Áp dụng mô hình DPSIR đánh giá hiện trạng môi trường nước sông Cầu đoạn chảy qua tỉnh Thái Nguyên - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

ÁP DỤNG MÔ HÌNH DPSIR ĐÁNH GIÁ HIỆN
TRẠNG MÔI TRƢỜNG NƢỚC SÔNG CẦU
ĐOẠN CHẢY QUA TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên - năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu
thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết,
nghiên cứu khảo sát và phân tích từ thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của
TS. Dư Ngọc Thành.
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày
trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo
vệ cho một học vị nào, phần trích dẫn tài liệu tham khảo đều được ghi rõ
nguồn gốc. Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Huyền

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng biểu vii
Danh mục các hình viii
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Một số khái niệm liên quan 4
1.2. Các thông số đánh giá chất lượng nước 7
1.3. Vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt trên thế giới và Việt
Nam 8
1.3.1. Vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt trên thế giới 8
1.3.2. Vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt tại Việt Nam 11
1.3.3. Nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước 18

trường 35
CHƢƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1. Một số đặc điểm tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên 36
3.1.1. Vị trí địa lý 36
3.1.2. Đặc điểm địa hình, địa mạo 38
3.1.3. Đặc điểm khí hậu 39
3.1.4. Đặc điểm sông ngòi 41
3.2. Sức ép của kinh tế - xã hội lên môi trường nước sông Cầu 45
3.2.1. Dân số và nguồn nhân lực 45
3.2.2. Phát triển công nghiệp 47
3.2.3. Phát triển nông nghiệp 51
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

v
3.2.4. Các tác động tới môi trường do phát triển kinh tế - xã hội 53
3.3. Hiện trạng môi trường nước mặt lưu vực sông Cầu đoạn chảy
qua tỉnh Thái Nguyên 57
3.3.1. Các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước sông Cầu 57
3.3.2. Hiện trạng môi trường nước mặt lưu vực sông Cầu 60
3.4. Đánh giá mức độ tác động đến môi trường nước sông Cầu 65
3.4.1. Đánh giá mức độ tác động đến sinh hoạt 65
3.4.2. Đánh giá mức độ tác động đến kinh tế xã hội 67
3.4.3. Đánh giá mức độ tác động đến hệ sinh thái 67
3.5. Các giải pháp bảo vệ môi trường 68
3.5.1 Biện pháp liên quan đến thể chế chính sách 68
3.5.2 Biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nước thải 68
3.5.3 Biện pháp tuyên truyền giáo dục và xã hội hoá công tác
BVMT 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
1. Kết luận 72

GDP
Tống sản phẩm quốc nội
GTSX
Giá trị sản xuất
KTTĐ
Kinh tế trọng điểm
MTV
Một thanh viên
P
Áp lực
QCVN
Quy chuẩn Việt Nam
R
Đáp ứng
S
Hiện trạng
TDMN
Trung du miền núi
TNHH
Trách nhiệm hưu hạn
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
TSS
Hàm lượng chất rắn lơ lửng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU

công nghiệp 47
Hình 3.4. Sơ đồ phân tích chuỗi DPSIR cho động lực chi phối hoạt động
nông nghiệp 51
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
Nước là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự
tồn tại, phát triển bền vững của đất nước. Đặc điểm của tài nguyên nước là tái
tạo không theo không gian và thời gian. Nhưng ngoài quy luật tự nhiên, hoạt
động của con người cũng gây tác động không nhỏ đến vòng tuần hoàn của
nước. Sự tác động của con người tới môi trường nước ngày càng tăng lên cả
về quy mô lẫn cường độ, làm cạn kiệt tài nguyên và suy thoái môi trường.
Dưới áp lực của gia tăng dân số, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đã ảnh
hưởng tiêu cực tới tài nguyên nước như: tăng dòng chảy của lũ quét, cạn kiệt
nước vào mùa khô, suy thoái chất lượng nước và sẽ có xu hướng ngày càng
cạn kiệt nếu không được bảo vệ.
Phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, đô thị hoá, nông nghiệp hoá kéo theo
nhu cầu sử dụng nước vào sản xuất tại các nhà máy, nước cho sinh hoạt của
người dân tại các đô thị, thị trấn. Để đảm bảo nguồn nước cho các nhu cầu này,
việc khai thác nước mặt, nước ngầm tại chỗ là những biện pháp ưu tiên hàng đầu
đối với các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý cũng như các chủ dự án tại
các khu, cụm công nghiệp. Với nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng cao, nước
sau khi sử dụng không xử lý hoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn lại được xả thải
trực tiếp ra nguồn tiếp nhận đó là các nhánh sông, suối (Lê Thạc Cán, 1995).
Lưu vực sông Cầu là một trong lưu vực sông lớn ở Việt Nam, có vị trí
địa lý đặc biệt, đa dạng và phong phú về tài nguyên cũng như về lịch sử phát
triển Kinh tế xã hội. Lưu vực sông Cầu có dòng chính sông Cầu với chiều dài

