Đánh giá hiện trạng môi trường nước vùng biển Đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

KHOA TÀI NGUYÊN & MÔI TRƢỜNG
***************

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“Đánh giá hiện trạng môi trƣờng nƣớc vùng biển Đầm Thị Nại, tỉnh Bình
Định”

Hà Nội - 2012

1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

KHOA TÀI NGUYÊN & MÔI TRƢỜNG

***************

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“Đánh giá hiện trạng môi trƣờng nƣớc vùng biển Đầm Thị Nại, tỉnh
Bình Định”

Người thực hiện:

Vũ Thị Thúy

Lớp:

2.1.2. Vai trò của biển, đại dương với môi trường sinh thái, kinh tế-xã hội ..... 8
2.2. Tổng quan về ô nhiễm môi trƣờng biển ..................................................... 9
2.2.1. Khái niệm về ô nhiễm nước, ô nhiễm nước biển ..................................... 9
2.2.2. Thực trạng ô nhiễm môi trường biển trên thế giới và ở Việt Nam ........ 10
PHẦN 3. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
............................................................................................................................. 20
3.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 20
3.2. Nội dung nghiên cứu .................................................................................. 20
3.3. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................... 20
3.3.1. Phương pháp thu thập tài liệu ............................................................... 20
3.3.2. Phương pháp phân tích.......................................................................... 20
3.3.3. Phương pháp xử lý số liệu ..................................................................... 21
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................... 22
4.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế, nhân văn ............................................ 22
4.1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên ........................................................................ 22
4.1.2. Đặc điểm kinh tế nhân văn .................................................................... 26
4.1.3. Tài nguyên thiên nhiên........................................................................... 30
4.2. Hiện trạng môi trƣờng nƣớc biển Đầm Thị Nại ..................................... 30
4.2.1. Một số tính chất lý, hóa học của nước biển Đầm Thị Nại .................... 30
4.3. Một số giải pháp nhằm hạn chế ô nhiễm môi trƣờng nƣớc biển vùng
Đầm Thị Nại ....................................................................................................... 40
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ............................................................... 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 44
PHỤ LỤC 1........................................................................................................48

3


PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường nước vùng
biển Đầm Thị Nại.
1.2.2. Yêu cầu nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá, so sánh một số chỉ tiêu lý, hóa học trong nước biển
vùng Đầm Thị Nại với giới hạn cho phép (QCVN10:2008/BTNMT).
- Trên cơ sở nghiên cứu về hiện trạng môi trường nước, đề xuất các kiến
nghị về quy hoạch sử dụng đất và mặt nước hợp lý, sử dụng bền vững tài nguyên
thiên nhiên nhằm bảo vệ môi trường biển ven bờ.

5


PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về môi trƣờng biển
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của biển, đại dương
Việc nghiên cứu chi tiết đại dương và biển của thế giới chưa được nhiều.
Có nhiều vấn đề đặt ra khi nghiên cứu đại dương, như các đại dương có từ bao
giờ? Có đại dương nguyên sinh và đại dương thứ sinh hay không? Vì sao nước
đại dương nhiều thế? Vì sao nước biển lại mặn?...
Về nguồn gốc của các đại dương. Có thể đưa ra một số nhóm ý kiến khác
nhau về quá trình hình thành và phát triển địa hình đáy đại dương.
Nhóm thứ nhất cho rằng, các đại dương là một thành tạo rất cổ có thể còn
cổ hơn cả các craton trên lục địa. Và các lục địa được sinh ra từ đại dương.
Nhóm thứ hai thì khẳng định, các đại dương hoàn toàn rất trẻ được xuất hiện ở
vị trí của các lục địa cổ do bị chìm xuống. Nhóm thứ 3 lại thấy rằng, đại dương
được thành tạo do mở rộng Trái Đất. Thực tế qua các tài liệu thu thập được
trong mấy chục năm trở lại đây, có thể nhận thấy, có đại dương là nguyên sinh,
có đại dương là thứ sinh. Người ta cho rằng, Thái Bình Dương là đại dương
nguyên sinh, còn các đại dương khác là thứ sinh.
Về nguồn gốc của nước trong đại dương. Đây là vấn đề khá phức tạp và

