Nghiên cứu các giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm cói huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá - Pdf 35

MỤC LỤC
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT...................................................................................ii
PHẦN 1. MỞ ĐẦU..............................................................................................1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài..........................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu của luận văn.........................................................2
1.2.1. Mục tiêu tổng quát...................................................................................2
PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TI ÊU THỤ SẢN PHẨM CÓI
HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HOÁ.........................................................4
2.1. Lý luận chung về tiêu thụ sản phẩm .......................................................4
2.1.1. Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm...........................................................4
PHẦN 3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............30
3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.30
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên:................................................................................30
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN....................................40
4.1. Thực trạng tiêu thụ sản phẩm cói ở huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá 40
4.1.4.1. Khả năng cạnh tranh của các sản phẩm từ cói tại Nga Sơn
về sản lượng lẫn chất lượng so với các sản phẩm cùng loại trong
khu vực và trên thị trường thế giới
4.1.4.2. Khả năng kiện toàn hệ thống thu mua, vận chuyển và bảo
4.1.4.3. Khả năng đa dạng hóa sản phẩm và nghiên cứu tạo ra

vii
viii
1
1
2
2
2
3
4
4

71

11
15
21

4.1.4.7. Khả năng nâng cao năng lực tiếp thị, khả năng đàm phán
và ký kết hợp đồng tiêu thụ các sản phẩm từ cói

71

24

4.1.5.1. Đối với Nhà nước, các cấp chính quyền

74

24
27

4.1.5.2 Đối với các doanh nghiệp sản xuất, các cơ sở sản xuất cói,
các hộ trồng nguyên liệu cói.

76

28

a. Nuôi thuỷ sản dưới cây cói

94

Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc

UBND

Uỷ ban nhân dân

USD

Đồng đô la Mỹ

WTO

Tổ chức thương mại thế giới

CNH-HĐH

Công nghiệp hoá - hiện đại hoá

PTNT

Phát triển nông thôn

ii


DANH MỤC BẢNG
STT

Tên bảng



4.6. Sản lượng tiêu thụ sản phẩm cói ở các điểm điều tra năm 2008

52

4.7. Bình quân giá bán sản phẩm cói ở điểm điều tra năm 2008

54

4.8. Doanh thu tiêu thụ sản phẩm cói ở điểm điều tra năm 2008

55

4.9. Khách hàng tiêu thụ sản phẩm cói ở các điểm điều tra năm 2008

56

4.10. Vốn sản xuất của các điểm điều tra năm 2008

80

4.11. Thu nhập bình quân lao động/tháng và của hộ/tháng

81

4.12. Trình độ tay nghề của lao động sản xuất sản phẩm cói ở các điểm
điều tra năm 2008

84



4.1. Sơ đồ kênh tiêu thụ trong nước sản phẩm cói huyện Nga Sơn

41

4.2. Cơ cấu kênh tiêu thụ trong nước sản phẩm cói huyện Nga Sơn
năm 2008

42

4.3. Cơ cấu sản lượng tiêu thụ trong nước sản phẩm cói huyện Nga Sơn từ
năm 2006 đến năm 2008

44

4.4. Cơ cấu doanh thu tiêu thụ trong nước sản phẩm cói huyện Nga
Sơn từ năm 2006 đến năm 2008

46

4.5. Sơ đồ kênh xuất khẩu sản phẩm cói huyện Nga Sơn

47

4.6. Cơ cấu kênh xuất khẩu sản phẩm cói huyện Nga Sơn năm 2008

48

4.7. Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu sản lượng tiêu thụ sản phẩm cói từ
năm 2006 đến năm 2008

