoài các nguyên tắc và quy phạm của luật quốc tế, trong một số
trường hợp, nếu điều ước quốc tế về trọng tài mà các bên ký kết có quy định
về khả năng viện dẫn các loại nguồn khác nhau như pháp luật quốc gia, các
nguyên tắc chung hoặc một quy định đặc biệt nào đó thì toà trọng tài có thể áp
dụng các nguồn này để giải quyết tranh chấp.
1.2.2. Phân loại trọng tài quốc tế
Trên thực tế có một số loại toà trọng tài sau đây
Căn cứ vào thành phần của toà trọng tài, toà trọng tài được chia thành
Toà trọng tài cá nhân và Toà trọng tài tập thể. Toà trọng tài cá nhân là toà chỉ
có duy nhất một trọng tài viên. Toà trọng tài tập thể là toà có từ ba trọng tài
viên trở lên
Căn cứ vào tính chất hoạt động, toà trọng tài được chia thành toà trọng
tài thường trực và toà trọng tài vụ việc. Toà trọng tài thường trực (Toà quy
chế) là toà được thành lập để giải quyết các tranh chấp một các thường xuyên.
Các toà này có quy chế hoạt động, thủ tục rõ ràng và có trụ sở. Ví dụ, Toà
trọng tài thường trực Lahaye. Toà trọng tài vụ việc (hay còn gọi là toà Ad
hoc) là những toà được thành lập để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và
sau khi vụ việc được giải quyết xong toà sẽ chấm dứt hoạt động. Ví dụ, Toà
trọng tài được thành lập năm 1988 để giải quyết tranh chấp lãnh thổ giữa Ai
cập và Ixaren.
Căn cứ vào thẩm quyền giải quyết tranh chấp, toà trọng tài được chia
thành toà trọng tài có thẩm quyền chung và toà trọng tài có thẩm quyền
chuyên môn. Toà trọng tài có thẩm quyền chung là toà có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp phát sinh trong tất cả các lĩnh vực hợp tác giữa các chủ thể
của luật quốc tế, cụ thể gồm 3 loại sau:
* Toà trọng tài thường trực Lahaye (PCA) được thành lập trên cơ sở Công
ước Lahaye 1899 và 1907 về hoà bình giải quyết các tranh chấp quốc tế. Toà
Dưới Hội đồng điều hành có Ban thư ký. Ban thư ký có trách nhiệm lập
danh sách các trọng tài viên dựa trên sự đề cử của các quốc gia. Mỗi quốc gia
thành viên Công ước được đề cử không quá 4 trọng tài viên với nhiệm kỳ 6
năm. Các trọng tài viên này phải là những cá nhân có hiểu biết chuyên sâu về
luật quốc tế, có kinh nghiệm, uy tín và luôn sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ của
trọng tài viên. Khi phát sinh tranh chấp, từ danh sách trọng tài viên của Ban
thư ký (hiện nay có khoảng 300 trọng tài viên), mỗi bên tranh chấp có quyền
chỉ định hai trọng tài viên tham gia Hội đồng trọng tài (trong đó có thể cho
một người là công dân nước mình). Các trọng tài viên này sẽ tiếp tục chỉ định
trọng tài viên thứ năm làm Chủ tịch Hội đồng trọng tài. Phán quyết của Hội
đồng trọng tài được thông qua theo nguyên tắc đa số. Phán quyết này có giá
trị chung thẩm và bắt buộc đối với tất cả các bên.
Hiện nay, có khoảng 108 quốc gia là thành viên của Toà Trọng tài. Trong
đó, có 5 quốc gia thuộc ASEAN đó là Thái Lan (1900), Lào (1955), Cam-puchia (1956), Singapore (1993), Malaysia (2002).
Toà Trọng tài thường nhóm họp mỗi năm một lần tại LaHay. Ngôn ngữ sử
dụng chính thức là Tiếng Anh và Tiếng Pháp. Với tính chất linh động, Toà
trọng tài có thể tổ chức xét xử tại khắp mọi nơi trên thế giới và không có thời
gian cụ thể cho mỗi vụ việc. Ví dụ: Vụ xét xử phân định biên giới giữa
Ethiopia – Eritrea là 13 tháng, nhưng đối với Guyana-Suriname là 3,5 năm.
Vì Toà không phải là cơ quan tài phán có thẩm quyền bắt buộc và cũng
không phải là cơ quan tài phán duy nhất mà các bên tranh chấp có thể lựa
chọn. Để khắc phục phần nào những bất cập nêu trên, từ năm 1992, Toà trọng
tài thường trực Lahay đã ban hành hàng loạt quy định nhằm mở rộng thẩm
quyền cũng như hoàn thiện thủ tục tố tụng tại Toà.
* Toà trọng tài quốc tế về Luật Biển (Phụ lục VII công ước Luật biển
1982) là Toà trọng tài có thẩm quyền chuyên môn, chỉ có thẩm quyền giải
quyết các tranh chấp trong một hoặc một số các lĩnh vực hợp tác nhất định.
giải quyết bằng nhiều biện pháp khác nhau và một trong số các biện pháp đó
là việc sử dụng hình thức tài phán quốc tế. Việc giải quyết tranh chấp bằng
17
trọng tài là cách thức hoà bình để giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các
phương pháp, thủ tục tư pháp, do chính các quốc gia tự lựa chọn. Tuy nhiên,
trên thực tế các quốc gia thường phân loại và sử dụng cách thứ (3) để phân
loại trọng tài. Nội dung đề tài sẽ đi sâu vào việc phân tích cơ chế hoạt động và
giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ của 2 loại trọng tài: Trọng tài
thường trực LaHaye và Trọng tài quốc tế về luật biển theo Phụ lục VII công
ước Luật biển 1982
Tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày
càng được thừa nhận rộng rãi, đặc biệt là trong các thập kỷ gần đây. Các quốc
gia sửa đổi luật pháp về trọng tài cho phù hợp với tình hình thực tế; các điều
ước quốc tế về trọng tài đang có thêm những thành viên mới; trọng tài trở
thành một môn học trong chương trình đào tạo ngành luật; các doanh nghiệp
ngày càng tin tưởng vào một phương thức giải quyết tranh chấp linh hoạt,
công bằng, với phán quyết được công nhận rộng rãi trên phạm vi thế giới.
1.2.3. Vai trò của phương thức trọng tài trong việc giải quyết tranh
chấp chủ quyền lãnh thổ quốc gia
Trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế giữa các quốc gia, đặc biệt là
tranh chấp liên quan đến chủ quyền lãnh thổ thì trọng tài là một trong cơ chế
thường xuyên được áp dụng bởi những ưu điểm của phương thức này. Các
bên có quyền lựa chọn trọng tài viên. Thủ tục mềm dẻo linh hoạt và do các
bên tự thỏa thuận. Các bên có quyền lựa chọn trọng tài viên tham gia hội đồng
trọng tài, thủ tục tố tụng do các bên tự thoả thuận (không được quy định trong
điều lệ hoặc quy chế). Tiết kiệm thời gian và các chi phí khác, các bên có thể
thoả thuận đưa ra các quy định tố tụng đơn giản, linh hoạt cho phép rút ngắn
quá trình đưa ra phán quyết. Do đó, phán quyết trọng tài khi đưa ra sẽ kịp thời