Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông Lô đoạn chảy qua thành phố Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang - Pdf 28

1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nước là tài nguyên thiên nhiên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết
yếu của sự sống và môi trường, là một trong những nhân tố quyết định sự
phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia. Tài
nguyên nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang chịu sức ép
nặng nề do biến đổi khí hậu, tốc độ gia tăng dân số, do sự phát triển của các
hoạt động kinh tế, đời sống khác có liên quan đến sử dụng nước. Do đó tình
trạng ô nhiễm, suy thoái nguốn nước ngày càng trầm trọng.
Tuyên Quang là tỉnh miền núi có điều kiện tự nhiên, tài nguyên phong
phú và đa dạng. Với tiềm năng khoáng sản giàu có, lượng mưa dồi dào, mạng
lưới thuỷ văn dày đặc, độ che phủ rừng lớn, lực lượng lao động trẻ, tình hình
chính trị- xã hội ổn định, Tuyên Quang là tỉnh có nhiều thế mạnh để phát triển
kinh tế- xã hội trong thời kỳ hội nhập và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Những năm qua kinh tế của tỉnh luôn đạt được tốc độ phát triển cao và
vững chắc ở hầu hết các lĩnh vực. Bước đầu trong tỉnh đã hình thành các khu
công nghiệp, khu du lịch, các điểm dịch vụ. Hệ thống kết cấu hạ tầng như
giao thông vận tải, học, lưới điện, bưu chính viễn thông được đầu tư xây
dựng và nâng cấp; đời sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh ngày càng được
nâng cao.
Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của Tuyên Quang đạt trung bình
17,12%. GDP bình quân đầu người tăng trung bình 15,93 %/năm. Tốc độ tăng
trưởng vốn đầu tư hàng năm trung bình 67,27 %, thu ngân sách trong 5 năm qua
tăng trung bình 21,52 %/năm. Cơ cấu kinh tế đang dần chuyển dịch theo hướng
tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông
nghiệp và thủy sản. Nhu cầu nước của mọi ngành kinh tế đều tăng lên rất nhanh.
Giai đoạn hiện tại sử dụng nước cho phát triển các ngành kinh tế chủ yếu vẫn là
khai thác nguồn nước mặt. Hệ thống sông suối của Tuyên Quang khá dày đặc,
phân bố tương đối giữa các vùng, chia làm ba lưu vực chính: lưu vực sông Lô,
sông Gâm và sông Phó Đáy. Trong đó sông Lô có khả năng vận tải tốt, đây là

bàn thành phố Tuyên Quang, xác định nguyên nhân gây suy thoái môi trường
3
nước sông và từ đó đề xuất các biện pháp quản lý môi trường phù hợp nhằm
giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Giúp em có cơ hội tiếp
cận với cách thức thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học, giúp em vận
dụng kiến thức đã học vào thức tế sau khi ra trường.
Ý nghĩa trong thực tiễn: Đề tài cung cấp cho em các thông tin, số liệu
về hiện trạng môi trường nước sông Lô, làm cơ sở cho đánh giá về tài nguyên
nước mặt nói riêng và tài nguyên nước nói chung .
1.4. Yêu cầu của đề tài
Đánh giá trung thực, khách quan hiện trạng chất lượng nước sông Lô
đoạn chảy qua thành phố Tuyên Quang.
Kết quả phân tích thông số hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt
sông Lô so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT.
Những kiến nghị đưa ra phải có tính khả thi với điều kiện ở địa phương.
4
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Vai trò và ý nghĩa của nước với đời sống
Nước tham gia vào thành phần cấu trúc sinh quyển, điều hòa các yếu tố
khí hậu, đất đai và sinh vật. Nước là thành phần cấu tạo, là dung môi hòa tan
nhiều chất cần thiết cho các hoạt động sống của tế bào, đồng thời nước còn là
môi trường của các phản ứng sinh hóa, là môi trường sống của động thực vật
thủy sinh. Nước còn đáp ứng những nhu cầu đa dạng của con người trong
sinh hoạt hàng ngày, tưới tiêu cho nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, sản
xuất điện năng và tạo ra nhiều cảnh quan đẹp.