4.4. Sản phẩm cói hộp và chiếu cói của hộ sản xuất (Nguyễn Hồng Loan
– xã Nga Thanh, Nga Sơn, Thanh Hoá)

79

4.5. Sản phẩm cói từ của Công ty Sản xuất cói đay xuất khẩu Thanh Hùng

79

4.6. Sản phẩm cói xuất khẩu của Doanh nghiệp xuất khẩu Huy Hoàng

80

4.7. Sản phẩm cói thô xuất khẩu của Doanh nghiệp xuất khẩu Huy Hoàng

80

v


PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, nông nghiệp nước
ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, không những đáp ứng được
nhu cầu trong nước mà còn có khả năng xuất khẩu và trở thành ngành hàng
xuất khẩu chủ yếu. Năm 2007, giá trị xuất khẩu trên giá trị sản xuất của ngành
nông nghiệp đã chiếm tới hơn 30%, đóng góp 20,4% GDP và hơn 17,6% tổng
giá trị xuất khẩu của cả nước [26]. Với khoảng 70% dân số sống ở nông thôn
và gần 60% lực lượng lao động đang hoạt động và tạo ra nguồn thu nhập từ
sản xuất nông nghiệp, trong đó có khoảng 44% số hộ thuộc diện khó khăn và

1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu thực trạng của tiêu thụ sản phẩm cói, và đưa ra các giải
pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm cói tại huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Tập hợp các vấn đề lý luận và thực tiễn về tiêu thụ sản phẩm cói.
- Đánh giá thực trạng tiêu thụ sản phẩm cói và các yếu tố ảnh hưởng
đến tiêu thụ sản phẩm cói huyện Nga Sơn.
- Phân tích những tiềm năng phát triển tiêu thụ các loại sản phẩm từ cói
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm khai thác và tận dụng những
tiềm năng phát triển tiêu thụ các loại sản phẩm từ cói huyện Nga Sơn.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ nghiên cứu, Luận văn tập trung vào nghiên cứu các
vấn đề liên quan đến chiến lược tiêu thụ đối với sản phẩm cói của các doanh
nghiệp, các hộ sản xuất cá thể tại một số xã tiêu biểu như xã Nga Điền, xã Nga
Thanh, xã Nga Liên huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá, đồng thời nghiên cứu
những chính sách vĩ mô hỗ trợ phát triển tiêu thụ của các doanh nghiệp, các cơ
sở sản xuất. Do vậy, trong khuôn khổ của Luận văn "tiêu thụ sản phẩm cói

2


huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá" sẽ được hiểu là tiêu thụ sản phẩm cói được các
doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất cói tại huyện Nga Sơn vận dụng. Các giải pháp
mang tính định hướng, không đi sâu tính toán các chỉ tiêu mang tính định lượng
và tập trung vào những giải pháp chiến lược nhằm đẩy mạnh khả năng tiêu thụ
sản phẩm cói tại huyện Nga Sơn.
1.4. Thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 8 năm 2007 đến tháng 9 năm 2009;
- Thông tin và số liệu thống kê dùng để nghiên cứu và trình bày trong
Luận văn này chủ yếu trong giai đoạn 2006 - 2008.

việc nghiên cứu và nắm bắt nhu cầu thị trường. Nó bao gồm các hoạt động:

4


Tạo nguồn, chuẩn bị hàng hoá, tổ chức mạng lưới bán hang, xúc tiến bán hàng
và cho đến các dịch vụ sau bán hàng như chuyên chở, lắp đặt, bảo hành ....
Trong khi đó Hội Quản trị Hoa Kỳ lại đưa ra khái niệm tiêu thụ sản
phẩm là tổng hợp các lực lượng và các điều kiện, trong đó người mua và
người bán thực hiện các quyết định chuyển hàng hoá dịch vụ từ người bán
sang người mua [12].
Theo một quan điểm khác thì tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của
sản xuất kinh doanh, là giai đoạn thực hiện giá trị và giá trị sử dụng hàng hoá,
là bước chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ thông qua việc mua
bán hàng hoá trên thị trường.
Ngoài ra còn có khá nhiều khái niệm về tiêu thụ sản phẩm được ghi
nhận lại trong hệ thống lý thuyết, như tiêu thụ là tổng hoà các mối quan hệ
mua bán; hay rất đơn giản tiêu thụ là tổng hợp các số cộng của người mua về
một sản phẩm v.v…
Tuy nhiên, hầu hết các khái niệm được đưa ra chủ yếu đứng trên giác
độ phân tích vĩ mô của nhà kinh tế. ở giác độ này doanh nghiệp khó có khả
năng mô tả chính xác và cụ thể đối tượng tác động và các yếu tố chi tiết có
liên quan, như vậy khó có thể đưa ra được các công cụ điều khiển kinh doanh
có hiệu quả.
Ở phạm vi doanh nghiệp thương mại, theo chúng tôi khái niệm tiêu thụ
sản phẩm phù hợp nhất là do Mc Carthy đưa ra là: [26]
“Tiêu thụ sản phẩm là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng,
là thước đo đánh giá độ tin cậy của người tiêu dùng đối với người sản xuất”.
Như vậy qua quá trình tiêu thụ sản phẩm, người tiêu dùng và người sản
suất gần gũi nhau hơn, tìm ra được cách đi đáp ứng nhu cầu tốt hơn và người

