Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông cầu đoạn từ sơn cẩm đến công ty cổ phần gang thép thái nguyên TP thái nguyên tỉnh thái nguyên - Pdf 13

MỤC LỤC
Trang
2
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà tự nhiên ban tặng cho loài
người, không có nước thì không có sự sống và cũng không có một hoạt động
kinh tế nào có thể tồn tại được. Nước là khởi đầu và là nhu cầu thiết yếu của
sự sống; là yếu tố quan trọng của sản xuất; là nhân tố chính để bảo đảm môi
trường.Tuy vậy, nguồn tài nguyên nước đang ngày càng khan hiếm, khối
lượng và chất lượng nước ngày càng suy giảm, hạn hán và lũ lụt xảy ra gay
gắt ở cả quy mô, mức độ và thời gian trong khi nhu cầu sử dụng nước ngày
càng tăng và đó chính là nguyên nhân đã gây ra khủng hoảng về nước ở nhiều
nơi trên thế giới.
Trong những năm qua Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể về
kinh tế, tốc độ phát triển kinh tế cao vì thế nhu cầu khai thác sử dụng nguồn
nước phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt cũng ngày càng tăng. Tuy nhiên, việc
khai thác, sử dụng không đi kèm với công tác bảo vệ, phát triển bền vững thì
trong tương lai tình trạng suy thoái cạn kiện nguồn nước là hậu quả không thể
tránh khỏi. Để phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững thì công tác bảo
vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên nước cần được chú trọng. Bảo vệ môi
trường lưu vực sông hiện nay là vấn đề đang nhận được sự quan tâm của cả
cộng đồng, trong đó có lưu vực sông Cầu. Từ năm 1997 tỉnh Thái Nguyên đã
khởi xướng cùng với 5 tỉnh trong lưu vực (Bắc Kạn, Vĩnh Phúc, Bắc Giang,
Bắc Ninh, Hải Dương) xây dựng “Đề án tổng thể bảo vệ và phát triển bền
vững môi trường sinh thái, cảnh quan lưu vực sông Cầu”. Đề án đã được
chính phủ phê duyệt tại quyết định số 174/2006/QĐ - TTg ngày 28/07/2006.
Giai đoạn đầu tỉnh Thái Nguyên được giao nhiệm vụ làm chủ tịch Ủy ban lưu
vực sông Cầu.
Tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh trong lưu vực đã xác định được tầm quan

nghiên cứu khoa học, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế sau khi ra trường.
Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề tài trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về ô nhiễm môi
trường nước, làm cơ sở cho đánh giá về tài nguyên nước mặt nói riêng và tài
nguyên nước nói chung.
3
4
1.4. Yêu cầu của đề tài
Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt sông Cầu đoạn từ
Sơn Cẩm đến Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên.
Kết quả và số liệu đánh giá chính xác, trung thực, khách
Kết quả phân tích thông số hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt
sông Cầu so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT.
Những kiến nghị, đề xuất đưa ra phải có tính khả thi và phù hợp với điều
kiện thực tiễn.
4
5
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Cơ sở lý luận
2.1.1.1. Một số khái niệm có liên quan
- Khái niệm môi trường:
Theo điều 1 khoản 3 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam (2005) [15], môi
trường được định nghĩa như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và
vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất,
sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.
- Khái niệm ô nhiễm môi trường:
Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam (2005) [15]: “Ô
nhiễm môi trường là sự biến đổi của thành phần môi trường không phù hợp