2.1.1. Vai trò và ý nghĩa của nước với sức khỏe con người
Nước cần thiết cho hoạt động sống của con người cũng như các sinh vật.
Nước chiếm 74% trọng lượng trẻ sơ sinh, 55% đến 60% cơ thể nam trưởng

thành phần mô não được cấu tạo bởi nước, việc thường xuyên thiếu nước làm
giảm sút tinh thần, khả năng tập trung kém và đôi khi mất trí nhớ. Nếu thiếu
5
nước, sự chuyển hóa prôtêin và enzym để đưa các chất dinh dưỡng đến các bộ
phận khác của cơ thể sẽ gặp khó khăn. Ngoài ra, nước còn có nhiệm vụ thanh
lọc và giải phóng những độc tố xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa và
hô hấp một cách hiệu quả. Uống đủ nước làm cho hệ thống bài tiết được hoạt
động thường xuyên, bài thải những độc tố trong cơ thể, có thể ngăn ngừa sự
tồn đọng lâu dài của những độc tố gây ung thư, uống nước nhiều hàng ngày
giúp làm loãng và gia tăng lượng nước tiểu bài tiết cũng như góp phần thúc
đẩy sự lưu thông toàn cơ thể, từ đó ngăn ngừa hình thành các loại sỏi: đường
tiết niệu, bàng quan, niệu quản Nước cũng là một biện pháp giảm cân hữu
hiệu và đơn giản, nhất là uống một cốc nước đầy khi cảm thấy đói hoặc trước
bữa ăn. Cảm giác đầy dạ dày do nước sẽ ngăn sự thèm ăn và quan trọng hơn
là kích động quá trình chuyển hóa, đốt cháy nhanh năng lượng calo vừa hấp
thu qua thực phẩm. Nếu mỗi ngày đều đặn uống sáu ly nước thì một năm có
thể giảm hai kg trọng lượng cơ thể [2].
2.1.2. Vai trò và ý nghĩa của nước trong nền kinh tế quốc dân
Trong khu dân cư, nước phục vụ cho mục đích sinh hoạt, nâng cao đời
sống tinh thần cho nhân dân. Nước đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong quá
trình sản xuất nông nghiệp. Đối với cây trồng nước là nhu cầu thiết yếu, nước
hòa tan các chất khoáng, tham gia vào quá trình trao đổi chất của cây trồng,
ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, đồng thời còn có vai trò điều tiết các chế
độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí trong đất [2]
Bảng 2.1: Nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp
Loại cây Nhu cầu nước (m
3
/ha.năm)
Lúa 2 vụ 14.000 – 25.000
Hoa màu 4.500 – 5000

sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng. Cây cối, sinh vật chết đi, chúng
bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ. Một phần sẽ ngấm vào lòng đất,
sau đó ăn sâu vào nước ngầm, gây ô nhiễm, hoặc theo dòng nước ngầm hòa
vào dòng nước lớn.
Ô nhiễm do đặc tính địa chất của nguồn nước: Nước trên đất phèn
thường chứa nhiều sắt, nhôm, sunfat, nước lấy từ lòng đất thường chứa nhiều
sắt và mangan, nước vùng núi đá chứa nhiều canxi.
Ô nhiễm do mặn, nước mặn theo thủy triều hoặc từ mỏ muối khoáng
trong lòng đất, khi có điều kiện hòa lẫn trong môi trường nước, làm cho nước
bị ô nhiễm clo, natri.
7
Ô nhiễm nước do các yếu tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão, lụt ) có thể
rất nghiêm trọng, nhưng không thường xuyên và không phải là nguyên nhân
chính gây suy thoái chất lượng nước toàn cầu [8].