nước, đại dương và biển là nơi bắt đầu của sự sống. Nếu không có đại dương, thì
có thể không có sự sống trên hành tinh như chúng ta đã và đang thấy. Theo ý
kiến của nhiều nhà khoa học, khoảng 3,7 tỷ năm về trước sự sống đã bắt đầu
xuất hiện. Những dấu vết đầu tiên của sự sống là các vi hoá thạch đã được tìm
thấy. Đó là các tế bào đơn giản của vi khuẩn và tảo giống như các phytoplankton
phát triển rất phong phú trong các lớp nước mặt của đại dương hiện nay. Tuy
nhiên, sau đó vài tỷ năm nữa, một số ít sinh vật đầu tiên mới có khả năng thích
nghi với đời sống trên cạn. Dần dần, nhờ quá trình tiến hoá để thích nghi với

7


môi trường sống, các sinh vật tiến từ đơn giản đến phức tạp, từ sinh vật sơ cấp
đến sinh vật thứ cấp. Các dạng sống thực sự chỉ xuất hiện trong biển và đại
dương từ sau nguyên đại Thái Cổ (khoảng 600 triệu năm trước). Từ đó đến nay,
do quá trình tiến hoá và thích nghi, sự sống không ngừng hoàn thiện. Đến nay,
các nhà khoa học đã xác định được trên 200.000 loài động vật, thực vật và các vi
sinh vật khác đang sống trong biển và đại dương.
2.1.2. Vai trò của biển, đại dương với môi trường sinh thái, kinh tế - xã
hội
Biển và đại dương chiếm ¾ diện tích trái đất, độ sâu trung bình 4000m.
Chúng được coi là cái nôi của nhân loại và loài người. Từ buổi sơ khai con
người đã sử dụng biển và đại dương để phục vụ cho cuộc sống của mình.
Do độ che phủ bề mặt Trái Đất tới 71% nên các đại dương có ảnh hưởng
lớn tới sinh quyển. Sự bốc hơi nước của các đại dương quyết định phần lớn
lượng giáng thủy mà Trái Đất nhận được, nhiệt độ nước của các đại dương cũng
quyết định phần lớn khí hậu và kiểu gió trên Trái Đất. Sự sống trong lòng đại
dương có lịch sử tiến hóa diễn ra khoảng 3 tỷ năm trước khi có sự di chuyển của
động, thực vật lên trên đất liền. Lượng sự sống và khoảng cách tính từ bờ biển
(yếu tố vô sinh) ảnh hưởng tới sự phân bố chính của quần xã sinh vật biển. Các

xác chết của chúng.
Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại chủ
yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao
thông vào môi trường nước.
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô
nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hoá chất, ô nhiễm sinh học, ô
nhiễm bởi các tác nhân vật lý.

9


b, Khái niệm ô nhiễm biển
Là hiện tượng biến đổi, xáo trộn các thành phần hóa học của nước biển
gây ra do các hoạt động trên biển như vận tải, khai thác dầu lửa, hoặc do các
nguồn ô nhiễm phát sinh từ đất liền ảnh hưởng tới đời sống của các loài sinh vật
dưới biển và tác động xấu đến sự tăng trưởng, phát triển của chúng.
Các biểu hiện của sự ô nhiễm biển khá đa dạng, có thể chia ra thành một
số dạng như sau:
- Gia tăng nồng độ của các chất ô nhiễm tích tụ trong trầm tích biển vùng
ven bờ.
- Gia tăng nổng độ của các chất ô nhiễm trong nước biển như dầu, kim
loại nặng, các hóa chất độc hại.
- Suy giảm các hệ sinh thái biển như hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái
rừng ngập mặn, cỏ biển…
- Suy giảm trữ lượng các loài sinh vật biển và giảm tính đa dạng sinh học
biển.
- Xuất hiện các hiện tượng như thủy triều đỏ, tích tụ các chất ô nhiễm
trong các thực phẩm lấy từ biển.
- Công ước Luật biển năm 1982 đã chỉ ra 5 nguồn gây ô nhiễm biển: Các
hoạt động trên đất liền, thăm dò và khái thác tài nguyên trên thềm lục địa và đáy

ra biển. Riêng Mỹ năm 1961 có 4.087 và 1962 có 6.120 thùng phóng xạ được đổ
chôn xuống biển. Việc nhấn chìm các loại đạn dược, bom mìn, nhiên liệu tên lửa
của Mỹ đã được tiến hành từ hơn 50 năm nay. Riêng năm 1963 có 40.000 tấn
thuốc nổ và dụng cụ chiến tranh được hải quân Mỹ đổ ra biển [1].

