Biển Đảo Việt Nam: Tài nguyên và nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia
Bài Tiểu Luận
Bộ Môn: Giáo Dục Quốc Phòng
Chủ Đề
Biển Đảo Việt Nam: Tài nguyên biển đảo Việt Nam
và Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia
Sinh viên: Hà Thị Trang
MSV:08a14498
Lớp: TC13-04
Trường: ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ Hà
Nội
Hà Thị Trang –TC13-04
1
ĐH Kinh Doanh và Công Ngệ Hà Nội
Biển Đảo Việt Nam: Tài nguyên và nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia
Hà Thị Trang –TC13-04
2
ĐH Kinh Doanh và Công Ngệ Hà Nội
quyền bao gồm các đảo, quần đảo, các vùng đặc quyền kinh tế biển rộng gấp
3 lần đất liền, Việt Nam là một quốc gia biển và là quốc gia đúng thứ 10 thế
giới về tỷ lệ sở hữu biển (cứ 100km trên đất liền có 1km ven biển ). Không
chỉ chứa đựng tiềm năng kinh tế to lớn và là cửa ngõ để ta mở rộng giao
thương với quốc tế, biển còn đóng vai trò quan trọng trong an ninh, quốc
phòng, là địa bàn chiến lược trọng yếu trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc.
1. Hệ thống biển đảo ven bờ Việt Nam
Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam gồm 2773 hòn đảo lớn nhỏ với diện tích
1720km2, trong đó các đảo nhỏ ( nhỏ hơn 0.5 km2 ) chiếm hơn 97% và chủ
yếu tập trung ở vùng biển ven bờ vịnh Bắc Bộ Việt Nam là những núi đá
vôi, địa hình thấp, chịu nhiều tác động của các quá trình phong hóa hóa học,
tạo nên một quần thể đảo có kiến trúc đặc sắc: các sườn, vách dốc đứng với
các đỉnh sắc nhọn, hoặc các khối đổ lở chồng chất và các hốc đá sóng vỗ một cảnh quan độc nhất vô nhị trong y nghĩa toàn cầu về giá trị địa chất và
địa mạo vung đá vôi karst với các tên huyền thoại “ Di sản thiên nhiên thế
giới Vịnh Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long”
Các đảo lớn từ 1km2 trở lên có 84 đảo, trong đó có 24 đảo có diện tích từ
10km2 đến 557km2, chiếm 82% tổng diện tích tự nhiên các đảo
( 1413km2/1720km2), phân bổ rải rác từ vùng ven bờ Quảng Ninh – Hải
Phòng đến vùng biển ven bờ Tây Nam là những đồi núi thấp, bất đối xứng.
Sườn thoải ( thường là sườn khuất gió, ít chịu tác động của các quá trình
động lực biển) phát triển theo bề mặt các lớp đá có thể nằm nghiêng, có các
bề mặt san bằng và các bậc thềm mài mòn trên những độ cao khác nhau
300m, 200m, 100m,70m, 50m, 30m, 20m. Dưới chân đảo là những cung bờ
lõm với các địa hình tích tụ cát thạch anh trắng mịn, là những bãi tắm ly
tưởng với những kich thước khác nhau như vài chục mét đến vài trăm mét
thậm chí vài ba nghìn mét ( Cô Tô, Ngọc Vừng, Cái Bầu,Phú Quốc, Phú
Hà Thị Trang –TC13-04
4
quân sự nước CHXHCN Việt Nam quần đảo trường xa co thể chia ra thành
chín cụm kể từ Bắc xuống Nam :
a.Cụm Song Tử gồm 2 đảo, đá, 2 bãi
• Song Tử Đông nằm ở 11độ 255’ vĩ B , 114 độ 20’ kinh Đ. Hơi tròn,
diện tích 20 acres, dài 900m, rộng 250m , cao độ 3m.
• Song Tử Tây nằm ở 11 độ 255’ vĩ B , 114 độ kinh Đ. Hình lưỡi liềm,
diện tích nhỏ hơn Song Tử Đông , dài 700m, rộng 300m .
