ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------
PHẠM ĐỨC NGHĨA
NGUYÊN TẮC ỨNG XỬ NGOẠI GIAO CỦA HỒ CHÍ MINH
VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG VIỆC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN
LÃNH THỔ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------
PHẠM ĐỨC NGHĨA
NGUYÊN TẮC ỨNG XỬ NGOẠI GIAO CỦA HỒ CHÍ
MINH VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG VIỆC BẢO VỆ CHỦ
QUYỀN LÃNH THỔ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số : 60 31 27
Người hướng dẫn: PGS. TS Trần Minh Trưởng
PHẦN MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.................................................................................................1
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.......................................................................5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................................6
5. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................6
6. Đóng góp của luận văn........................................................................................6
7. Kết cấu của luận văn..........................................................................................7
Chương 1......................................................................................................................8
NHỮNG NGUYÊN TẮC ỨNG XỬ NGOẠI GIAO..................................................8
CỦA HỒ CHÍ MINH...................................................................................................8
1.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của ngoại giao trong việc bảo vệ
độc lập, chủ quyền dân tộc.....................................................................................8
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản...............................................................................8
1.2.1.4. Tố chất và bản lĩnh ngoại giao Hồ Chí Minh..........................................24
1.2.2. Những nguyên tắc ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh...............................26
1.2.2.1. Nguyên tắc đặt lợi ích chân chính của dân tộc, của nhân dân lên trên
hết...........................................................................................................................26
1.2.2.5. Nguyên tắc ứng xử ngoại giao phải thể hiện quan điểm độc lập, chủ
động, không trông chờ, ỷ lại, không phụ thuộc bên ngoài...................................35
1.2.2.6. Nguyên tắc ứng xử tôn trọng luật pháp và thông lệ quốc tế...................38
1.2.2.7. Nguyên tắc ứng xử bình đẳng, cùng có lợi trong quan hệ ngoại giao....40
Chương 2....................................................................................................................44
VẬN DỤNG NHỮNG NGUYÊN TẮC ỨNG XỬ NGOẠI GIAO..........................44
CỦAHỒ CHÍ MINH ĐỂ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ............................44
VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY......................................................44
2.1. Tình hình thế giới và trong nước tác động tới hoạt động ngoại giao bảo vệ
chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam hiện nay..........................................................44
2.1.1. Tình hình thế giới..........................................................................................44
2.1.2. Tình hình trong nước.....................................................................................49
2.2. Vận dụng nguyên tắc ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh để bảo vệ chủ
và kim chỉ nam hành động của toàn Đảng”. Đảng ta đã nhận thức được
những giá trị có ý nghĩa chiến lược, đúng đắn và phù hợp với thực tế cách
mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngày nay, trước yêu cầu của
tình hình mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội Chủ nghĩa trong xu thế toàn
cầu hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ, các mối quan hệ ngoại giao giữa các
quốc gia – dân tộc và vùng lãnh thổ ngày càng gia tăng; hoạt động ngoại giao,
hội nhập và mở cửa không chỉ có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
mà còn tạo ra thế và lực góp phần quan trọng trong việc bảo vệ toàn vẹn chủ
quyền lãnh thổ của đất nước. Thực tế đã cho thấy những luận điểm trong tư
tưởng của Hồ Chí Minh về ngoại giao được Đảng ta vận dụng trong quan hệ
quốc tế hiện nay đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ càng chứng tỏ tính đúng
đắn trong tư tưởng ngoại giao của Người. Qua đó, chúng ta có thể khẳng định
tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh thực sự là kho tàng lý luận, là cẩm nang cho
hoạt động ngoại giao và quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước ta.