sinh sự cạnh tranh. Cạnh tranh về chất lượng sản phẩm, về giá cả hàng hoá,
phương thức thanh toán và các dịch vụ khác.

6


Cạnh tranh được xem xét dưới nhiều khía cạnh đó là cạnh tranh tự do,
cạnh tranh thuần tuý, cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh phi giá cả, cạnh tranh lành
mạnh, cạnh tranh không lành mạnh, cạnh tranh mang tính chất độc quyền.
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến kỹ thuật
và ứng dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật công nghệ vào sản xuất kinh
doanh để giảm chi phí và nâng cao chất lượng hàng hoá phù hợp với nhu cầu
của thị trường. Và như vậy cạnh tranh là có tác động tích cực thúc đẩy sản
xuất xã hội phát triển.
2.1.3. Vai trò của tiêu thụ sản phẩm và phát triển tiêu thụ sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trường, tiêu thụ sản phẩm là trung tâm các hoạt
động kinh tế trong một doanh nghiệp. Tiêu thụ sản phẩm vừa là mục tiêu vừa
là đối tượng phục vụ của doanh nghiệp. Tất cả các hoạt động của doanh
nghiệp đều hướng vào tiêu thụ sản phẩm. Bắt đầu từ việc sắp xếp cơ cấu tổ
chức nhân sự, đầu tư cơ sở vật chất đến các hoạt động marketing, nâng cao
chất lượng sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ, v.v… của doanh nghiệp
đều nhằm mục đích đáp ứng tốt nhất yêu cầu của tiêu thụ sản phẩm.
Tiêu thụ sản phẩm hướng dẫn sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp căn cứ vào việc điều tra, thu thập thông tin, nghiên
cứu thị trường tiêu thụ sản phẩm để quyết định cung ứng sản phẩm hàng hoá
gì, cho ai và bằng phương thức nào. Doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại khi sản
phẩm hàng hoá của doanh nghiệp được thị trường thừa nhận, được thực hiện
về mặt giá trị, khi đó thị trường sẽ giúp doanh nghiệp thu hồi được vốn từ
trạng thái vốn hàng hoá sang vốn bằng tiền (bao gồm cả lợi nhuận) để tái đầu
tư cho quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo, đảm bảo cho sản xuất kinh

chung và huyện Nga Sơn nói riêng. Với diện tích canh tác bình quân vào mức
thấp, tỷ lệ thất nghiệp và chưa có việc làm cao. Nếu chỉ thuần nông không có
nghề phụ thì khó khăn này sẽ càng khó khăn thêm. Như vậy, vai trò của nghề
đan cói, cũng như phát triển tiêu thụ sản phẩm cói là rất quan trọng, được coi là

8


động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động. Những nơi nào tiêu
thụ sản phẩm cói phát triển thì dân cư ở nơi đó có thu nhập và mức sống cao hơn
so với khu vực thuần nông. Nếu so sánh thu nhập giữa lao động ở các hộ thuần
nông và lao động có nghề sản xuất cói thì thu nhập này có nghề sản xuất cói cao
hơn gấp 2 đến 3 lần.
2.1.3.2. Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian nhàn rỗi của lượng lao động,
hạn chế di dân tự do
Khác với các ngành nghề khác. Tham gia sản xuất và kinh doanh sản
phẩm cói không cần nhiều vốn đầu tư lớn, bởi vì đặc điểm của nghề này là
sản xuất thủ công, quy mô từ hộ gia đình, nên cơ cấu vốn và lao động ít
nên phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất của các
hộ gia đình. Với mức đầu tư không lớn nên đây là lợi thế lớn để huy động
vốn nhàn rỗi của các hộ gia đình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh
doanh, nhằm thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm cói phát triển.
Mặt khác, đặc điểm sản xuất kinh doanh của nghề sản xuất cói là sử
dụng lao động thủ công là chủ yếu nên thu hút được nhiều lao động thời vụ
nông nhàn, và lực lượng lao động này có thể trên và dưới độ tuổi lao động
đều có thể tham gia. Cùng với việc tận dụng nguồn lao động và thu hút vốn
đầu tư nhàn rỗi, phát triển tiêu thụ sản phẩm cói còn có vai trò tích cực
trong việc hạn chế di dân tự do.
2.1.3.3. Phát triển tiêu thụ sản phẩm cói góp phần tích cực vào quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH-HĐH. Đào tạo và