11


Hình 2.1: Một con bồ nông ngụp lặn trong vùng nước đầy dầu gần đảo
East Grand Terre – Mỹ
Bảo vệ môi trường biển là một trong những nội dung quan trọng của các
chương trình bảo vệ môi trường của Liên Hợp Quốc và các quốc gia trên thế
giới. Công ước Luật biển năm 1982, Công ước Marpol 73/78 chống ô nhiễm
biển, Công ước quốc tế 1990 về việc sẵn sàng đối phó và hợp tác quốc tế chống
ô nhiễm dầu đã thể hiện sự quan tâm của quốc tế đối với vấn đề ô nhiễm biển.
b, Thực trạng ô nhiễm biển Việt Nam:
Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường biển và
ngày càng trở nên nghiêm trọng do hậu quả của sức ép dân số, sức ép tăng
trưởng kinh tế, khả năng quản lý và sử dụng kém hiệu quả các nguồn tài nguyên
biển.
Ô nhiễm biển bắt nguồn từ đất liền
Ô nhiễm dẫn đến sự cạn kiệt các tài nguyên cá, nhất là những loài cá ven
bờ; tính đa dạng sinh học ngày càng bị đe dọa do phá hủy môi trường sống như
rừng ngập mặn, rạn san hô; axít hóa đất do phát quang rừng ven biển trên các

12


vùng đất phèn để làm nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản; ô nhiễm do nước thải
đô thị không qua xử lý; sử dụng tràn lan và không kiểm soát hóa chất trong nông

vật chất hữu cơ và thừa ăn thừa đổ ra biển hàng năm. Trong đó, các tỉnh Nghệ
An, Thanh Hóa, Bình Định, Quảng Ngãi, Thái Bình, Quảng Nam và Hà Tĩnh có
lượng thải COD lớn hơn 100 nghìn tấn/năm. Các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An là
những tỉnh có đàn gia súc lớn và diện tích đất gieo trồng nông nghiệp cao nên
lượng chất thải COD khoảng 230 - 295 nghìn tấn/năm và lượng hóa chất bảo vệ
thực vật thải ra khoảng 1,1 - 1,4 nghìn tấn/năm).
Nguồn thải từ hoạt động công nghiệp của các vùng ven biển cũng rất đáng
lo ngại bởi khối lượng chất thải phát sinh khá lớn: 316 nghìn tấn COD, 119,1
nghìn tấn BOD và khoảng 42,9 nghìn tấn N-T; 5,2 nghìn tấn P-T và 218,6 nghìn
tấn TSS. Trong đó, các tỉnh có nguồn thải công nghiệp với tải lượng thải chất
hữu cơ tương đương trên 20 nghìn tấn COD/năm trở lên gồn có Bà Rịa - Vũng
Tàu, TP.HCM, Cà Mau, Khánh Hòa, Kiên Giang, Quảng Ninh. [2]

Hình 2.2. Mỗi ngày hàng nghìn m3 nước sinh hoạt và sản xuất không
được xử lý từ khu vực nội thành thải ra khu vực cửa biển Đình Vũ qua cống
Nam Đông (quận Hải An) gây ô nhiễm nguồn nước ven biển – Hải Phòng

14


Ô nhiễm biển do dầu gia tăng
Đáng quan ngại là tình trạng ô nhiễm biển do dầu có xu hướng gia tăng,
phức tạp hơn, số lượng tàu thuyền gắn máy loại nhỏ, công suất thấp, cũ kỹ và
lạc hậu tăng nhanh, nên khả năng thải dầu vào môi trường biển nhiều hơn.
Các tàu nhỏ chạy bằng xăng dầu đã thải ra biển khoảng 70% lượng dầu
thải. Ngoài ra, hoạt động của tàu thương mại trên tuyến hàng hải quốc tế cũng
thải vào biển Việt Nam một lượng lớn dầu rò rỉ, dầu thải và chất thải sinh hoạt
mà đến nay chưa thể thống kê đầy đủ.
Hiện nay, hàm lượng dầu trong nước biển của Việt Nam nhìn chung đều
vượt giới hạn tiêu chuẩn Việt Nam và vượt rất xa tiêu chuẩn ASEAN. Đặc biệt,