2.2.2. Ô nhiễm từ các hoạt động của con người
Sự ô nhiễm nhân tạo chủ yếu do xả nước thải từ các vùng dân cư, khu
công nghiệp, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, các loại phân bón trong nông
nghiệp, các phương tiện giao thông vận tải, đặc biệt là giao thông vận tải
đường biển.
Nguồn ô nhiễm do sinh hoạt: Nước thải sinh hoạt là nước thải phát sinh
từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, cơ quan trường học, chứa các chất
thải trong quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con người. Ở nhiều vùng, phân
người và nước thải sinh hoạt không được xử lý mà trở lại vòng tuần hoàn của
nước. Do đó bệnh tật có điều kiện để lây lan và gây ô nhiễm môi trường.
Nước thải không được xử lý chảy vào sông rạch và ao hồ gây thiếu hụt ôxy
làm cho nhiều loại động vật và cây cối không thể tồn tại.
Nguồn ô nhiễm do công nghiệp: Nước thải công nghiệp là nước thải từ
các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải.
Nước thải công nghiệp không có thành phần cơ bản giống nhau mà phụ thuộc
vào ngành sản xuất công nghiệp cụ thể.

(ADB), sông Citarum cung cấp 80% lượng nước sinh hoạt cho 14 triệu dân
thủ đô Jakarta, tưới cho những cánh đồng cung cấp 5% sản lượng lúa gạo và
là nguồn nước cho hơn 2.000 nhà máy - nơi làm ra 20% sản lượng công
nghiệp cho đảo quốc này. Dòng sông này là một phần không thể thay thế
trong cuộc sống của người dân vùng Tây đảo Java. Nó chảy qua những cánh
đồng lúa và những thành phố lớn nhất Indonesia. Tuy nhiên, hiện tại nó là
một trong những dòng sông ô nhiễm nhất thế giới. Citarum như một bãi rác di
động, nơi chứa các hóa chất độc hại do các nhà máy xả ra, thuốc trừ sâu trôi
theo dòng nước từ các cánh đồng và cả chất thải do con người đổ xuống. Ô
nhiễm nghiêm trọng khiến cá chết hàng loạt, người dân sử dụng nước cũng bị
lây nhiễm nhiều loại bệnh tật. Điều kinh hoàng hơn cả là nhiều hộ dân sống
quanh dòng sông này hàng ngày vẫn sử dụng nước sông để giặt giũ, tắm rửa,
thậm chí cả đun nấu.
Sông Buriganga, Bangladesh, Sông Buriganga là một trong những con
sông lớn chạy qua thủ đô Dhaka của Bangladesh. Tuy nhiên, từ năm 1995-
1999 mức ô nhiễm của sông rất cao. Sông bị ô nhiễm bởi các hóa chất từ các
nhà máy ximăng, xà phòng, nhuộm, da và giấy. Hầu hết những loại hóa chất
9
được xác định có trong nước sông đều thuộc nhóm 12 chất ô nhiễm hữu cơ
khó phân hủy (POP
s
), rất độc hại đối với con người. Các chất ô nhiễm này
liên tục thâm nhập vào cơ thể con người thông qua thực phẩm, đồ uống và
phá hủy các bộ phận của cơ thể.
Sông Hoàng Hà, Trung Quốc, Sông Hoàng Hà là con sông dài thứ 2 ở
Trung Quốc, có vai trò rất quan trọng đối với người dân nước này. Đây chính là
nguồn cung cấp nước lớn nhất cho hàng triệu người dân ở phía Bắc Trung Quốc
nhưng hiện giờ đã bị ô nhiễm nặng nề bởi sự cố tràn dầu và các chất thải công
nghiệp. Một đường ống dẫn dầu bị vỡ của Công ty dầu khí quốc gia Trung Quốc
với hơn 1.500 lít dầu đã tràn vào đất canh tác và một phụ lưu của sông Hoàng Hà.

