ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
∞Ω∞
NGUYỄN THỊ TƢỜNG DUY
TƢ TƢỞNG NGOẠI GIAO CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ
SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC và CNDVLS
Mã số: 62.22.03.02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2017
Công trình đƣợc hoàn thành tại:
Trƣờng Đại học khoa học xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
∞Ω∞
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN THẾ NGHĨA
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở
đào tạo họp tại Trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn
- Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Vào lúc giờ, ngày tháng năm
sản lỗi lạc, một nhà văn hóa kiệt xuất của thế giới, đồng thời
Người còn là một nhà ngoại giao tài ba hết sức khéo léo.
Người đã để lại một di sản vô giá về tư tưởng và phương pháp
ngoại giao mãi mãi còn nguyên giá trị, là ngọn đuốc soi
đường cho Đảng, nhà nước, và nhân dân ta trong hoạt động
đối ngoại hiện nay và cho cả mai sau.
Hiện nay, đất nước ta đang thực hiện công cuộc đổi mới
trong bối cảnh thế giới có nhiều biến đổi nhanh chóng và
phức tạp. Xu thế hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới
đang trở thành tất yếu, tạo ra những thời cơ thuận lợi mới
nhưng đồng thời cũng chứa đựng những nguy cơ khó lường,
nhất là đối với các nước có nền kinh tế chưa phát triển, trong
2
đó có Việt Nam. Bởi vậy, đổi mới toàn diện sâu sắc trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội là con đường duy nhất để
Việt Nam phát triển và chủ động hội nhập nền kinh tế thế
giới. Để làm được điều đó đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu
một cách toàn diện và sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, trong
đó nghiên cứu tư tưởng ngoại giao của Người càng trở nên
cấp thiết hơn bao giờ hết. Nghiên cứu tư tưởng ngoại giao của
Hồ Chí Minh là để nhanh chóng hoàn thiện cơ sở lý luận và
thực tiễn cho việc xây dựng và phát triển đường lối đối ngoại
độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng, nhà
nước và nhân dân ta trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ
những lý do trên, tác giả quyết định chọn vấn đề: “Tƣ tƣởng
ngoại giao của Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài
cho luận án tiến sĩ chuyên ngành triết học của mình.
Chí Minh về ngoại giao. Các công trình như: “Tư tưởng Hồ
Chí Minh về đối ngoại một số nội dung cơ bản” (Đỗ Đức
Hinh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007); “Sự hình thành
về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh” (Trần Văn Giàu, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997); “Tư tưởng Hồ Chí Minh
về ngoại giao” (Vũ Dương Huân, Nxb. Thanh niên, Hà Nội,
2000).
Các công trình trên đã khai thác ở nhiều góc độ khác nhau
nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về
ngoại giao; Đã cung cấp những kiến thức cơ bản về quãng đời
thời thơ ấu của Hồ Chí Minh, về ảnh hưởng của chủ nghĩa
yêu nước, tinh hoa văn hóa dân tộc, về những yếu tố thực tiễn
được Hồ Chí Minh thẩm thấu khi ở phương Tây đóng vai trò
quan trọng hình thành nên tư tưởng ngoại giao của Người.
Ba là, các học giả và các nhà nghiên cứu đã khai thác sâu
những nội dung cơ bản của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
ở nhiều khía cạnh như chiến lược, sách lược ngoại giao, mục
tiêu ngoại giao, phương pháp và nghệ thuật ngoại giao. Cụ
thể: Tác phẩm “Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh” (Nguyễn
Dy Niên, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002), Tác phẩm
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại - một số nội dung cơ
bản” (Đỗ Đức Hinh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2007)…
2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao được nghiên
cứu rất sâu và bao quát trên tất cả các lĩnh vực, trong đó sự kế
thừa, vận dụng sáng tạo linh hoạt tư tưởng ngoại giao Hồ Chí
4
Minh thời kỳ hội nhập cũng được các tác giả dày công nghiên
Tuy nhiên, phần lớn các công trình chủ yếu tập trung
nghiên cứu hoạt động ngoại giao, hoạt động quốc tế mang
tính thực tiễn của Người, hay chỉ tập trung nghiên cứu một
5
mảng, một khía cạnh nhất định trong tư tưởng ngoại giao Hồ
Chí Minh. Do đó, ở góc độ triết học, tác giả luận án mong
muốn góp phần làm rõ, sâu sắc thêm những nội dung của tư
tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đặc điểm cơ bản của tư tưởng
đó, và làm rõ sự vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
đầy sôi động, chứa đựng nhiều biến đổi bất ngờ và phức tạp
như hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án:
Luận án phân tích và làm rõ những nội dung, đặc điểm cơ
bản của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư
tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay
Nhiệm vụ của luận án:
Thứ nhất, phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam và
tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và những
tiền đề lý luận ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng ngoại
giao Hồ Chí Minh; Khái quát quá trình hình thành và phát
triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
Thứ hai, phân tích những nội dung cơ bản và những đặc
điểm nổi bật của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
Thứ ba, phân tích sự vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí
Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và
6. Cái mới của luận án
Thứ nhất, với việc nghiên cứu các nguồn tư liệu về quá
trình hoạt động cách mạng nói chung và hoạt động ngoại giao
nói riêng của Hồ Chí Minh, luận án làm rõ đặc điểm tư tưởng
ngoại giao Hồ Chí Minh.