là một tác phẩm nghệ thuật, trong đó hàm chứa những nét đặc sắc riêng,
đặc tính riêng của nghề. Với những đặc điểm đặc biệt ấy chúng không còn
là hàng hoá đơn thuần mà đã trở thành sản phẩm văn hoá với tính nghệ
thuật cao và được coi là biểu tượng nghệ thuật truyền thống của người dân
Việt Nam.
Vì vậy, nghề sản xuất cói truyền thống cần được bảo lưu và phát triển

10


theo hướng hiện đại hóa. Đó cũng chính là việc khôi phục và phát triển các nghề
truyền thống, nó có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn các giá trị văn hoá dân
tộc trong quá trình CNH-HĐH ở khu vực nông thôn.
2.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng và chỉ tiêu đánh giá phát triển tiêu thụ sản
phẩm cói.
2.1.4.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển tiêu thụ sản phẩm cói
Sự tồn tại và phát triển của bất kỳ một huyện, khu vực nào trong nền
kinh tế quốc dân đều bị ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố, tác động trực tiếp và
gián tiếp đến hoạt động sản xuất tiêu thụ sản phẩm. Những nhân tố này
thường xuyên biến động, có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực.
a. Các nhân tố bên ngoài
Các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến sự phát triển tiêu thụ sản phẩm
cói tại Việt Nam bao gồm cả các nhân tố thế giới lẫn các nhân tố trong nước
như tình trạng nền kinh tế, các nhân tố luật pháp, chính trị, sự tác động của
nhân tố công nghệ - kỹ thuật, văn hoá xã hội, các nhân tố tự nhiên, nhân tố
cạnh tranh… Đây là những nhân tố mang tính khách quan, đòi hỏi phải thích
ứng mới tồn tại và phát triển được.
* Các nhân tố của thế giới
- Ảnh hưởng của nền chính trị thế giới
Trong xu thế toàn cầu hoá, hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cói

và tiêu dùng.
- Các nhân tố công nghệ - kỹ thuật
Sự phát triển về công nghệ kỹ thuật ảnh hưởng trực tiếp tới các yếu tố
đầu vào, năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, phương pháp sản xuất, giá
thành, vì vậy tác động mạnh mẽ đến khả năng cạnh tranh của thị trường tiêu
thụ. Các công nghệ xuất nhập, tồn trữ, vận chuyển sản phẩm…
- Các nhân tố văn hoá, xã hội

12


Các nhân tố văn hoá xã hội như phong tục tập quán, trình độ dân trí,
thị hiếu, lối sống…ảnh hưởng nhiều đến cơ cấu của cầu sản phẩm cói trên thị
trường. Chẳng hạn khoảng thời gian các tháng mùa cưới nhu cầu tiêu thụ các
sản phẩm chiếu cói tăng mạnh so với các thời điểm khác.
- Các nhân tố tự nhiên
Các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm cói bao gồm các
điều kiện về địa lý, đất đai, thời tiết, khí hậu…
- Các nhân tố cạnh tranh
Các nhân tố cạnh tranh ảnh hưởng tới việc phát triển tiêu thụ sản phẩm
cói bao gồm: khách hàng, các đối thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm ẩn, áp lực
của nhà cung cấp, áp lực của sản phẩm thay thế.
b. Các nhân tố bên trong của tiêu thụ sản phẩm cói
- Nguồn nhân lực: Toàn bộ lực lượng lao động của tiêu thụ sản phẩm
cói đều tham gia vào quá trình sản xuất và tiêu thụ do đó tác động mạnh mẽ
đến mọi hoạt động của thị trường. Lao động của tiêu thụ sản phẩm cói có qui
mô lớn, sẽ bao gồm đầy đủ các bộ phận chính: người dân trồng cói, các
thương gia thu mua, các cơ sở sản xuất đơn lẻ, các doanh nghiệp, các công ty.
Để phát triển được thị trường tốt các nhà quản trị cần tạo động lực kích
thích và khai thác hết tiềm năng đội ngũ lao động của mình. Những lao động