benzene và những chất độc khác từ nhà máy đã đổ xuống sông. Benzene và
nitrobenzene là chất gây ung thư ngay cả với liều lượng nhỏ. Khối chất độc ấy
sẽ tiếp tục trôi xuống hạ nguồn, đổ vào con sông lớn Hắc Long Giang.
Sông King, Australia, Sông King nằm ở Tây Australia. Sông này có độ
phèn rất cao do chịu tác động của hơn 1,5 triệu tấn rác thải sunfit từ hoạt động
khai khoáng được đổ xuống mỗi năm. Lượng rác thải hiện là hơn 100 triệu
tấn, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho con sông này [7].
2.3.2. Hiện trạng chất lượng nước sông ở Việt Nam
Việt Nam có tài nguyên nước khá phong phú, có hơn 2360 con sông lớn
hơn 10km, trong đó có 9 hệ thống sông có diện tích từ 10000km
2
trở lên [10].
Phần lớn sông ngòi nước ta đều là nước ngọt, vừa cung cấp nước phục vụ nhu
cầu sinh hoạt của con người, vừa phục vụ cho ngành sản xuất khác. Tuy
nhiên, nước ngọt là tài nguyên hạn chế và dễ bị suy thoái, tối cần thiết cho sự
sống, phát triển của con người, sinh vật và môi trường [6].
Ở Việt Nam – một nước đang phát triển, mặc dù được nhà nước đặc biệt
quan tâm nhưng chỉ mới có 46 – 50% dân cư đô thị và 36 – 43% dân cư nông
thôn được dùng nước sạch. Nhiều người dân ở nhiều vùng còn phải dùng
nguồn nước không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh, kéo theo tỷ lệ dân cư mắc
bệnh khá cao: 90% phụ nữ nông thôn mắc bệnh phụ khoa, 95% trẻ em nông
thôn bị nhiễm giun, hàng năm có trên 1 triệu ca tiêu chảy, kiết lị Nguồn
nước bị ô nhiễm là nguyên nhân quan trọng tạo nên những nguy cơ tiềm tàng
của nhiều bệnh lý ở địa phương [9].
Lưu vực sông Cầu: Ðây không phải là nguy cơ ô nhiễm mà là một lưu
vực đã bị ô nhiễm hoàn toàn. Dân số sống trong lưu vực này chiếm khoảng 7
triệu trên một diện tích độ 10.000km
2
. Trong lưu vực này, ngoài khu sản xuất
công nghiệp lớn nhất Thái Nguyên, qua việc khai thác mõ và hóa chất, còn có

thẳng ra sông hồ. Lượng nước thải sinh hoạt được ước tính là 140 triệu m
3
theo thống kê 2004. Còn các nguồn nước thải của trên 120 cơ sở sản xuất
công nghiệp ở vùng nầy trừ Hà Nội ước tính khoảng 120 triệu m
3
/năm. Riêng
tại Hà Nội, có 400 xí nghiệp và khoảng 11 ngàn cơ sở sản xuất tiểu thủ công
nghiệp thải hồi trung bình 20 triệu m
3
/năm. Hà Tây là nơi trọng điểm của làng
nghề chiếm 120 làng trên tổng số 286 làng nghề trong khu vực. Hai hạ lưu có
ô nhiễm trầm trọng nhất là sông Nhuệ và sông Tô Lịch với hàm lượng DO
hầu như triệt tiêu, nghĩa là không còn điều kiện để cho tôm cá sống được, và
vào mùa khô nhiều đoạn sông trên hai sông nầy chỉ là những bãi bùn nằm trơ
cùng trời đất.