Thứ hai, luận án khái quát tình hình Việt Nam và thế giới
trong giai đoạn hiện nay; Làm rõ quá trình vận dụng tư tưởng
ngoại giao Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong
thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
7. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học của luận án:
Luận án góp phần nâng cao nhận thức toàn diện và sâu sắc
tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
Luận án khẳng định giá trị khoa học và yêu cầu khách
quan của việc vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh của
Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; khẳng
định tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận và kim
7
chỉ nam cho hoạt động đối ngoại của Đảng, nhà nước và nhân
dân ta.
Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho
việc nghiên cứu, học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh nói
chung, hoặc nghiên cứu chuyên sâu chuyên đề tư tưởng Hồ
Chí Minh về ngoại giao nói riêng.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung luận án được kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết.
những trào lưu phi mácxit.
Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở
màn cuộc chiến tranh xâm lược đẫm máu ở Việt Nam. Sự nhu
nhược của triều Nguyễn đã khiến cho Việt Nam chìm trong
đêm tối, nhân dân Việt Nam bị mất độc lập, tự do ngay trên
mảnh đất của mình, phải chịu sự bảo hộ của thực dân Pháp về
mọi mặt từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… kể cả về ngoại
giao. Mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ là
mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp
cùng bè lũ tay sai bán nước. Bên cạnh đó, mâu thuẫn giữa
nhân dân lao động mà chủ yếu là giữa nông dân với địa chủ
phong kiến đã từng tồn tại trước khi thực dân Pháp xâm lược
không những không mất đi mà trái lại càng trở nên gay gắt
hơn. Do đó, giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản trên là yêu cầu
cấp bách và là động lực thôi thúc các phong trào đấu tranh
giải phóng dân tộc ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Nhiều
cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ ra nhưng đều thất bại, nguyên
nhân chủ yếu là do chưa có đường lối cứu nước đúng đắn,
phù hợp.
Chứng kiến bao cảnh mất mát, đau thương của dân tộc,
Hồ Chí Minh sớm nhận thức được giá trị của độc lập, tự do.
Người nung nấu ý chí ra đi tìm đường cứu nước. Sự ra đi của
Người là bước ngoặt trọng đại không chỉ có ý nghĩa đưa cá
nhân Hồ Chí Minh tiếp xúc với thế giới bên ngoài, mà còn
đưa dân tộc Việt Nam tiếp cận với thế giới, làm cho thế giới
biết hơn, hiểu hơn về dân tộc Việt Nam.
9
khắng khít với cách mạng vô sản thế giới, Hồ Chí Minh đã
tiếp thu tư tưởng về sự liên hiệp, đoàn kết giữa giai cấp vô sản
toàn thế giới theo quan niệm của Mác- Lênin. Hồ Chí Minh
còn tiếp thu và vận dụng sáng tạo các nguyên tắc, nguyên lý
10
của chủ nghĩa Mác – Lênin về giải quyết các vấn đề quốc tế
nói chung và mối quan hệ giữa Việt Nam với thế giới nói
riêng bằng tất cả sự linh hoạt, nhạy bén trên cơ sở thực tiễn.
1.1.3. Nhân tố chủ quan trong việc hình thành tƣ
tƣởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Trải nghiệm thực tiễn chính trị và ngoại giao của Hồ
Chí Minh
Từ năm 1912 đến năm 1919, Hồ Chí Minh hoạt động sôi
nổi trong các tổ chức mang tầm quốc tế như: tham gia vào Tổ
chức UNIT - Hội tin tưởng về cải thiện người da đen thế giới.