lượng nước, tốc độ, dạng phân huỷ các hợp chất hữu cơ, nồng độ oxy hoà tan.
+ pH: Là một trong những chỉ tiêu cần kiểm tra đối với chất lượng nước
cấp và nước thải. Giá trị pH cho phép xác định xử lý nước theo phương pháp
thích hợp hoặc điều chỉnh lượng hóa chất trong quá trình xử lý thải bằng
phương pháp sinh học. Sự thay đổi giá trị pH trong nước có thể dẫn tới những
thay đổi về thành phần các chất trong nước do quá trình hòa tan hoặc kết tủa,
hoặc thúc đẩy hay ngăn chặn những phản ứng hóa học, sinh học xảy ra trong nước.
+ Màu sắc: Màu sắc của nước là do các chất bẩn trong nước gây nên.
Màu sắc của nước có ảnh hưởng nhiều tới giá trị cảm quan khi sử dụng nước.
Màu sắc gây nên bởi các tạp chất trong nước thường là do chất hữu cơ, một số
ion vô cơ, một số loài thủy sinh vật…
+ Độ đục: Độ đục của nước là mức độ ngăn cản ánh sáng xuyên qua
nước. Độ đục của nước có thể do nhiều loại chất lơ lửng bao gồm các loại có
kích thước hạt keo đến những hệ phân tán thô gây nên như các chất huyền
phù, các hạt cặn đất cát, các vi sinh vật. Nó cũng chứa nhiều thành phần hoá
học: vô cơ, hữu cơ Độ đục cao biểu thị nồng độ nhiễm bẩn trong nước cao.
+ Hàm lượng chất rắn: Chất rắn ảnh hưởng tới chất lượng nước khi sử
dụng cho sinh hoạt, sản xuất, cản trở hoặc tiêu tốn thêm nhiều hóa chất trong
quá trình sử lý. Chất rắn có trong nước là do các chất vô cơ ở dạng hòa tan
hoặc không tan như đất đá ở dạng huyền phù và các chất hữu cơ, chất hữu cơ
tổng hợp như vi sinh vật, phân bón, chất thải công nghiệp.
6
7
- Chỉ tiêu hóa học
+ Hàm lượng oxy hòa tan trong nước (DO: Dissolved oxygen): Là lượng
oxy không khí có thể hòa tan vào nước trong điều kiện nhiệt độ, áp suất xác
định. Hàm lượng oxy hòa tan trong nước giúp ta đánh giá chất lượng nước.
Khi chỉ số DO thấp, có nghĩa là nước có nhiếu chất hữu cơ, nhu cầu oxy hóa
tăng nên tiêu thụ nhiều oxy trong nước. Khi chỉ số DO cao chứng tỏ nước có
nhiều rong tảo tham gia quá trình quang hợp giải phóng O

Bảng 2.1. Trữ lượng nước trên trái đất
Thủy phần
Diện tích
(1000 km
2
)
Thể tích
(1000 km
3
)
Tỷ lệ %
tổng lượng
1. Đại dương 361.300 1.370.323 97,9668
2. Tổng nước ngầm 134.800 60 0,0043
3. Nước ngầm ở vùng trao đổi 82.000 4.000 0,286
4. Băng hà 16.227 24.000 1,7158
5. Nước hồ 2.059 280 0,02
6. Nước trong tầng thổ nhưỡng 82.000 85 0,006
7. Hơi nước trong khí quyển 510.000 14 0,001
8. Nước sông 148.800 1,2 0,0001
Tổng cộng 1.337.186 1.398.763,2 100
(Nguồn: Nguồn nước và tính toán thủy lợi - Trịnh Trọng Hàn - 1993) [6].
Nước đóng vai trò rất quan trọng gắn liền với sự phát sinh và phát triển
của sinh vật và đặc biệt không thể thiếu được trong sự phát triển nền kinh tế
của mọi quốc gia. Triết học cổ đại đã cho rằng 4 yếu tố khởi nguyên cấu tạo
nên mọi vật là khí trời, nước, lửa và đất (Emerpadocles - 490 - 439 trước công
nguyên). Lịch sử văn minh nhân loại chứng minh điều đó với các nền văn
minh lớn đã hình thành rất sớm trên lưu vực các con sông. Đó là văn minh
Lưỡng Hà ở Tây Á, nền văn minh Ai Cập ở hạ lưu sông Nil, văn minh sông
Hằng ở Ấn Độ, văn minh Hoàng Hà ở Trung Quốc, văn minh sông Hồng ở