và uy tín của sản phẩm có ưu thế hơn đối thủ thì thị trường ngày càng có
khả năng mở rộng thị phần, nâng cao doanh số tiêu thụ, góp phần tăng lợi
nhuận.
- Hệ thống thông tin và hoạt động marketing: Hệ thống thông tin đóng
vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động của huyện. Những thông tin đầy
đủ, chính xác và kịp thời về biến đổi giá cả thế giới, khách hàng, nhà cung
ứng, đối thủ cạnh tranh, sản phẩm thay thế, triển vọng phát triển thị trường,
…đều ảnh hưởng đến mọi quyết định liên quan đến quá trình sản xuất và tiêu
thụ của sản phẩm cói.

14


Hoạt động marketing của thị trường càng có hiệu quả và ở phạm vi
càng rộng thì thị trường càng có thể tạo ra được lợi thế trước các đối thủ cạnh
tranh bấy nhiêu. Hoạt động marketing của thị trường yếu sẽ gây rất nhiều khó
khăn cho thị trường trong việc phát triển thị trường.
2.1.5. Nội dung và phương hướng phát triển tiêu thụ sản phẩm
2.1.5.1. Nội dung phát triển tiêu thụ sản phẩm
Phát triển tiêu thụ sản phẩm là mối quan tâm hàng đầu của mỗi một doanh
nghiệp khi tiến hành kinh doanh trong nền kinh tế thị trường nhằm đảm bảo được
sự phát triển ổn định và bền vững, đạt được các mục tiêu đề ra. Để thực hiện được
mong muốn này đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải nỗ lực trong các vấn đề sau.
a. Phát triển sản phẩm
Phát triển sản phẩm là việc sáng tạo ra sản phẩm mới hoặc cải tiến sản
phẩm để thay thế sản phẩm hiện hành nhằm đáp ứng thoả mãn tốt nhất nhu
cầu của khách hàng.
Sản phẩm của doanh nghiệp cần phải được hiểu là một hệ thống thống
nhất các yếu tố liên quan chặt chẽ với nhau trong việc thoả mãn tập hợp đồng
bộ nhu cầu của khách hàng. Sản phẩm khách hàng nhận được bao gồm sản

cầu chất lượng sản phẩm thấp hơn với giá rẻ hơn. Trường hợp này xảy ra khi
doanh nghiệp đang kinh doanh các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng
có thu nhập cao và yêu cầu cao về chất lượng.
- Bổ sung vào danh mục sản phẩm những mẫu mã sản phẩm có tính
năng tác dụng, đặc trưng, chất lượng cao hơn đáp ứng cho khách hàng có yêu
cầu chất lượng sản phẩm cao hơn với giá cao hơn. Trường hợp này xảy ra khi
doanh nghiệp đang kinh doanh các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng
có thu nhập thấp và yêu cầu thấp về chất lượng.
- Bổ sung vào danh mục sản phẩm những mẫu mã sản phẩm có tính
năng tác dụng, đặc trưng, chất lượng kém hơn và cả những mẫu mã sản phẩm
có tác dụng, đặc trưng, chất lượng cao hơn đáp ứng cho khách hàng có yêu