- Đánh giá đúng hiện trạng ô nhiễm môi trường nước sông Cầu trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Kết quả phân tích thông số hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt
sông Cầu, so sánh với TCVN 08:2008/BTNMT cột A2 và cột B1.
- Những kiến nghị đưa ra phải có tính khả thi và phù hợp với điều kiện
thực tiễn ở địa phương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài là một bước tiếp theo cho việc nghiên cứu, điều tra các nguồn gây
tác động ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nước lưu vực sông Cầu trên
địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng và trên toàn lưu vực sông Cầu nói chung.
- Nâng cao kiến thức và kỹ năng rút ra kinh nghiệm thực tế, vận dụng
nâng cao kiến thức đã học.
- Củng cố được kiến thức cơ sở cũng như kiến thức chuyên ngành, sau
này có điều kiện tốt hơn để phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá hiện trạng môi trường, xác định được những tác động, áp
lực gây ô nhiễm môi trường nước sông Cầu và mức độ ảnh hưởng của chúng.
- Nâng cao nhận thức của người dân về công tác quản lý và bảo vệ môi
trường tại khu vực sinh sống.
- Giúp cho cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực môi trường đưa ra các
biện pháp quản lý cũng như các dự án phù hợp nhằm kiểm soát cũng như hạn
chế được tác động của các nguồn gây ô nhiễm chất lượng nước sông Cầu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
CHƢƠNG 1

thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các
hình thái vật chất khác.
- Khái niệm ô nhiễm môi trường nước:
Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa:
"Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng
nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công
nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các
loài hoang dã".
 Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt
đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại kể
cả xác chết của chúng.
 Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại
chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông
nghiệp, giao thông vào môi trường nước.
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô
nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hoá chất, ô nhiễm sinh học, ô
nhiễm bởi các tác nhân vật lý.
- Khái niệm tiêu chuẩn môi trường:
Theo khoản 5 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam 2005 [8]:
“Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép các thông số về chất lượng môi
trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền qui định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ
môi trường”.
- Khái niệm chỉ thị môi trường:
Chỉ thị (indicator) là một tham số (parameter) hay số đo (metric) hay
một giá trị kết xuất từ tham số, dùng cung cấp thông tin, chỉ về sự mô tả tình
trạng của một hiện tượng/ môi trường/ khu vực, nó là thông tin khoa học về
tình trạng và chiều hướng của các thông số liên quan môi trường. Các chỉ thị
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn



7
toa xe đóng kín cửa chật ních người, nhiệt độ sẽ cao dần và những người bên
trong sẽ cảm thấy khó chịu, vì nhiệt lượng toả ra từ cơ thể người đã làm tăng
nhiệt độ trong xe.
Cơ thể chúng ta là một nguồn ô nhiễm. Nêu vấn đề này ra có thể có một
số người chưa nhận thức được. Nhưng chúng ta sẽ phát hiện ra điều này khi
tập trung một số đông người trong một môi trường nhỏ hẹp. Bởi vậy, chúng ta
không những cần phòng ngừa ô nhiễm công nghiệp mà còn cần phòng ngừa
cơ thể gây ô nhiễm, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ chúng ta.
1.2. Các thông số đánh giá chất lƣợng nƣớc
Theo Escap (1994) [13], chất lượng nước được đánh giá bởi các thông
số, các chỉ tiêu đó là:
- Các thông số lý học, ví dụ như:
+ Nhiệt độ: Nhiệt độ tác động tới các quá trình sinh hoá diễn ra trong
nguồn nước tự nhiên sự thay đổi về nhiệt độ sẽ kéo theo các thay đổi về chất
lượng nước, tốc độ, dạng phân huỷ các hợp chất hữu cơ, nồng độ oxy hoà tan.
+ pH: Là chỉ số thể hiện độ axit hay bazơ của nước, là yếu tố môi
trường ảnh hưởng tới tốc độ phát triển và sự giới hạn phát triển của vi sinh vật
trong nước. Trong lĩnh vực cấp nước, pH là yếu tố phải xem xét trong quá
trình đông tụ hoá học, sát trùng, làm mềm nước, kiểm soát sự ăn mòn. Trong
hệ thống sử lý nước thải bằng quá trình sinh học thì pH phải được khống chế
trong phạm vi thích hợp đối với các loài vi sinh vật có liên quan, pH là yếu tố
môi trường ảnh hưởng tới tốc độ phát triển và giới hạn sự phát triển của vi
sinh vật trong nước.
- Các thông số hoá học, ví dụ như:
+ BOD: Là lượng ôxy cần thiết cung cấp để vi sinh vật phân huỷ các
chất hữu cơ trong điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và thời gian.
+ COD: Là lượng ôxy cần thiết để oxy hoá các hợp chất hoá học
trong nước.

Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với
nhịp độ đáng lo ngại. Tiến độ ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến bộ phát
triển kỹ nghệ. Sau đây là vài ví dụ tiêu biểu:
Ở Anh Quốc đầu thế kỷ 19 sông Tamise rất sạch. Nó trở thành ống
cống lộ thiên vào giữa thế kỷ này. Các con sông khác cũng có tình trạng
tương tự trước khi người ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
Nước Pháp rộng hơn, kỹ nghệ phan tán, nhiều sông rộng lớn nhưng vấn
đề cũng không không khác bao nhiêu. Dân Paris còn uống nước sông Seine
đến cuối thế kỷ 18. Từ đó đến nay vấn đề đã đổi khác: các con sông lớn và
nước ngầm nhiều nơi không còn dùng làm nước sinh hoạt nữa, 5000 km sông
khác của Pháp bị ô nhiễm mãn tính. Sông Rhin chảy qua vùng kỹ nghệ hoá
mạnh, khu vực có hơn 40 triệu người, là nạn nhân của nhiều tai nạn (Như nạn
cháy nhà máy thuốc Sandoz ở Bale năm 1986 chẳng hạn) thêm vào các nguồn
nước ô nhiễm thường xuyên.
Ở Hoa Kỳ tình trạng thảm thương ở bờ phía đông cũng như nhiều vùng
khác. Vùng Đại Hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario, đặc biệt
nghiêm trọng.
Riachuelo là con sông lớn chẩy qua thủ đô Buenos Aires của
Argentina. Thay vì trở thành nguồn cung cấp nước tưới tiêu và điều hoà khí
quyển cho thành phố, sông Riachuelo giờ đây đã nổi tiếng là con sông bẩn
thỉu và ô nhiễm nhất châu Mĩ, gây nhức nhối cho dân cư cũng như chính phủ
nước này. Từ nhiều năm nay, người ta đã không thấy một con cá nào có thể
sống được dưới sông Riachuelo, còn mùi xú uế nồng nặc bốc lên kèm theo rác
rưởi nổi lềnh phềnh trên mặt nước. Nước sông Riachuelo không còn một chút
oxi nào mà bị ô nhiễm nặng bởi nước thải sinh hoạt, chất độc hoá học từ các
nhà máy ven sông đổ ra kèm theo lượng khổng lồ rác thải trong thành phố
dồn về. Dọc triền sông Riachuelo hiện đang có tới hơn 2 triệu người dân