Đây là hai hòn đảo sinh đôi nằm ở cực Bắc của quần đảo Trường Sa ngang
vĩ độ với Phan Giang , Ninh Thuận
b. Cụm Đảo Thị Tứ
Ở phía Nam cụm Song Tử gồm có đảo Thị Tứ và các bãi đá. Đảo Thị Tứ
nằm ở phía Đông Bắc của đảo Trường Sa do san hô tạo thành lẫn với cát
Hà Thị Trang –TC13-04
5
ĐH Kinh Doanh và Công Ngệ Hà Nội
Biển Đảo Việt Nam: Tài nguyên và nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia
trắng và đá vôi , đảo có hình bầu dục, bề ngang 550m, dài 700m, có giếng
nước ngọt.Phía bắc đảo có bãi đá Hoài An , Tri Lễ, Vĩnh Hảo , phía Nam
đảo là đá Xubi cách đảo Thị Tứ chừng 14 hải lý.
c.Cụm Loai Ta
Phía Đông cụm thị tứ gồm đảo Loai Ta phía dưới và cồn san hô Lancan hay
An Nhơn( 10 độ vĩ B và 114 độ 24 kinh Đ) ở phía Đông. Đảo hình tròn
đường kính 300m, cao chừng 2m. cụm còn có đá An Lão, Bãi Đường, bãi
An Nhơn Bắc, Bãi Loai Ta Bắc , Bãi Loai Ta Nam. Phía đông cụm có đảo
Biển Đảo Việt Nam: Tài nguyên và nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia
Phần hai: Tài Nguyên Biển Đảo Việt Nam
Với lợi thế về vị trí địa lí và bề dày lịch sử, biển nước ta không chỉ có vai trò
trong chính trị trọng yếu , mà còn có vị trí kinh tế quan trọng với nguồn sản
vật và sản phẩm biển phong phú đa dạng.
Theo đánh giá của PGS.TSKH Nguyễn Văn Cư, Tổng cục trưởng tổng cục
biển và hải đảo : Tiềm năng tài nguyên biển của Việt Nam là rất lớn và có ý
nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, đặc biệt là dầu khí, hải
sản và giao thông vận tải thủy.
Tài nguyên biển Việt Nam bao gồm các loại tài nguyên chính sau đây:
1. Khoáng sản
Hiện trong vùng
biển nước ta có khoảng
35 loại hình khoáng sản
có qui mô trữ lượng khác
nhau từ nhỏ đến lớn,
thuộc các nhóm nhiên
liệu, kim loại, vật liệu
xây dựng, đá quý và bán
đá quý, khoáng sản lỏng.
Dọc theo các ven biển đã
phát hiện ra các sa
khoáng , khoáng vật
nặng và 50.000-60.000
ha ruộng muối. Đặc
biệt , sự phát hiện mới
đây ở vùng cát ven biển
Biển nước ta còn có 2.028 loài cá biển, trong đó có 102 loài có giá trị kinh tế
cao, 650 loài rong biển, 300 loài thân mềm, 300 loài cua, 90 loài tôm, 350
loài san hô …. Biển nước ta có trữ lượng cá khoảng 1,9 triệu tấn, tầng đáy
có trữ lượng 1,7 triệu tấn. Ngoài ra, còn có 40.000 ha san hô ven bờ,
250.000 ha rừng ngập mặn ven biển có sự đa dạng sinh học cao .Trong đó có
3 khu sinh quyển thế giới là: vườn quốc gia Xuân Thủy ( Nam Định ), rừng
Sác cần Giờ ( TP HồChí Minh), vườn quốc gia Cát Bà ( Hải Phòng).Đồng
thời nước ta còn có 290. 000 ha triệu lầy,100.000 ha đầm phá.