Trong giai đoạn hiện nay, trước xu thế quốc tế hóa nền kinh tế xã hội
thế giới, các mối quan hệ quốc tế ngày càng phát triển đa dạng và phong phú,
mang nhiều sắc thái và nội dung mới. Giao lưu và hội nhập quốc tế vừa là
thời cơ, vừa là thách thức đối với tất cả các nước không phân biệt chế độ
chính trị, giàu - nghèo, mạnh – yếu. Đối với Việt Nam, một nước nhỏ, tiềm
lực kinh tế và khoa học kĩ thuật còn thấp kém, muốn rút ngắn khoảng cách tụt
hậu so với thế giới để phát triển kinh tế xã hội của đất nước đòi hỏi phải phát
huy mạnh mẽ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp giữa sức mạnh
dân tộc với sức mạnh của thời đại. Do vậy, Đảng ta xác định một trong những
định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta là “mở cửa và
hội nhập”, đẩy mạnh việc quan hệ ngoại giao với tất cả các nước trong cộng
1
đồng quốc tế, với phương châm “đa phương hóa, đa dạng hóa” các mối quan
hệ quốc tế. Trước bối cảnh hội nhập đó đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần phải có
vận dụng của Đảng ta trong thời kì đổi mới” của TS. Đinh Xuân Lý, Nxb
CTQG, 2007, tác giả đã đi sâu vào việc tìm hiểu những nội dung tư tưởng Hồ
Chí Minh về đối ngoại, thành tựu của hoạt động đối ngoại Việt Nam dưới sự
lãnh đạo của Hồ Chí Minh, quá trình Đảng ta nhận thức và vận dụng tư tưởng
đối ngoại Hồ Chí Minh trong thời kì đổi mới; cuốn sách “ Phương pháp và
phong cách Hồ Chí Minh” của GS. Đặng Xuân Kỳ, Nxb LLCT, 2004 cũng đã
trình bày một số vấn đề có liên quan đến khái niệm “phương pháp” và “phong
cách” Hồ Chí Minh, tác giả xây dựng hệ thống các phương pháp cách mạng
và hệ thống các phong cách đặc trưng tiêu biểu của Hồ Chí Minh, từ đó tác
giả cũng khẳng định tầm quan trọng của việc nghiên cứu và vận dụng sáng
tạo phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh; cuốn sách “Tư tưởng ngoại
giao Hồ Chí Minh” của nguyên Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Dy Niên,
Nxb CTQG, 2002 đã đi sâu vào việc tìm hiểu một số vấn đề về nguồn gốc
hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, trình bày những luận điểm và
quan điểm của Hồ Chí Minh về các vấn đề thế giới, thời đại, quan hệ quốc tế,
chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, ngoại giao Việt Nam,
đưa ra một số phương pháp, phong cách và nghệ thuật đặc sắc trong hoạt
động quốc tế và ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và sự vận dụng tư
tưởng, phong cách, phương pháp và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh nhằm
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập quốc
tế của nước ta trong giai đoạn mới, tác giả còn khẳng định sự cần thiết phải
xây dựng một hệ thống lý luận ngoại giao và trường phái ngoại giao Việt
Nam đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ đối ngoại ngày càng cao của đất nước;
công trình nghiên cứu: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại - Một số nội
dung cơ bản, của Đỗ Đức Hinh, Nxb CTQG, 2005 nội dung cuốn sách phản
ánh một cách khái quát, có hệ thống những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về đối ngoại qua đó rút ra một số nhận xét ban đầu về tư tưởng đối
ngoại Hồ Chí Minh. Trong công trình nghiên cứu “Hồ Chí Minh - Nhà tư
tưởng lỗi lạc” của GS. Song Thành cũng đã bàn tới “tư tưởng và phong cách
3
Khơrútsốp (1971): Hồi ký, NXB. Robert Lafont Paris; Jean - Bapmisme du
roselle (1994) Lịch sử ngoại giao từ 1919 đến nay, Học viện Quan hệ quốc
tế, Hà Nội…
Các kết quả nghiên cứu nói trên là những công trình nghiên cứu công
phu, nhiều công trình có giá trị tin cậy về mặt tư liệu, đề cập đến tư tưởng
ngoại giao của Hồ Chí Minh ở từng khía cạnh và sự vận dụng cũng ở những
góc độ khác nhau. Những công trình nghiên cứu đó đã gợi mở cho tác giả
hướng nghiên cứu mới về các nguyên tắc ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh
với sự vận dụng trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Việt Nam hiện nay. Hiện tại,
chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp và hệ thống quan
điểm của Hồ Chí Minh về các nguyên tắc ứng xử ngoại giao Hồ Chí Minh và
vận dụng những nguyên tắc đó dưới góc độ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của
nước ta giai đoạn hiện nay. Do vậy, đề tài: “Nguyên tắc ứng xử ngoại giao
của Hồ Chí Minh và sự vận dụng trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Việt
Nam giai đoạn hiện nay” là một đề tài mới, vấn đề mà đề tài nêu ra hiện nay
vẫn là một khoảng trống trong nghiên cứu khoa học về tư tưởng ngoại giao
Hồ Chí Minh.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu:
+ Nhằm đề xuất và làm rõ hệ thống những luận điểm về nguyên tắc
ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh.