nguyên và Môi trường ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.
Quyết định số 22/2006/QĐ - BTNMT ngày 18/08/2006 của Chính phủ
về việc bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường.
Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam QCVN 08:2008/BTNMT, quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về chất lượng nước mặt.
Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam QCVN 40:2011/BTNMT, quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về chất lượng nước thải.
Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam QCVN 28:2010/BTNMT, quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về nước thải y tế.
9
10
Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam QCVN 12:2008/BTNMT, quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về nước thải công nghiệp giấy và bột giấy.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1. Vấn đề ô nhiễm môi trường nước trên thế giới
Tài nguyên nước trên thế giới có trữ lượng khoảng 1,399 tỷ km
3
, trong
đó trữ lượng nước sông là 1,2.10
3
km
3
với diện tích 148800.10
3
km
2
chiếm
0,0001% tổng lượng nước (Dư Ngọc Thành, 2009) [18]. Đây là nguồn nước
chính phục vụ cho nhu cầu của con người, do vậy nó đóng vai trò vô cùng
quan trọng đối với sự phát triển của mọi quốc gia trên thế giới. Nhưng đi đôi

2
, một trong những khu vực
phì nhiêu và có mật độ dân cao nhất thế giới. Sông Hằng được người Hindu
rất coi trọng và sùng kính, là trung tâm của những truyền thống xã hội và tôn
giáo của đất nước Ấn Độ. Lưu vực sông Hằng gần như tạo ra một vùng đất
liền thứ ba của Ấn Độ và là một trong 12 vùng dân cư trên thế giới phụ thuộc
vào con sông. Hiện nay, sông Hằng là một trong những con sông bị ô nhiễm
nhất trên thế giới vì bị ảnh hưởng nặng nề bởi nền công nghiệp hóa chất, rác
thải công nghiệp và rác thải sinh hoạt chưa qua xử lý tới mức những người
mộ đạo trước kia tôn thờ nguồn nước sông này giờ đây lại trở nên khiếp sợ
chính nguồn nước đó. Chất lượng nước đang trở nên xấu đi nghiêm
trọng. Cùng với sự mất đi khoảng 30 - 40% lượng nước do những đập nước
đang làm cho sông Hằng trở nên khô cạn và có nguy cơ biến mất. Theo ước
tính, có hơn 400 triệu người sống dọc hai bờ sông Hằng và mỗi ngày có 2
triệu người tới bờ sông làm các nghi thức tắm rửa tại đây. Ngoài ra, do phong
tục hỏa táng một phần thi thể rồi thả trôi sông nên những thi thể người trôi
lững lờ trên dòng sông này, rồi rác thải trực tiếp từ các bệnh viện do thiếu lò
đốt cũng là một nguyên nhân làm tăng ô nhiễm sông. Nước sông giờ không
những không thể dùng ăn uống, tắm giặt mà còn không thể dùng cho sản xuất
nông nghiệp. Các nghiên cứu cũng phát hiện tỷ lệ các kim loại độc trong nước
sông khá cao như thủy ngân (nồng độ từ 65 - 520 ppb), chì (10 - 800 ppm),
crom (10 - 200 ppm) và nickel (10 - 130 ppm).
Sông Hoàng Hà là con sông dài thứ 2 ở Trung Quốc, có vai trò rất quan
trọng đối với người dân nước này. Đây chính là nguồn cung cấp nước lớn
nhất cho hàng triệu người dân ở phía bắc Trung Quốc nhưng hiện giờ đã bị ô
nhiễm nặng nề bởi sự cố tràn dầu và các chất thải công nghiệp. Một báo cáo
của ủy ban bảo vệ sông Hoàng Hà cho biết 33,8% mẫu nước lấy từ con sông
này không đạt tiêu chuẩn để trồng trọt, nuôi trồng thủy sản cũng như sử dụng
cho công nghiệp. Năm 1994, Hoàng Hà được đánh giá bị ô nhiễm chất thải
công nghiệp cấp 5 là cấp nhiễm độc cao nhất, sản sinh nhiều làng ung thư.