16


cầu chất lượng sản phẩm và giá cả khác nhau. Trường hợp này xảy ra khi
doanh nghiệp đang kinh doanh các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng
có thu nhập và yêu cầu cao về chất lượng ở mức vừa phải [9].
Đối với doanh nghiệp thương mại các sản phẩm này có nguồn gốc từ
nhà sản xuất, vì vậy khi phát triển sản phẩm theo hướng này cần phải tăng cường
tìm kiếm, đánh giá, lựa chọn kỹ lưỡng để đưa vào danh mục kinh doanh.
Thứ hai, phát triển sản phẩm theo hướng cải tiến sản phẩm thay thế sản
phẩm hiện hành.
Theo hướng này bao gồm:
- Cải tiến chất lượng: Mục tiêu là làm tăng độ tin cậy, tốc độ, độ bền
vững cũng như đặc tính khác của sản phẩm. Đối với nhiều loại sản phẩm cải
tiến chất lượng cũng có nghĩa là tạo ra nhiều phẩm cấp chất lượng khác nhau.
- Cải tiến kiểu dáng sản phẩm: như thay đổi bao bì mới, nhãn hiệu mới,
hình ảnh mới…. Mục tiêu là làm thay đổi hình dáng, hình thức sản phẩm tạo
ra sự khác biệt của sản phẩm.

+ Phát triển chất lượng
Phát triển khách hàng về chất lượng tức là tăng sức mua sản phẩm của
khách hàng. Sức mua sản phẩm của khách hàng được biểu hiện thông qua mối
liên hệ giữa tần suất mua hàng và khối lượng sản phẩm mà khách hàng mua.
Đặc biệt doanh nghiệp cần chú trọng phát triển những khách hàng mua với
khối lượng lớn và ổn định thường xuyên. Tỷ trọng những khách hàng này là
một trong những chỉ tiêu đánh giá về chất lượng khách hàng của doanh nghiệp.
c. Phát triển về địa lý (địa bàn kinh doanh)
Doanh nghiệp phát triển về mặt địa lý tức là mở rộng phạm vi hoạt
động kinh doanh từ vùng này sang vùng khác, từ hoạt động địa phương sang
hoạt động toàn quốc, từ nước này sang nước khác.
Khi phát triển thị trường mới, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ các
điều kiện về cơ hội, thách thức, so sánh điểm mạnh, điểm yếu của doanh

18


nghiệp với các đối thủ cạnh tranh ở thị trường muốn phát triển. Cân nhắc đến
yếu tố chi phí thâm nhập và đánh giá các khả năng phát triển của thị trường.
Phát triển về địa lý, doanh nghiệp có thể sử dụng một số cách sau:
+ Phát triển mạng lưới cửa hàng phân phối của doanh nghiệp
Phát triển mạng lưới cửa hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải có đầu tư
thêm về vốn, trang thiết bị, lao động, vận chuyển và một số chi phí khác khi
qui mô mạng lưới tăng thêm.
Bước đầu thâm nhập, thăm dò thị trường mới doanh nghiệp cần thành
lập cửa hàng giới thiệu sản phẩm nơi dân cư đông đúc, nơi đầu mối giao
thông hoặc là trung tâm giao dịch buôn bán để vừa kinh doanh vừa thu thập
thông tin về thị trường.
Sau khi đã hiểu rõ về thị trường mới, doanh nghiệp sẽ quyết định xem
xét đến việc mở rộng qui mô mạng lưới.

Ngoài ra cũng có thể là phát triển qui mô thị trường do tận dụng được
sự hiệp đồng hoặc năng lực dư thừa từ hoạt động kinh doanh cũ đối với
những hoạt động kinh doanh mới…
Doanh nghiệp cần phải đánh giá tính toán thận trọng khả năng của
mình để đảm bảo thích ứng trong hoàn cảnh mới.
b. Phát triển tiêu thụ sản phẩm theo chiều sâu
Phát triển tiêu thụ sản phẩm theo chiều sâu chính là sự nâng cao chất
lượng, hiệu quả của thị trường.
Chất lượng, hiệu quả của thị trường có thể được đánh giá qua một số
chỉ tiêu như uy tín của sản phẩm và doanh nghiệp, chỉ tiêu tăng doanh thu/sản
lượng, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, sự thoả mãn, sự trung thành của khách
hàng với nhãn hiệu sản phẩm… Phát triển thị trường theo hướng này cần chú
trọng tới các biện pháp marketing như nâng cao chất lượng sản phẩm, hoàn
thiện hệ thống phân phối, nâng cao chất lượng dịch vụ, …để tạo ra được sự
thu hút hấp dẫn tốt đối với khách hàng nhằm đạt được những mục tiêu đề ra.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status