+ Vận dụng những nguyên tắc ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh để
đưa ra cách thức ứng xử ngoại giao với một số chủ thể trong quan hệ quốc tế,
nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Qua đó nêu lên
một số kinh nghiệm mang tính chất giải pháp về chính sách ngoại giao trong
việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Viện Nam hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu làm rõ cơ sở hình thành và nội dung những nguyên tắc
đất nước trong giai đoạn hiện nay. Qua đó cũng đề xuất một số kinh nghiệm
trong hoạt động ngoại bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam hiện nay.
6
Luận văn là một công trình khoa học, có thể làm tài liệu tham khảo cho
việc nghiên cứu, giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao; là tài liệu
cho sinh viên chuyên ngành ngoại giao và quan hệ quốc tế.
Luận văn là tài liệu tham mưu cho hoạt động ngoại giao của các cá
nhân chức trách và các tổ chức làm công tác ngoại giao của Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo luận
văn bố cục gồm 02 chương:
Chương 1: Những nguyên tắc ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh
Chương 2: Vận dụng những nguyên tắc ứng xử ngoại giao của Hồ Chí
Minh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
7
Chương 1
NHỮNG NGUYÊN TẮC ỨNG XỬ NGOẠI GIAO
CỦA HỒ CHÍ MINH
1.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của ngoại giao trong việc bảo
vệ độc lập, chủ quyền dân tộc
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
“Nguyên tắc” là thuật ngữ chỉ “Điều cơ bản định ra, nhất thiết phải
tuân theo trong một loạt việc làm”[40,694]. Những vấn đề mang tính nguyên
tắc là không thể thay đổi, bất di bất dịch, đã được quốc tế thừa nhận, hoặc đó
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Khái niệm về “chủ quyền quốc gia dân tộc”: Chủ quyền quốc gia ở
đây được hiểu là chủ quyền Nhà nước dân tộc, được biểu hiện dưới dạng một
lượng quyền xác định, là tập hợp các quyền mà Nhà nước dân tộc có. Chủ
quyền quốc gia là một thuộc tính cố hữu, không tách rời Nhà nước dân tộc,
dưới dạng các quyền của Nhà nước.
Chủ quyền quốc gia dân tộc thông thường được biểu hiện trên hai mặt
chủ yếu chủ quyền trong đối nội và chủ quyền trong đối ngoại. Chủ quyền
trong đối nội như: quyền của quốc gia - dân tộc trên địa bàn lãnh thổ, thể chế
chính trị … chủ quyền trong đối ngoại như: quyền của quốc gia – dân tộc trên
chính trường quốc tế, trong các tổ chức quốc tế mà quốc gia đó là thành viên
(được tham gia hay bị hạn chế bởi các thể chế, chế định, luật pháp quốc tế)
Chủ quyền quốc gia được xem xét trên hai bình diện:
Một là: Thẩm quyền cai trị tuyệt đối của Nhà nước trong phạm vi lãnh
thổ Nhà nước dân tộc (Nhà nước dân tộc là Chủ thể trực tiếp thực hiện quyền
lực)
Hai là: Tập hợp những quy định hạn chế của xã hội công dân (của dân
tộc) đối với Nhà nước (Nhà nước dân tộc là chủ thể gián tiếp thực hiện quyền
lực, là vật mang quyền lực)
Khái niệm lãnh thổ quốc gia: Lãnh thổ quốc gia xuất hiện cùng với sự
ra đời của nhà nước. Ban đầu lãnh thổ quốc gia chỉ được xác định trên đất liền
dần dần mở rộng ra trên biển, trên trời và trong lòng đất. Lãnh thổ quốc gia:
9
Là một phần của trái đất. Bao gồm: vùng đất, vùng nước, vùng trời trên vùng
đất và vùng nước, cũng như lòng đất dưới chúng thuộc chủ quyền hoàn toàn
và riêng biệt của một quốc gia nhất định.