Người được kết nạp là hội viên của Hội những người lao
động Trung Quốc ở hải ngoại trên đất Anh, là đảng viên Đảng
xã hội Pháp (1919). Đặc biệt, Nguyễn Ái Quốc còn tham gia
thành lập hội những người Việt Nam yêu nước ở Pháp và sớm
trở thành nòng cốt trong hoạt động của hội.
Tháng 12 năm 1920, Hồ Chí Minh đã bỏ phiếu tán thành
quốc tế III, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và trở
thành người đảng viên cộng sản Việt Nam đầu tiên. Năm
1935, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản
lần thứ VII. Dấu ấn nổi bật trong hoạt động ngoại giao của Hồ
Chí Minh được thể hiện rõ trong việc chỉ đạo ký kết Hiệp
định Giơnevơ 1954. Hiệp định đánh dấu thắng lợi to lớn của
cuộc kháng chiến chống Pháp, thừa nhận nền độc lập, thống
Quá trình hoạt động quốc tế sôi nổi và hình thành cơ bản
tư tưởng ngoại giao (1920 - 1930)
1.2.2. Thời kỳ phát triển, hoàn thiện và hiện thực hóa
tƣ tƣởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong tiến trình cách
mạng Việt Nam (1930 -1969)
Kiên định tinh thần quốc tế trong sáng và khẳng định sự
đúng đắn của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh (1930 -1945)
Quá trình phát triển và tổ chức thực hiện tư tưởng ngoại
giao Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam (1945
-1969)
Kết luận chƣơng 1
Tư tưởng của cá nhân bao giờ cũng chịu sự chi phối của
điều kiện lịch sử và hoàn cảnh sống của cá nhân đó. Hơn nữa,
mỗi cá nhân không thể tự mình thâu tóm toàn bộ kiến thức
cũng như phát minh ra toàn bộ tri thức, mà bao giờ cũng có
sự nghiên cứu, kế thừa tư tưởng của những thế hệ trước đó,
của những cá nhân kiệt xuất trước đó. Tư tưởng Hồ Chí Minh
12
nói chung và tư tưởng ngoại giao nói riêng cũng không ngoại
lệ. Nó được hình thành trên cơ sở khách quan và chủ quan.
Đó là sản phẩm của sự kết hợp giữa những điều kiện khách
quan là tình hình thực tế của đất nước, của thời đại, truyền
thống ngoại giao của dân tộc, các trào lưu tư tưởng tiến bộ
cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin với yếu tố chủ quan là phẩm
chất, tài năng bản lĩnh và phong cách tuyệt vời của Hồ Chí
Minh.
Chƣơng 2
GIAO HỒ CHÍ MINH
2.2.1. Mục tiêu và đƣờng lối ngoại giao trong tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh
Mục tiêu ngoại giao trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
Giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia và sự thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm lợi ích quốc gia và các quyền dân
tộc cơ bản. Trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của
mình, Hồ Chí Minh kiên trì đấu tranh để đạt được các mục
tiêu bảo đảm lợi ích quốc gia và các quyền dân tộc cơ bản.
Bất kỳ lúc nào Người cũng khẳng định một cách rõ ràng, nhất
quán mục tiêu ngoại giao vì chủ quyền quốc gia, toàn vẹn
lãnh thổ, thống nhất đất nước. Bên cạnh đó, Người cũng quan
tâm đến việc đấu tranh giành quyền dân tộc cho các dân tộc bị
áp bức khác trên thế giới. Người tích cực vận động những
người cách mạng quốc tế ở thuộc địa và trước hết là ở chính
quốc hiểu được sự cần thiết phải hợp tác với nhau vì các
quyền dân tộc tự quyết.
Hòa bình và hữu nghị, tranh thủ và tạo dựng môi trường
quốc tế thuận lợi để giành độc lập tự do, xây dựng và phát
triển đất nước. Hồ Chí Minh luôn tỏ rõ thiện chí hòa bình,
hữu nghị và hướng tới hòa bình, hữu nghị để giải quyết xung
đột, hạn chế tối đa nguy cơ chiến tranh. Đối với Hồ Chí Minh
phấn đấu cho mục tiêu hòa bình là rất cần thiết nhưng đó phải
là nền hòa bình thật sự, hòa bình trong độc lập, tự do thật sự,
phong trào hòa bình phải gắn liền với phong trào độc lập dân
tộc.