3.Hệ sinh thái biển ở Việt Nam
Đến nay, trong vùng biển nước ta đã phát hiện được chừng 11.000 loài
sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình. Các loài sinh vật đó
thuộc về 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau, trong đó có 3 vùng biển:
Móng Cái- Đồ Sơn, Hải Vân- Đại Lãnh và Đại Lãnh- Vũng Tàu có mức độ
đa dạng sinh học cao hơn các vùng khác. Trong tổng số loài được phát hiện
có khoảng 6.000 loài động vật đáy; 2.038 loài cá (trong đó có hơn 100 loài
cá kinh tế); 653 loài rong biển; 657 loài động vật phù du; 537 loài thực vật
phù du; 94 loài thực vật ngập mặn; 225 loài tôm biển; 14 loài cỏ biển; 15
loài rắn biển; 12 loài thú biển; 5 loài rùa biển và 43 loài chim nước
-Thiên đường của hệ sinh thái biển
Tuy không sở hữu hệ sinh thái biển dồi dào như quần đảo Galapagos của
Ecuado, Việt Nam cũng có nguồn động thực vật biển phong phú và quý
hiếm. Một trong hòn đảo có hệ sinh thái biển phong phú và quý hiếm là Côn
Đảo. Điển hình là loài Dugon (dân địa phương gọi là bò biển), rùa biển, cá
heo,... Trên 1.300 loài sinh vật biển được xác định ở đây. Nhiều du khách
Hà Thị Trang –TC13-04
8
Phú Quốc là một trong hai vùng biển duy nhất ở Việt Nam còn tồn tại loài
Dugon thu hút được sự quan tâm đặc biệt của khách du lịch và các nhà khoa
học.
Thành công trong loại hình du lịch này phải kể đến “Tour du lịch sinh thái
Hòn Mun” do Trung tâm du lịch sinh thái và giáo dục môi trường Hòn Mun
thuộc Ban quản lý Khu bảo tồn biển (BTB) Hòn Mun tổ chức. Địa thế của
đảo gần với dòng hải lưu nóng từ phía xích đạo đưa tới, rất thích hợp với
điều kiện phát triển của rạn san hô và nhiều loại sinh vật biển nhiệt đới về
đây quần tụ. Đáy biển vùng Hòn Mun là một tập hợp quần thể sinh vật biển
phong phú, đa dạng, là nơi quan sát, nghiên cứu lý thú, bổ ích cho các nhà
sinh vật biển nhiệt đới, hải dương học và du khách muốn tìm hiểu vể biển
Hầu hết các công ty lữ hành ở Việt Nam đều có chương trình tour khám phá
Hà Thị Trang –TC13-04
9
ĐH Kinh Doanh và Công Ngệ Hà Nội
Biển Đảo Việt Nam: Tài nguyên và nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia
hệ sinh thái biển ở các vùng biển đảo của Việt Nam. Đến với Việt Nam, du
khách không chỉ tận hưởng cảm giác yên bình, thoải mái trên những bãi biển
xanh rì cát trắng mà còn được khám phá cuộc sống thiên nhiên đầy thú vị
của những loài động thực vật biển
Phần Ba: Nhiệm Vụ Bảo Vệ Chủ Quyền Lãnh Thổ
Quốc Gia
Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Biển Đảo Việt Nam: Tài nguyên và nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia
với lực lượng, thế trận an ninh nhân dân trên các vùng biển, đảo; xây dựng
biên chế tổ chức lực lượng phù hợp, bảo đảm chất lượng đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ, nâng cao tiềm lực, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với
lực lượng và thế trận an ninh trên các vùng biển, đảo; chăm lo xây dựng thế
trận lòng dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện “quân với
dân một ý chí”; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy mạnh phát triển
kinh tế biển, cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân,
hạn chế tiêu cực, tạo sự đồng thuận xã hội... Tận dụng mọi tiềm năng, thế
mạnh của biển, đảo, động viên, thu hút mọi nguồn lực để phát triển kinh tế,
tăng cường quốc phòng, an ninh trên biển; cả nguồn lực trong nước và
nguồn lực ngoài nước, vừa hợp tác vừa đấu tranh, giữ vững môi trường hòa
bình, ổn định để phát triển kinh tế biển và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển,
đảo.
Tính chất nhất quán của quốc phòng Việt Nam là: Tự vệ, chính nghĩa,
quốc phòng hòa bình, dựa vào sức mạnh của cả hệ thống chính trị và của
toàn dân, LLVT làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong bối cảnh
tình hình quốc tế và khu vực hiện nay đòi hỏi phải tập trung xây dựng các
lực lượng: Hải quân, Phòng không-Không quân, Pháo binh, Cảnh sát biển,
Biên phòng, Dân quân tự vệ biển... có số lượng hợp lý, chất lượng cao; trong
đó, các binh chủng kỹ thuật chiến đấu được trang bị ngày càng hiện đại, đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biển, đảo, là chỗ dựa vững chắc cho
các hoạt động phát triển kinh tế biển trong thời bình, đồng thời đáp ứng
nhiệm vụ tác chiến trên biển trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp chính trị, ngoại giao,
pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo.