Các bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia.
- Vùng đất: Gồm phần đất lục địa, các đảo và các quần đảo thuộc chủ
lập pháp và tư pháp.
Nội dung chủ quyền lãnh thổ quốc gia: Lãnh thổ quốc gia thuộc chủ
quyền hoàn toàn riêng biệt của một quốc gia.
- Quốc gia có quyền tự lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội phù hợp với cộng đồng cư dân sống trên lãnh thổ mà không có sự can
thiệp áp đặt dưới bất kì hình thức nào từ bên ngoài.
- Quốc gia có quyền tự do lựa chọn phương hướng phát triển đất nước,
thực hiện những cải cách kinh tế, xã hội phù hợp với đặc điểm quốc gia.Các
quốc gia khác các tổ chức quốc tế phải có nghĩa vụ tôn trọng sự lựa chọn đó.
- Quốc gia tự quy định chế độ pháp lí đối với từng vùng lãnh thổ.
- Quốc gia có quyền sở hữu hoàn toàn tài nguyên thiên nhiên trên lãnh
thổ của mình.
- Quốc gia thực hiện quyền tài phán (xét xử) đối với những người thuộc
phạm vi lãnh thổ của mình (trừ những trường hợp pháp luật quốc gia , hoặc
điều ước quốc tế mà quốc gia đó tham gia là thành viên có quy định khác).
- Quốc gia có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thích hợp đối
với những Công ty đầu tư trên lãnh thổ mình.
- Quốc gia có quyền và nghĩa vụ bảo vệ, cải tạo lãnh tổ quốc gia theo
nguyên tắc chung quốc tế, có quyền thay đổi lãnh thổ phù hợp với pháp luật
và lợi ích của cộng đồng dân cư sống trên lãnh thổ đó.
1.1.2. Vai trò của ngoại giao trong việc bảo vệ độc lập, chủ quyền
dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nhìn lại chặng đường lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc dưới thời đại
Hồ Chí Minh, chúng ta nhận thấy Người rất quan tâm và chú trọng tới hoạt
động ngoại giao trong quá trình đấu tranh cách mạng giành độc lập của nước
nhà. Chính vì lẽ đó mà hoạt động ngoại giao của Hồ Chí Minh góp phần
11
không nhỏ trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc bảo vệ chủ quyền độc lập
cửa và hợp tác, chính sách hoà bình và quan hệ tốt; tránh đối đầu, và không
gây thù oán với một ai. Trong quan hệ với các nước, các tổ chức quốc tế, cần
tìm ra những điểm tương đồng, khai thác mọi khả năng có thể, nhằm tập hợp
lực lượng đoàn kết ủng hộ Việt Nam theo nhiều cấp độ. Trong hoạt động đối
ngoại phải phối hợp chặt chẽ giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế,
ngoại giao văn hoá...
Ngoại giao và quan hệ quốc tế của cách mạng Việt Nam là một trong
những nhân tố quyết định đến sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong
cuộc chiến chống thực dân xâm lược và thống trị.