12
Lưu vực sông Ðồng Nai và sông Sài Gòn, Lưu vực này chẳng những là
một vùng đông dân cư như Hà Nội, với diện tích 14.500km
2
và dân số khoảng
17,5 triệu và cũng là một vùng tập trung phát triển công nghiệp lớn nhất và
cũng là một vùng được đô thị hóa nhanh nhất nước. Hàng năm sông ngòi
trong lưu vực nầy tiếp nhận khoảng 40 triệu m
3
nước thải công nghiệp, không
kể một số lượng không nhỏ của trên 30.000 cơ sở sản xuất hóa chất rải rác
trong TP.Hồ Chí Minh. Nước thải sinh hoạt ước tính khoảng 360 triệu m
3
.
Ngoài những chất thải công nghiệp như hợp chất hữu cơ, kim loại độc hại

mặt lớn gấp mười lần nhu cầu nước sản xuất và sinh hoạt. Tài nguyên nước dưới
đất dồi dào, chất lượng tốt đáp ứng tiêu chuẩn cấp nước cho ăn uống và sinh hoạt.
2.4.1.1. Tài nguyên nước mặt
Sự kết hợp giữa yếu tố địa lý tự nhiên, địa hình phân cắt mạnh mẽ và
lượng mưa dồi dào đã tạo cho Tuyên Quang có mạng lưới thủy văn dày đặc,
với mật độ khoảng 0,90km/km
2
. Mạng lưới sông ngòi của tỉnh phân bố khá
đồng đều giữa các vùng, gồm sông Lô, sông Phó Đáy, sông Gâm và trên 500
con sông suối nhỏ khác. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có trên 2000 ao hồ,
tạo mạng lưới thủy văn khá dày đặc theo các lưu vực sông chính.
Hàng năm trên địa bàn Tuyên Quang tiếp nhận lượng nước mưa trung
bình 9,8 tỷ m
3
, lượng nước mưa này phân bố khá đều trên lãnh thổ và một
phần lượng nước mưa này bị bốc hơi (khoảng 4,5 tỷ m
3
) chỉ còn lại 5,3 tỷ
m
3
/năm, ứng với lượng dòng chảy mặt khoảng 901 mm/năm.
Hồ chứa, trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang hiện tại có khoảng 473 hồ chứa
lớn nhỏ, trong đó hồ thủy điện Na Hang là hồ chưa lớn nhất của tỉnh vừa phục
vụ mục đích thủy điện, vừa phòng chống lũ lụt cho hạ lưu đồng thời là nơi
nghỉ mát du lịch cho khách du lịch trong và ngoài tỉnh.
Tuyên Quang là tỉnh có nguồn tài nguyên nước mặt phong phú đủ khả
năng cung cấp nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt của địa phương. Mạng lưới
sông ngòi của tỉnh rất dày, có tiềm năng lớn về thủy điện. Tuy nhiên do độ
dốc dòng chảy lớn, lòng sông hẹp nên vào mùa mưa sông suối ở Tuyên
Quang hay gây lũ lụt cho vùng thấp.

thành phố đột ngột thay đổi hướng chảy gần theo hướng Bắc – Nam.
Các phụ lưu chính trên sông Lô thuộc địa phận tỉnh Tuyên Quang:
Sông Gâm: là phụ lưu cấp I lớn nhất của lưu vực sông Lô, chiếm khoảng
44,1% diện tích của toàn bộ lưu vực sông Lô. Sông Gâm bắt nguồn từ Trung
Quốc chảy qua Cao Bằng, Hà Giang đi vào Tuyên Quang. Chảy theo hướng
Bắc - Nam, sông Gâm gặp sông Lô ở xã Tứ Quận -Yên Sơn phía trên thành
phố Tuyên Quang. Đoạn chảy trên đất Tuyên Quang dài 109 km với diện tích
lưu vực 2870km
2
, độ cao trung bình của lưu vực là 877km, độ dốc 22,7%. Có
các sông nhánh như sông Nheo, sông Năng đổ vào bờ trái, sông Nhiệm, ngòi
Quảng đổ vào bờ phải.