thể con người thông qua thực phẩm, đồ uống và phá hủy các bộ phận của cơ thể.
Sông Mississipi con sông dài thứ 2 ở Mỹ, với 3.782 km, bắt nguồn từ hồ
Itasca, chảy qua hai bang Minnesota và Louisiana. Mực nước sông
Mississippi giảm tới 22% trong giai đoạn từ năm 1960 đến năm 2004. Sự sụt
giảm này liên quan tới tình trạng biến đổi khí hậu và gây ảnh hưởng lớn đối
12
13
với hàng trăm triệu người trên thế giới. Theo Quỹ bảo vệ thiên nhiên toàn cầu,
con sông này đang trở nên cạn kiệt, khô cằn, ảnh hưởng đến hàng trăm triệu
người và phá hủy sự sống ở những vùng lưu vực con sông. Nếu con sông này
“chết” thì hàng triệu người sẽ mất đi những nguồn sống của họ, sự đa dạng
sinh học bị phá hủy trên diện rộng, nước ngọt sẽ thiếu trầm trọng và đe doạ
tới an ninh lương thực.
Riachuelo là con sông lớn chảy qua thủ đô Buenos Aires của Argentina.
Thay vì trở thành nguồn cung cấp nước tưới tiêu và điều hòa khí quyển cho
thành phố, sông Riachuelo giờ đây nổi tiếng là con sông bẩn và ô nhiễm nhất
châu Mĩ, gây nhức nhối cho dân cư cũng như chính phủ nước này. Nước sông
Riachuelo không còn một chút oxy nào mà bị ô nhiễm nặng bởi nước thải
sinh hoạt, chất độc hóa học từ các nhà máy ven sông đổ ra kèm theo lượng rác
thải trong thành phố dồn về. Dọc triền sông Riachuelo hiện đang có tới hơn 2
triệu người dân Argentina sinh sống, đa số dân cư trong khu vực này đều là
lao động nghèo, người nhập cư bất hợp pháp và một phần không nhỏ tầng lớp
xã hội da đen sinh sống. Họ điềm nhiên vứt rác và đổ bất cứ thứ gì không cần
thiết xuống sông như một tiền lệ và thói quen đã được mọi người chấp nhận
từ lâu. Nạn ô nhiễm môi trường xung quanh khu vực Riachuelo kéo theo nguy
cơ bùng phát của những ổ dịch bệnh nguy hiểm do thiếu vệ sinh như: Tiêu
chảy, lao, hen suyễn, sốt rét và thậm chí cả bệnh ung thư, đe dọa nghiêm
trọng sức khỏe người dân thủ đô Buenos Aires của Argentina (Hoài Thư,
2007) [19].
Hiện nay, tình trạng ô nhiễm nguồn nước nói chung và ô nhiễm nước

công trình, thiết bị xử lý chất thải. Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là
rất nặng, cụ thể: Ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và
bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9 - 11; chỉ số nhu cầu oxy
sinh hóa (BOD), nhu cầu oxy hóa học (COD) có thể lên đến 700 mg/l và 2500
mg/l; hàm lượng chất rắn lơ lửng… cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép.
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công
nghiệp tập trung là rất lớn. Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ
Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng
lượng nước thải ước tính 500.000 m
3
/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt,
nhuộm, dệt. Ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các
nhà máy giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn
tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu
vực sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH trung bình 8,4 - 9 và hàm
14
15
lượng NH
4
là 4 mg/l, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi
khó chịu…
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh. Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có
hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận. Mặt khác, còn rất
nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các cơ sở y tế, bệnh viện
chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng lớn rác thải rắn trong thành phố
không được thu gom… là những nguồn quan trọng gây ô nhiễm nước. Hiện
nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông hồ ở các thành phố lớn là rất nặng.
2.2.2.2. Ô nhiễm ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp
Hiện nay, Việt Nam có gần 76% dân số sinh sống ở nông thôn là nơi cơ