14
Để tranh thủ và giữ được nền hòa bình, trong nhiều trường
hai nước hay một vài lĩnh vực mà phải tạo dựng được mối
quan hệ rộng rãi với tất cả các quốc gia, tổ chức, cá nhân có
thiện chí và trên mọi lĩnh vực. Chỉ có như vậy, cách mạng
15
Việt Nam mới có được sức mạnh tổng hợp - sức mạnh của sự
đoàn kết quốc tế. Đặc điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa là xem trọng
tất cả các mối quan hệ với các nước trên mọi lĩnh vực nhưng
có định hướng và xác định rõ mối quan hệ trọng tâm.
2.2.2. Nguyên tắc và phƣơng pháp ngoại giao trong tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh
Nguyên tắc ngoại giao trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nguyên
tắc bất di bất dịch trong tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao.
Người luôn quan tâm đến vấn đề độc lập cho dân tộc Việt
Nam và cho tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Người
quyết định đi theo con đường cách mạng vô sản và khẳng
định chỉ có cuộc cách mạng đó mới có thể giải phóng dân tộc
và muốn cho cách mạng giải phóng dân tộc thành công triệt
để nhất thiết phải tiếp tục cách mạng xã hội chủ nghĩa. Theo
Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc không thể
tách rời tự do, hạnh phúc của nhân dân tức là không thể tách
rời chủ nghĩa xã hội, là vì dân tộc có độc lập thì dân mới được
tự do, hạnh phúc.
Phƣơng pháp ngoại giao trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
Kiên định đường lối chiến lược, linh hoạt, sáng tạo về
sách lược. Nguyên tắc bất biến và đặc sắc nhất được kết tinh
trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và trong tư tưởng về
Để dự báo và nắm bắt thời cơ, Hồ Chí Minh đặc biệt chú
ý đến hai lĩnh vực chủ yếu đó là: sự phát triển của lực lượng
sản xuất do tiến bộ của khoa học kỹ thuật và những biến đổi
sâu sắc về chính trị xã hội.
Song song với việc dự báo thời cơ, Hồ Chí Minh luôn chủ
động chuẩn bị lực lượng tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi
để ứng phó kịp thời chủ động giành thắng lợi khi thời cơ đến.
2.2.3. Sắp xếp và tổ chức lực lƣợng ngoại giao trong tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh
Ngoại giao là một mặt trận
Lợi dụng mâu thuẫn của đối phương, tranh thủ đồng minh,
phân biệt bạn - thù, kết hợp hoạt động ngoại giao của Việt
Nam với hoạt động ngoại giao của các nước có đồng quan
điểm với Việt Nam
17
Phối hợp chặt chẽ ngoại giao với chính trị, quân sự và các
lĩnh vực khác của đời sống xã hội
Phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, tăng cường đoàn kết
và hợp tác quốc tế
Coi trọng vai trò của cán bộ ngoại giao và ngoại giao nhân
dân
2.3. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƢ TƢỞNG NGOẠI
GIAO HỒ CHÍ MINH
2.3.1. Tính kế thừa và phát triển trong tƣ tƣởng ngoại
giao Hồ Chí Minh
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là sự kế thừa và giao
thoa giữa triết lý ngoại giao thâm thúy phương Đông với tính
logic, linh hoạt và thực tế của ngoại giao phương Tây.
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. BỐI CẢNH QUỐC TẾ, TÌNH HÌNH TRONG
NƢỚC VÀ SỰ VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG NGOẠI GIAO
HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1.1. Bối cảnh quốc tế, tình hình trong nƣớc tác động
đến quá trình xây dựng, phát triển đƣờng lối ngoại giao
trong giai đoạn hiện nay
Bối cảnh quốc tế hiện nay
Thứ nhất, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt
là công nghệ thông tin tiếp tục phát triển mạnh mẽ
Thứ hai, xu thế hội nhập và toàn cầu hoá đang phát triển
mạnh mẽ và chiếm vị trí chủ yếu trong cục diện quan hệ quốc
tế hiện nay.
Thứ ba, cục diện chính trị thế giới có sự biến đổi căn bản.
Thứ tư, quá trình tái cấu trúc các nền kinh tế và điều chỉnh
các thể chế tài chính toàn cầu diễn ra mạnh mẽ
Thứ năm, quan hệ quốc tế hiện nay diễn ra phức tạp, chứa
đựng nhiều biến đổi khôn lường.