Sông Đáy: Là phụ lưu cuối cùng đổ vào sông Lô ở gần của sông, có
thượng lưu và trung lưu chảy trên địa bàn vùng núi và trung du phía Bắc, còn
hạ lưu chảy trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Sông Phó Đáy bắt nguồn từ vùng núi
Tam Tạo, huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn, chảy qua các huyện Yên Sơn Sơn
Dương của tỉnh Tuyên Quang, huyện Lập Thạch, Tam Đảo, Tam Dương,
15
Vĩnh Tường của tỉnh Vĩnh Phúc và nhập vào sông Lô tại giữa xã Sơn Đông
(Lập Thạch) và xã Việt Xuân (Vĩnh Tường) phía trên cầu Việt Trì độ 200m.
Sông Phó Đáy có nhiều phụ lưu nhỏ.
Tổng diện tích lưu vực là 1610km
2
, tương ứng với chiều dài 170km.
Đoạn chảy trên đất Tuyên Quang dài 80km, với diện tích lưu vực 800km
2
.
Sông chảy theo hướng Bắc - Nam qua vùng mưa ít nên dòng chảy không dồi
dào như sông Lô, sông Gâm. Sông Phó Đáy có lòng sông hẹp, nông, khả năng
vận tải đường thủy hạn chế [4].

Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng chất lượng môi trường nước sông Lô.
Phạm vi nghiên cứu: Môi trường nước sông Lô đoạn chảy qua thành phố
Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang.
3.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Quá trình lấy mẫu được tiến hành từ phường Tân Hà đến xã An
Khang. Bao bồm 3 vị trí: Cầu Tân Hà, phà Nông Tiến cũ – phường Minh
Xuân và xã An Khang.
Thời gian từ: 2/2012 – 5/2012
3.2. Nội dung nghiên cứu
3.2.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Tuyên
Quang
3.2.2. Đánh giá các hoạt động sản xất kinh doanh, dịch vụ dọc theo sông
Lô ảnh hưởng đến chất lượng nước sông Lô
3.2.3. Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sông Lô đoạn chảy qua thành
phố Tuyên Quang
3.2.4. Các nguồn gây ô nhiễm nước sông Lô
3.2.5. Đề xuất các giải pháp hạn chế, khắc phục ô nhiễm môi trường nước
sông Lô
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu thứ cấp
Phương pháp này là phương pháp khá phổ biến, đơn giản dễ làm, nhanh
và có hiệu quả. Đây là phương pháp tham khảo tài liệu có sẵn liên quan đến
vấn đề nghiên cứu. Đã tiến hành thu thập, nghiên cứu, thừa kế có chọn lọc các
tài liệu đã công bố về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Tuyên
17
Quang, các tài liệu phân tích, đánh giá chất lượng môi trường nước sông Lô
đã có tại Chi cục BVMT tỉnh Tuyên Quang, sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh
Tuyên Quang. Ngoài ra còn thu thập các thông tin khác liên quan đến đề tài
thông qua thực địa, sách báo, internet
3.3.2. Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa, quan trắc, lấy mẫu, bảo quản

WTW (Đức). Nhu cầu oxy hóa học COD được xác định bằng phương pháp
Permanganatkali.
- Oxy hòa tan được đo trực tiếp tại nơi lấy mẫu bằng phương pháp đầu
đo điện hóa.
- Vi khuẩn Coliform được xác định bằng phương pháp khuẩn lạc/100 ml
(lên men hàng loạt trong môi trường phù hợp).
- Tổng chất rắn lơ lửng TSS xác định bằng phương pháp lọc qua cái lọc
sợi thủy tinh.
- Photphat, Nitrat được xác định bằng phương pháp sắc ký lỏng ion.
- Sắt được xác định bằng phương pháp trắc phổ dùng thuốc thử 1,10 –
phenantrolin.
- Thủy ngân được xác định bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên
tử không ngọn lửa.