Nguyện vọng và cũng là lợi ích cao nhất của dân tộc Việt Nam là giữ
vững môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển… Trước tình
sử và đảo; xây dựng vùng biển hòa bình, ổn định và hợp tác cùng phát triển.
Ba là, phát triển kinh tế biển phải gắn với quản lý vùng trời, bảo vệ biển,
đảo, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân
dân vững chắc trên biển.
Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: "Phát triển kinh tế biển toàn diện,
có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh
tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng-an ninh (QP-AN) và
hợp tác quốc tế”; Nghị quyết về Chiến lược biển Việt Nam, xác định: “Chiến
lược biển phải kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội với
bảo đảm quốc phòng, an ninh…”.
Phát triển kinh tế biển phải gắn với quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo,
xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân,
thực chất là quan điểm chỉ đạo: Kết hợp kinh tế với QP-AN, tăng cường sức
mạnh QP-AN bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới. Mục đích kết
hợp giữa kinh tế với quốc phòng, giữa xây dựng thế trận quốc phòng với thế
trận an ninh là làm cho kinh tế và quốc phòng đều mạnh, không làm cản trở
nhau, tạo ra sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi mục tiêu Chiến lược biển
Việt Nam mà Đảng ta đã xác định.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung,
phát triển năm 2011 tại Đại hội XI của Đảng) chỉ rõ: “Kết hợp chặt chẽ kinh
tế với QP-AN; QP-AN với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch, chính sách phát triển kinh tế-xã hội và trên từng địa bàn”. Như vậy,
nội dung của sự kết hợp đó phải được triển khai tổ chức thực hiện cụ thể ở
Hà Thị Trang –TC13-04
12
ĐH Kinh Doanh và Công Ngệ Hà Nội
cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), nhằm sớm tìm kiếm giải pháp
cơ bản và lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của các bên, tiến tới xây dựng
Biển Đông thành vùng biển hòa bình, hợp tác và phát triển.
Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu
thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của quốc gia… Nhiệm vụ bảo vệ toàn
vẹn chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc rất nặng nề, đòi hỏi phải thường xuyên
quán triệt, nắm vững các quan điểm tư tưởng của Đảng, tổ chức triển khai
thực hiện chủ động, sáng tạo trong thực tiễn ở mọi cấp, ngành và toàn dân;
Hà Thị Trang –TC13-04
13
ĐH Kinh Doanh và Công Ngệ Hà Nội
Biển Đảo Việt Nam: Tài nguyên và nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia
phát huy cao nhất vai trò nòng cốt của các LLVT nhân dân, tạo sức mạnh
tổng hợp bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong giai đoạn
cách mạng mới.
Bộ đội biên phòng là lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng, của Nhà
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là một thành phần của Quân đội
nhân dân Việt Nam, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà
trực tiếp là Đảng uỷ Quân sự Trung ương, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước,
sự thống nhất quản lý của Chính phủ và sự quản lý, chỉ huy của Bộ Quốc
phòng.
Theo Pháp lệnh Bộ đội biên phòng được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
thông qua ngày 28 tháng 03 năm 1997,, nhiệm vụ chính của Bộ đội biên
dựa vào nhân dân xây dượng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện biên giới vững
mạnh; sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu chống gây xung đột vũ trang và chiến
tranh xâm lược.
- Trực tiếp và phối hợp với các đơn vị khác của lực lượng vũ trang nhân
dân, các ngành chức năng của Nhà nước đấu tranh chống buôn lậu, vận
chuyển trái phép vũ khí, chất cháy, chất nổ, chất độc hại, ma tuý, văn hoá
phẩm độc hại, hàng hoá cấm xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới trên đất
liền, các hải đảo, vùng biển theo quy định của pháp luật.
- Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách dân tộc, chính
sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, tham gia xây dựng cơ sở chính trị,
phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, xây dựng nền biên phòng toàn
dân, thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh trong thế trận quốc phòng toàn
dân và thế trận an ninh nhân dân ở khu vực biên giới.
Hà Thị Trang –TC13-04
15
ĐH Kinh Doanh và Công Ngệ Hà Nội