Ở thành phố Cáp Nhĩ Tân, Trung Quốc ngày 13/01/2005 đã xẩy ra vụ
nổ nhà máy hoá dầu gây ô nhiễm sông Tùng Hoa với chất benzen, mức độ ô
nhiễm dầu gấp 50 lần mức độ cho phép.
Ở Indonesia sông Citarum là con sông từng bị các nhà môi trường coi
là dòng sông ô nhiễm nhất thế giới là một phần không thể thay thế trong cuộc
sống của người dân vùng tây đảo Java. Theo số liệu của Ngân hàng Phát triển
châu Á (ADB), sông Citarum cung cấp 80% lượng nước sinh hoạt cho 14
triệu dân thủ đô Jakata, tưới cho những cánh đồng làm ra 5% sản lượng lúa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
gạo và là nguồn nước cho hơn 2.000 nhà máy – nơi làm ra 20% sản lượng
công nghiệp của quốc đảo này. Nhưng giờ đây mọi người đều coi sông
Citarum như một bãi rác di động, nơi chứa các chất hoá học độc hại do các
nhà máy xả ra, thuốc trừ sâu trôi theo dòng nước từ các cánh đồng và cả chất
thải do con người đổ xuống. Các chuyên gia môi trường cho rằng, quá trình
công nghiệp hoá diễn ra và hỗn loạn, cùng với công cuộc đô thị hoá hai mươi
năm qua là nguyên nhân chính gây ô nhiễm lưu vực sông Citarum rộng
13.000 km
2
. Thảm hoạ môi trường cũng đã trả giá bằng sinh mạng con người,
các thành phố hai bên bờ sông Citarum thường xuyên bị ngập lụt do dòng
chẩy của con sông bị tắc nghẽn bởi núi rác.
Hiện nay, tình trạng ô nhiễm nguồn nước nói chung và ô nhiễm nước
sông nói riêng đang là vấn đề quan trọng, cấp bách không chỉ của một nước
mà là vấn đề chung của toàn thế giới, toàn nhân loại. Loài người đang đứng
trước nguy cơ thiếu nước sạch trầm trọng. Nhiều sông hồ trên thế giới đang bị
ô nhiễm nặng gây ảnh hưởng xấu đến đời sống và phát triển của con người.
Vì thế vấn đề quản lý, giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước sông là một trong
những vấn đề cần được quan tâm hàng đầu để phát triển kinh tế và bảo vệ môi

chiều dài hàng chục cây số. Khu công nghiệp Việt Trì xả mỗi ngày hàng ngàn
m
3
nước thải của nhà máy hoá chất, thuốc trừ sâu, giấy, dệt … xuống sông
Hồng làm nước bị ô mhiễm đáng kể. Khu công nghiệp Biên Hoà, thành phố
Hồ Chí Minh tạo ra nguồn nước thải công nghiệp và sinh hoạt lớn, làm nhiễm
bẩn tất cả các sông rạch ở đây và cả vùng phụ cận. Nước dùng cho sinh hoạt
của dân cư ngày càng tăng nhanh do dân số và các đô thị. Nước cống từ nước
thải sinh hoạt cộng với nước thải của các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trong khu
dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị nước ta. Điều đáng nói là các loại
nước thải đều được trực tiếp thải ra môi trường, chưa qua xử lý gì cả, vì nước
ta chưa có hệ thống xử lý nào đúng nghĩa như tên gọi.
Theo kết quả nghiên cứu của Cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi
trường thì hiện nay tình trạng ô nhiễm và suy thoái tài nguyên nước (cả về số
lượng lẫn chất lượng) đã trở lên khá phổ biến đối với toàn bộ lưu vực các con
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
sông. Cũng theo kết quả nghiên cứu của cục Tài nguyên – Môi trường, chất
lượng nước tại các lưu vực sông trên toàn quốc đều đang ở tình trạng ô nhiễm
nghiêm trọng. Tại lưu vực sông Cầu (đoạn hồ Núi Cốc), một số đã vượt quá
tiêu chuẩn cho phép: lượng NO
2
vượt quá 20 lần, thuỷ ngân 3 lần, dầu mỡ 7
lần, thuốc trừ sâu 2 lần. Tại bến Đẵm, cuối sông Công, các chỉ tiêu để vượt
mức cho phép từ 6,5 – 14 lần. Một số đoạn sông có chứa chất thải thuộc khu
công nghiệp Thái Nguyên có mầu đen, người dân không dám lội qua sông khi
nước cạn; Bà con ở hai bên bờ cũng không giám giặt giũ ở sông nữa bởi vì
nhiều người đã bị ngứa và quần áo nồng nặc mùi hôi. Chất lượng nước sông
Nhuệ - sông Đáy chẩy qua địa bàn tỉnh Hà Nam đang bị ô nhiễm ở mức độ