Mẫu lưu sau phân tích được bảo quản trong thời hạn 01 tháng. Sau thời
hạn này, mẫu lưu được hủy.
3.3.4. Phương pháp xử lý số liệu
Các thông tin, dữ liệu quan trắc thu thập được từ các nguồn khác nhau
được xử lý trên máy tính bằng phần mềm Excel.
20
PHẦN 4: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Tuyên Quang
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Thành phố Tuyên Quang nằm bên bờ sông Lô, là trung tâm kinh tế,
chính trị, văn hóa của tỉnh Tuyên Quang với 13 đơn vị hành chính trực thuộc
thành phố, trong đó có 7 phường: Hưng Thành, Nông Tiến, Ỷ La, Minh Xuân,
Phan Thiết, Tân Quang, Tân Hà và 6 xã: Tràng Đà, An Khang, Lưỡng
Vượng, Đội Cấn, Thái Long. Ranh giới của thành phố được xác định: phía
đông, bắc, tây giáp huyện Yên Sơn; phía nam giáp huyện Sơn Dương.
4.1.1.2. Địa hình, địa mạo

nhiệt độ trung bình là 16,0
o
C.
- Lượng mưa trung bình năm là 1600mm, phân bố không đều giữa các
tháng trong năm, mưa tập trung vào các tháng 5, 6, 7, 8 vào tháng 11, 12
lượng mưa không đáng kể.
- Độ ẩm không khí cao, trung bình cả năm là 84%, độ ẩm cao nhất vào
các tháng 7, 8, 9, 10 thấp nhất vào các tháng 12 và tháng 1 năm sau. Nhìn
chung, độ ẩm không khí trên địa bàn thành phố không có sự chênh lệch nhiều
giữa các tháng trong năm.
- Hướng gió chính trên địa thành phố là hướng Tây Bắc - Đông Nam,
tốc độ gió trung bình cả năm là 1,4m/s, tốc độ gió lớn nhất 36m/s, ít xảy
ra bão lốc.
- Độ bốc hơi, lượng bốc hơi phụ thuộc nhiệt độ không khí và vận tốc gió.
Thành phố có lượng bốc hơi trung bình đạt 753mm.
4.1.1.4. Chế độ thủy văn
Chế độ thuỷ văn phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống sông, ngòi, hồ nước có
trên địa bàn. Thành phố Tuyên Quang nằm ở hạ lưu sông Lô - Gâm và có 4
ngòi lớn là Ngòi Cơi, Ngòi Là, Ngòi Chả, Ngòi Thục nên chịu ảnh hưởng chế
độ thuỷ văn của các sông, ngòi đó.
Hệ thống sông Lô - Gâm: Bắt nguồn từ cao nguyên Vân Nam Trung
Quốc, chảy qua Hà Giang, qua thành phố Tuyên Quang: Diện tích lưu vực
29.600km2, lưu lượng lớn nhất mùa lũ Q
max
= 8.890m
3
/s, lưu lượng trung bình
năm mùa lũ Q
tb
= 725m

có mỏ than ở phường Minh Xuân, mỏ kẽm, chì ở núi Tràng Đà…
4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội
4.1.2.1. Dân số và nguồn nhân lực
Theo số liệu thống kê, năm 2011 dân số thành phố Tuyên Quang có
139.000 người, với 23.255 hộ. Dân cư phân bổ không đồng đều tập trung ở
phường nội thành, mật độ dân cư của thành phố 1.166 người/km
2
cao nhất
trên địa bàn tỉnh. Trong vài năm gần đây, thành phố đã đẩy mạnh công tác
tuyên truyền về dân số, áp dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ
sức khoẻ bà mẹ trẻ em nên tốc độ phát triển dân số có chiều hướng giảm.