Trong bối cảnh chủ nghĩa đế quốc câu kết với nhau, kẻ thù của các dân
tộc thuộc địa và phụ thuộc có tính chất quốc tế cao, chúng bắt tay hợp tác với
nhau cùng thống trị bóc lột các dân tộc thuộc địa và lệ thuộc, đòi hỏi các dân
tộc thuộc địa phải đoàn kết huy động mọi lực lượng vào cuộc đấu tranh chống
kẻ thù chung, không những thế các dân tộc thuộc địa phải biết đoàn kết và có
mối liên hệ với phong trào công nhân ở chính quốc. Bởi vì “ chủ nghĩa đế
quốc là một con đỉa hai vòi, một vòi bám vào chính quốc, một vòi bám vào
thuộc địa. Muốn đánh bại chủ nghĩa đế quốc phải đồng thời cắt bỏ cả hai cái
vòi của nó đi, tức là phải kết hợp cách mạng vô sản ở chính quốc với cách
mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, phải xem cách mạng vô sản ở thuộc địa
như là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản” [21,267]. Nhận thức
được vai trò của vũ khí đối ngoại trong giai đoạn chiến tranh hiện đại, Hồ Chí
Minh cho rằng “ngày nay ngoại giao ai thuận hơn thì thắng” [22,514]. Thông
qua hợp tác và quan hệ quốc tế, sẽ phát huy được thế mạnh, hạn chế được khó
khăn, quan hệ quốc tế là phương thức để kết hợp giữa sức mạnh dân tộc với
sức mạnh của thời đại, phát huy sức mạnh của mỗi quốc gia, thông qua đó
bảo vệ vững chắc được chủ quyền của dân tộc, bảo vệ và đem lại lợi ích cho
dân tộc
Bác tiếp tục khẳng định vai trò của ngoại giao, chủ quyền ngoại giao là
chuẩn mực, là biểu hiện của một nhà nước độc lập. Giai đoạn 1945 – 1946
lịch sử, để tồn tại và khẳng định chủ quyền của mình, dân tộc ta phải thường
xuyên đối phó với các thế lực xâm lăng như chống lại các thế lực xâm lược
14
phương Bắc hàng ngàn năm, nhờ đó mà ý thức dân tộc và tinh thần yêu nước
trải qua hàng ngàn năm lịch sử đã hình thành nên chủ nghĩa yêu nước Việt
Nam. Qua những minh chứng lịch sử dựng nước và giữ nước chúng ta có thể
tự hào về những trang sử vẻ vang của dân tộc thời đại Bà Trưng, Bà Triệu,
Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung. Các thế hệ ông cha của dân tộc đã để
lại những tư tưởng yêu nước, bài học kinh nghiệm và phương pháp ngoại giao
là cơ sở nền tảng cho quá trình dựng nước và giữ nước sau này. Ngay từ thời
Bắc thuộc mặc dù sau những trận đánh thắng quân xâm lược phương Bắc
nhưng ông cha ta vẫn mở rộng quan hệ “bang giao” và luôn coi trọng “hòa
khí” giữa Đại Việt và triều đình phong kiến phương Bắc, “tuy thể hiện sự
thuần phục nhưng vẫn giữ thế độc lập tự chủ của nước mình” hàng năm vẫn
cho sứ giả sang chầu và cống nạp triều đình phong kiến phương Bắc đó là để
giữ “hòa khí, hòa bình” trong quan hệ với nước lớn Trung Quốc.
Những tư tưởng khẳng định ý thức dân tộc, chủ quyền dân tộc cũng là
sự thể hiện một quan điểm, nguyên tắc và phương pháp ngoại giao trong quan
hệ với nước ngoài. Bài Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt nêu rõ:
“Nam quốc sơn hà, Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
Hay trong “Bình Ngô Đại Cáo” Nguyễn Trãi cũng từng khẳng định tư
tưởng yêu nước và chủ quyền dân tộc:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
nhằm tránh sử dụng binh đao. Đây chính là biểu hiện của tư tưởng ngoại giao
lấy hòa hiếu và hòa bình làm trọng và làm nguyên tắc trong quan hệ bang giao
với các nước khác của ông cha ta ngày xưa
Tóm lại, chúng ta có thể nhận thấy Hồ Chí Minh đã tiếp thu và thấm
đượm những yếu tố của chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa, truyền
16
thống ngoại giao Việt Nam để hình thành nên những nguyên tắc ứng xử ngoại
giao của mình trong quá trình chỉ đạo cách mạng Việt Nam.