19
Thứ sáu, khu vực Đông Nam Á, châu Á - Thái Bình
Dương tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, có vị trí địa
kinh tế - chính trị chiến lược ngày càng quan trọng trên thế
giới. Đồng thời đây cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược
giữa một số nước lớn, có nhiều nhân tố bất ổn.
Tình hình Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Về kinh tế, nền kinh tế chuyển từ mô hình kinh tế kế
hoạch hoá tập trung sang mô hình mới - kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
Trong giai đoạn mới, đường lối và hoạt động ngoại giao
của Đảng luôn thấm nhuần tư tưởng “không có gì quý hơn
độc lập tự do”. Trong mọi chủ trương, hành động, công tác
đối ngoại của Đảng đều đảm bảo lợi ích chính đáng của dân
tộc, vì quyền lợi của nhân dân mà phục vụ, đồng thời kết hợp
đúng đắn giữa việc bảo đảm lợi ích dân tộc với làm nghĩa vụ
quốc tế, kết hợp lợi ích chính đáng của nước ta với lợi ích
chân chính của các nước khác; mở rộng hợp tác quốc tế để
phát triển mình đồng thời phải hòa mình vào thế giới đem lại
lợi ích cho nước mà mình hợp tác - “giúp mình là giúp
người”.
3.2.2. Thực hiện chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
Chủ trương hội nhập đúng đắn của Đảng Cộng sản được
thể hiện thông qua các kỳ Đại hội đã xuất phát từ sự tiếp thu
và vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đặc
biệt là tư tưởng về“thêm bạn, bớt thù”, về gắn kết cách mạng
Việt Nam với cách mạng thế giới. Nhờ đó mà chúng ta đã tìm
ra khâu đột phá để thoát vòng bao vây cô lập của các thế lực
chống đối, xây dựng nước Việt Nam vững mạnh, ngày càng
có uy tín và vị thế trên trường quốc tế.
3.2.3. Thực hiện kết hợp ngoại giao kinh tế với ngoại
giao chính trị, ngoại giao văn hóa và ngoại giao quốc
phòng - an ninh, ngoại giao nhà nƣớc với ngoại giao nhân
dân, đa dạng hóa các hình thức và chủ thể tham gia hoạt
động ngoại giao
Ngày nay, ngoại giao không đơn thuần làm chức năng
“giữ cửa” kiểu truyền thống như trước đây mà phải ngày càng
21
nhiều lĩnh vực hợp tác, ngăn ngừa xung đột, giải quyết các
22
vấn đề an ninh đang nổi lên, tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội.
Thành tựu ngoại giao trên lĩnh vực văn hoá, xã hội
Việt Nam ngày càng chủ động trong việc triển khai thực
hiện các hoạt động ngoại giao văn hóa, góp phần đưa văn hóa
Việt Nam ra thế giới và đưa văn hóa thế giới đến Việt Nam.
3.3.2. Những kinh nghiệm vận dụng tƣ tƣởng ngoại
giao Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
Thứ nhất, luôn đổi mới tư duy đối ngoại để bắt kịp với sự
phát triển của thời đại; bám sát thực tiễn đất nước, nắm bắt
kịp thời các trào lưu và xu thế chủ đạo trên thế giới, chủ động
hội nhập quốc tế phù hợp với lợi ích dân tộc và xu thế thời
đại.
Thứ hai, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết; kiên trì thực hiện
đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa,
đa dạng hóa quan hệ quốc tế.
Thứ ba, xác định thứ tự ưu tiên trong quan hệ với các đối
tác nhất là với các nước láng giềng và các nước có tầm ảnh
hưởng trong quan hệ quốc tế; chủ động, linh hoạt giải quyết
những trở ngại, chuẩn bị điều kiện và bước đi thích hợp để
từng bước cải thiện quan hệ song phương, kết hợp quan hệ
ngoại giao song phương với đa phương.
Thứ tư, đặt cách mạng Việt Nam trong tiến trình phát triển
của thế giới, gắn dân tộc với thời đại, kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại.
Thứ năm, phối hợp chặt chẽ mặt trận ngoại giao với quốc
phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, chính trị - xã hội.
một tài sản quý báu về đường lối, chính sách, phương pháp
ngoại giao. Trên cơ sở đó, Đảng ta vận dụng sáng tạo và lãnh
đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi
khác.