23
Năm 2011 thành phố có 86.968 lao động trong độ tuổi, chiếm 62,12%
dân số. Trong đó: lao động nam 43.499, lao động nữ 43.469. Là nơi có vị trí
và điều kiện thuận lợi nên nguồn nhân lực ở đây khá dồi dào, tuy nhiên nguồn
nhân lực ở đây có trình độ không đồng đều nên còn nhiều khó khăn trong việc
sử dụng nguồn nhân lực.
4.1.2.2. Hệ thống kết cấu hạ tầng
Giao thông, Với vai trò là trung tâm kinh tế, xã hội của tỉnh, hệ thống
giao thông của thành phố luôn được đầu tư cải tảo và nâng cấp thường xuyên.
Hệ thống giao thông của thành phố chủ yếu là đường bộ. Trên địa bàn thành
phố có nhiều tuyến giao thông quan trọng, tạo động lực thúc đẩy phát triển
kinh tế thành phố như: tuyến quốc lộ 2, quốc lộ 37, quốc lộ 2C, tuyến đường
thuỷ (sông Lô) và hệ thống giao thông nội thành tương đối hoàn chỉnh.
Thuỷ lợi, những năm gần đây thành phố đã quan tâm đầu tư nhiều vào
thực hiện chương trình kiên cố hoá, xây dựng hoàn chỉnh và nâng cao năng
lực phục vụ của hệ thống các công trình thuỷ lợi trên địa bàn, đặc biệt là các
vùng chuyên canh trồng rau, hoa…Hệ thống cấp thoát nước hiện tại phục vụ
được cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất được thực hiện khá đồng bộ theo quy
hoạch mở rộng đô thị năm 2010.

trung học cơ sở. Tỷ lệ huy động trẻ đến tuổi vào lớp một đạt 100%, mẫu giáo
và nhà trẻ đạt 100%.
4.2. Đánh giá các hoạt động sản xất kinh doanh, dịch vụ dọc theo sông Lô
ảnh hưởng đến chất lượng nước sông Lô
4.2.1. Các hoạt động sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp ảnh hưởng đến chất
lượng nước sông Lô
Xác định rõ vai trò quan trọng của sản xuất nông lâm nghiệp, những năm
qua thành phố rất coi trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa các loại giống có
hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất. Bước đầu đã hình thành một số vùng sản
xuất tập trung chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường
và tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích như chuyên canh hoa, rau
các loại, chuyên canh cây thức ăn gia súc ở một số nơi như Ỷ La, Hưng
Thành Đồng thời với các lợi ích đem lại, việc sản xuất nông nghiệp cũng
25
mang lại rất nhiều tác hại cho môi trường, đặc biệt là môi trường đất và nước.
Việc lạm dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, hóa chất BVTV làm cho
môi trường nước bị suy thoái. Các chất này, một phần bị cây hấp thụ, một
phần ngấm xuống nước ngầm còn lại là theo các dòng chảy đổ ra sông suối.
Sông Lô đoạn chảy qua thành phố Tuyên Quang có bốn cửa ngòi mang theo
các sản phẩm của hoạt động sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến chất lượng
nước sông. Đó là: của ngòi xã Thắng Quân, xã Thái Bình, xã Hoàng Khai
(Yên Sơn), xã Tràng Đà (thành phố Tuyên Quang). Nước mưa chảy tràn đem
theo các sản phẩm của quá trình sản xuất đổ vào các con suối này, ngoải ra
một số nơi con đem rác thải sinh hoạt ra đổ ở bờ suối, theo dòng nước các
chất này đều đổ vào sông Lô làm suy giảm chất lượng nước sông.
4.2.2. Các hoạt động công nghiệp ảnh hưởng đến chất lượng nước sông Lô
Trong năm, thành phố đã tập trung xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, có
cơ chế chính sách thu hút, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia sản
xuất kinh doanh các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ nhằm tạo việc
làm cho lao động địa phương. Tuy nhiên hoạt động sản xuất công nghiệp của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status