Lưu vực sông Cầu: Đây không phải là lưu vực có nguy cơ ô nhiễm nữa
mà là một lưu vực đã bị ô nhiễm hoàn toàn. Dân số sống trong lưu vực này
chiếm khoảng 7 triệu trên một diện tích độ 10 ngàn km
2
. Trong lưu vực này,
ngoài khu sản xuất công nghiệp lớn nhất Thái Nguyên, qua việc khai thác mỏ
và hoá chất, còn có trên 800 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và quy mô
công nghiệp nhỏ như các làng nghề tập trung. Lượng chất thải lỏng thải hồi
vào lưu vực sông Cầu ước tính khoảng 24 triệu m
3
trong đó có nhiều kim loại
độc hại như Selenium, Mangan, Chì, Thiếc, Thuỷ Ngân và các hợp chất hữu
cơ từ các nhà máy sản xuất hoá chất bảo vệ thực vật, thuốc sát trùng, thuốc
trừ sâu rầy, trừ nấm mốc …
Lưu vực sông Nhuệ: Dân số trong lưu vực này khoảng 10 triệu trên
một diện tích 7.700 km
2
. Đây là một vùng có mật độ dân số cao trên 1000
người/km
2
và cũng là một trung tâm kinh tế quan trọng. Do đó ngoài nước
thải công nghiệp, cần phải kể thêm nước thải sinh hoạt, tất cả đều đổ thẳng ra
sông hồ. lượng nước thải sinh hoạt ước tính khoảng 120 triệu m
3
/ năm. Riêng
tại Hà Nội, có 400 xí nghiệp và khoảng 11 ngàn cơ sở sản xuất tiểu thủ công
nghiệp thải hồi trung bình 20 triệu m
3
/năm. Hà Tây là nơi trọng điểm của làng
nghề chiếm 120 làng trên tổng số 286 làng nghề trong khu vực.

vẫn còn nằm ở mức cao. Đáng chú ý, thay vì tồn tại chủ yếu trong nước ở
dạng hợp chất NH
3
như năm 2007, các chất dinh dưỡng đã được ghi nhận
nhiều ở dạng NO
2
trong năm 2010. So với các lưu vực còn lại, lưu vực sông
Sài Gòn đang là lưu vực có mức ô nhiễm cao nhất, bao gồm các mặt ô nhiễm
hữu cơ và ô nhiễm vi sinh. Đây cũng là lưu vực tiếp nhận một lượng khá lớn
nước thải công nghiệp và nước thải đô thị.
Lưu vực sông Đồng Nai: Lưu vực này chẳng những là một vùng đông
dân cư, với diện tích 14.500 km
2
và dân số khoảng 17.5 triệu người, mà còn là
một vùng tập trung phát triển công nghiệp lớn nhất và cũng là một vùng được
đô thị hoá nhanh nhất cả nước. Hàng năm sông ngòi lưu vực này tiếp nhận
khoảng 40 triệu m
3
nước thải công nghiệp, không kể một số lượng không nhỏ
của trên 30 ngàn cơ sở sản xuất hoá chất rải rác trong thành phố Hồ Chí
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trích đoạn Phỏt triển cụng nghiệp Phỏt triển nụng nghiệp Biện phỏp liờn quan đến thể chế chớnh sỏch Biện phỏp tuyờn truyền giỏo dục và xó hội hoỏ cụng tỏc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status