16


Nước biển ở một số khu vực có biểu hiện bị axít hóa do độ pH trong nước
biển tầng mặt biến đổi trong khoảng 6,3 - 8,2. Nước biển ven bờ có biểu hiện bị
ô nhiễm bởi chất hữu cơ, kẽm, một số chủng thuốc bảo vệ thực vật. Hiện tượng
thủy triều đỏ xuất hiện tại vùng biển Nam Trung Bộ, đặc biệt là tại Khánh Hòa,
Ninh Thuận, Bình Thuận làm chết các loại tôm cá đang nuôi trồng ở những khu
vực này.
Chất lượng môi trường biển thay đổi dẫn đến nơi cư trú tự nhiên của
nhiều loài bị phá hủy, gây tổn thất lớn về đa dạng sinh học vùng bờ. Có khoảng
85 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau và trên 70 loài đã được đưa vào
Sách Đỏ Việt Nam.
Hiệu suất khai thác hải sản giảm. Thêm vào đó, tình trạng dùng các ngư
cụ đánh bắt có tính chất hủy diệt diễn ra khá phổ biến, làm cạn kiệt các nguồn
lợi hải sản ven bờ. Nguồn lợi hải sản có xu hướng giảm dần về trữ lượng, sản
lượng và kích thước cá đánh bắt.
Chưa quan tâm đến công tác nghiên cứu về biển
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường biển Việt Nam là do
chúng ta chưa thực sự quan tâm và hành động đúng mức đối với công tác nghiên
cứu về biển. Chúng ta quá chú trọng vào phát triển kinh tế biển mà ít quan tâm
đến hệ thống thiên nhiên và bảo vệ môi trường (BVMT) nên dẫn đến hiện tượng
khai thác bừa bãi và sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên, khiến môi trường
suy thoái và làm mất cân đối các hệ sinh thái, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con
người và chất lượng cuộc sống. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng vùng ven biển và hải
đảo còn thiếu thốn và lạc hậu; sự phát triển kinh tế biển còn yếu kém, phiến
diện, sản xuất nhỏ, lạc hậu; tài nguyên biển chưa được khai thác tương xứng với
tiềm năng, chỉ chú trọng khai thác mà không quan tâm tái tạo, bảo vệ; thường
xuyên bị tàu nước ngoài xâm phạm, đánh bắt và khai thác trộm tài nguyên biển;

18


do vận chuyển hàng hóa là dầu mỏ, hàng nguy hiểm, độc hại bằng tàu, cũng như
do nước, rác và khí thải ra từ tàu.
Năm 1978, Công ước MARPOL 1973 được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị
định thư 1978 kèm thêm 5 phụ lục mới (MARPOL 73/78). Tiếp đến năm 1997,
MARPOL 73/78 được bổ sung bằng Nghị định thư 1997 có thêm Phụ lục 6. Như
vậy, đến nay MARPOL 73/78 đang được thực thi nghiêm ngặt trong ngành
Hàng hải thế giới.
Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với các tổn thất do ô nhiễm
dầu - CLC 1969 và 1992 với những quy định nhằm bảo đảm tài chính cho những
bên bị thiệt hại do tàu dầu gây ra và giới hạn trách nhiệm dân sự của chủ tàu.
Công ước COLREG về các quy tắc quốc tế phòng, tránh đâm, va trên biển
năm 1972.
Công ước BASEL về kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới các chất độc
hại và việc loại bỏ chúng năm 1989.
Công ước về đa dạng sinh học năm 1992.
Công ước RAMSA về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế,
đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước năm 1971, sửa đổi theo Nghị
định thư Paris năm 1982…