Chủ nghĩa yêu nước là hạt nhân cơ sở đảm bảo cho tư tưởng ngoại
giao vì dân vì nước, là cơ sở ban đầu, là động lực thúc đẩy quá trình tư duy và
hình thành nên quan điểm, phương pháp, nguyên tắc ứng xử ngoại giao Hồ
Chí Minh
Truyền thống văn hóa Việt Nam như truyền thống đoàn kết, hòa hợp và
dung hòa, tính cộng đồng, truyền thống nhân văn nhân đạo, tinh thần thủy
chung, tinh thần tự tôn dân tộc, tự chủ chủ quyền, sự linh hoạt mềm dẻo của
con người Việt Nam bởi yều tố văn hóa sông nước và nhiệt đới, đã tạo nên
những đặc điểm về tư tưởng ngoại giao còn in đậm dấu ấn trong nhà ngoại
giao thiên tài Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã kề thừa phát huy những truyền
thống, yếu tố văn hóa đó lên tầm cao mới đối với vấn đề ngoại giao. Chính
Hồ Chí Minh là hiện thân của tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng thủy
chung, là người đặt nền móng cho ngoại giao đoàn kết giữa ba nước Đông
Dương, và cũng là người hiện thân cho sự ngoại giao nhân nghĩa bởi chính
sách đối sử với tù binh Mỹ “máu của người Việt hay máu của Người Mỹ đổ
xuống cũng đều là máu”.
Trong khi nhìn nhận và đánh giá những tư tưởng của ngoại giao truyền
thống Việt Nam so với tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh chúng ta nhận thấy,
tư tưởng ngoại giao của Người thấm nhuần tư tưởng ngoại giao truyền thống
thành lập ra tổ chức quốc tế của giai cấp công nhân (Quốc tế I; II; III) để lãnh
đạo và đoàn kết phong trào công nhân, ủng hộ phong trào cách mạng thế giới.
Mặt khác, Lênin cũng đã từng nói: các nước xã hội chủ nghĩa ra đời trước có
nghĩa vụ quốc tế giúp các nước thuộc địa và phụ thuộc đi theo con đường
cách mạng vô sản tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, đây chính là biểu hiện của
tư tưởng đối ngoại mang tinh thần quốc tế vô sản.
Khi Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, lý luận cách mạng
khoa học và tiến bộ của giai cấp vô sản, cũng từ đó Người trở thành một nhà
Mácxít chân chính. Người đã thấm nhuần quan điểm giai cấp và thế giới
18
quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin cùng với nó là những
quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin về quan hệ quốc tế.
Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã thấm nhuần tinh thần đoàn
kết quốc tế vô sản, chủ nghĩa quốc tế vô sản, cũng vì lẽ đó mà Người luôn
luôn đặt cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, Người
nhận thức một cách sâu sắc rằng “vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp
bức, đoàn kết lại”, Người cho rằng cách mạng Việt Nam cần sự ủng hộ của
bạn bè thế giới và Người quan niệm “bốn phương vô sản đều là anh em”. Đó
chính là biểu hiện của sự thống nhất với tư tưởng của Lênin: “ cách mạng ở
phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải
phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch”.
Không ai khác, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng và thúc đẩy mối
quan hệ hợp tác, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em đối với Việt
Nam và tranh thủ sự ủng hộ của thế giới đối với Việt Nam.
Hồ Chí Minh luôn căn cứ vào điều kiện cụ thể của cách mạng ở từng
giai đoạn và căn cứ vào bối cảnh thế giới để tiến hành các hoạt động ngọai
giao phù hợp. Người luôn đặt vấn đề cách mạng Việt Nam trong mối quan hệ