19


PHẦN 3. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: chất lượng nước biển
- Phạm vi nghiên cứu: Đầm Thị Nại – tỉnh Bình Định
3.2. Nội dung nghiên cứu

phòng thí nghiệm phân tích chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày lấy. Mẫu phân tích
độ muối phải lấy ở tất cả các trạm trên thuyền và ven bờ, cho riêng vào chai PE
0.5 lit đậy kín, và đưa về phòng thí nghiệm phân tích. Mẫu phân tích muối
không cho axít HCL.
b. Phương pháp phân tích:
- Phương pháp đo chiết suất để xác định độ muối.
- Phương pháp đo điện thế hoặc so màu để xác định độ pH.
- Phương pháp đo điện thế để xác định độ Eh.
- Phương pháp Volt - Amper hoà tan và hấp thụ nguyên tử dùng để định
lượng các kim loại trong nước biển.
- Phương pháp hoá học phân tích các á kim trong nước biển.
3.3.3. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel.

21


PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá – xã hội vùng nghiên cứu
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Vùng nghiên cứu nằm hoàn toàn trong khu vực Đầm Thị Nại thuộc Thành
phố Quy Nhơn – Bình Định (xem hình 4.2). Quy Nhơn nằm ở phía đông nam
của tỉnh Bình Định, phía đông là biển Đông, phía tây giáp huyện Tuy Phước,
phía bắc giáp huyện Tuy Phước và huyện Phù Cát, phía nam giáp huyện Sông
Cầu của tỉnh Phú Yên. Diện tích vùng nghiên cứu: 47km2.

Hình 4.1: Đầm Thị Nại nhìn từ phía sông Hà Thanh
Vùng điều tra được giới hạn bởi đường bờ dài 50 km và các điểm có tọa
độ được trình bày ở bảng 4.1


13o45’01”

109o14’59”

V

13045’02’’

109o12’49”

Hình 4.2: Vị trí vùng điều tra, khảo sát
b. Đặc điểm địa hình
+ Tỉnh Bình Định có kiểu địa hình lục địa ven biển, bao gồm:

23


- Địa hình đồng bằng – đồi thấp: địa hình này phát triển chủ yếu trên diện
tích nghiên cứu, với đặc trưng là tương đối bằng phẳng, độ cao chỉ từ 1 – 5m và
bị chia cắt nhiều bởi hệ thống kênh rạch.
- Địa hình núi thấp: địa hình núi thấp phát triển ở phía Đông diện tích
nghiên cứu (núi Phương Mai, Núi Đen, Núi Cấm) và phía Nam diện tích nghiên
cứu (núi Vũng Chùa…). Nhìn chung, địa hình núi ở đây có cao độ cao đạt đến
>500m và phát triển thành dải kéo dài ở phía Đông, còn ở các khu vực khác chỉ
hình thành các núi đơn lẻ.
c. Điều kiện thuỷ văn
+ Sông ngòi
Các sông trong tỉnh đều bắt nguồn từ những vùng núi cao của sườn phía
đông dãy Trường Sơn. Các sông ngòi không lớn, độ dốc cao, ngắn, hàm lượng

đông và mùa hè) kết hợp với địa hình ở từng đoạn cụ thể.
- Thuỷ triều: có chế độ nhật triều thuần nhất. Độ lớn triều đạt khoảng 1,5
đến 2,0 mét vào kỳ nước cường.
- Dòng chảy: Trong cả hai mùa đông và hè đều có dòng thường kỳ có xu
hướng từ Bắc xuống Nam. Ở ven bờ khu vực các cửa hệ thống sông lớn dòng
chảy rất phức tạp do động lực của dòng chảy sông rất lớn vào mùa lũ.
d. Đặc điểm khí hậu
Vùng Đầm Thị Nại nói riêng và tỉnh Bình Định nói chung mang tính chất
khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Do sự phức tạp của địa hình nên gió mùa khi vào
đất liền đã thay đổi hướng và cường độ khá nhiều.
Các hiện tượng thời tiết khác thường: khí hậu vùng nghiên cứu tương đối
ôn hòa, ít khi có sương mù, nhưng lại chịu ảnh hưởng xấu bởi áp thấp nhiệt đới
và bão vào các tháng 8, 9 và 10. Bình Định nằm ở miền Trung Trung bộ Việt
Nam, đây là miền thường có bão đổ bộ vào đất liền. Hàng năm trong đoạn bờ

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status