nhiễm nặng, hàm lượng amoniac trong nước cao gấp 150 - 300 lần so với tiêu
chuẩn châu Á. Tại lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn, phần hạ lưu của nhiều
sông trong lưu vực đã bị ô nhiễm chất hữu cơ, vi sinh vật và nhiễm kim loại
nặng nghiêm trọng, trong đó sông Thị Vải có đoạn dài 10 km đã trở thành
“sông chết” (Huyền Thanh, 2007) [17].
Sau đây là một số lưu vực sông đã bị ô nhiễm ở mức đáng báo động:
Lưu vực sông Cầu: Đây không còn là lưu vực có nguy cơ ô nhiễm nữa
mà đã hoàn toàn ô nhiễm. Dân số sống trong lưu vực này chiếm khoảng 7
triệu người trên một diện tích độ 10.000 km
2
. Trong lưu vực này, ngoài khu
sản xuất công nghiệp lớn nhất Thái Nguyên, qua việc khai thác mỏ và hóa
chất, còn có trên 800 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và các khu công
nghiệp nhỏ như các làng nghề tập trung. Lượng chất thải lỏng thải hồi vào lưu
vực sông Cầu ước tính khoảng 24 triệu m
3
trong đó có nhiều kim loại độc hại
như: Selenium, mangan, chì, thiếc, thủy ngân và các hợp chất hữu cơ từ các
nhà máy sản xuất hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc sát trùng,…
Lưu vực sông Nhuệ - Đáy: Sông Nhuệ - Đáy thuộc phần Tây Nam của
vùng đồng bằng Bắc bộ, ở phía hữu ngạn của sông Hồng, với diện tích tự
nhiên của lưu vực 7.665 km
2
, dân số 10.186.000 người, mật độ dân số 874
người/ km
2
(cao hơn 3,5 lần mật độ trung bình cả nước), có trên 4.000 cơ sở
sản xuất công nghiệp (năm 2005). Vì vậy, ngoài nước thải công nghiệp, còn
phải kể đến nước thải sinh hoạt, tất cả đều đổ thẳng ra sông hồ. Lượng nước
thải sinh hoạt được ước tính là 140 triệu m

hóa như đoạn sông từ cầu Bình Long đến Bến Than, có khi độ pH xuống đến
4,0 và trọng điểm là sông Rạch Tra, nơi tất cả nước rỉ từ các bãi rác thành phố
và hệ thông nhà máy dệt nhuộm ở khu Tham Lương đổ vào. Lưu vực này hiện
đang bị khai thác quá mức, nước sông hoàn toàn bị ô nhiễm và hệ sinh thái bị
tàn phá và đây cũng là một yếu tố sống còn cho sự phát triển cho cả nước.
Lưu vực sông Tiền Giang và Hậu Giang: Đây là một vùng hết sức đặc
biệt và cũng là một lưu vực lớn nhất, đông dân nhất, với diện tích 39 nghìn
km
2
với gần 30 triệu dân. Phát triển kinh tế nơi đây đặt trọng tâm là nông
nghiệp và chăn nuôi thủy sản. Vì không phải là một trọng điểm công nghiệp
cho nên những vấn đề môi trường không giống như tình trạng 3 lưu vực trên.
Nhưng việc khai thác nông nghiệp và thủy sản đã trở thành một vấn đề cần
lưu tâm. Việc ô nhiễm hóa chất do dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực
vật là kết quả của việc khai thác tối đa nguồn đất nông nghiệp. Đã có nhiều
dấu hiệu cho thấy các hóa chất độc hại như: DDT, nitrate, hóa chất bảo vệ
thực vật thuộc nhóm Organophosphate, nguyên nhân của nhưng mầm bệnh
gây ung thu đã hiện diện trong nước. Thêm nữa, viễn cảnh nguồn nước ở lưu
vực này bị ô nhiễm asen do việc đào trên 300 nghìn giếng để dùng cho sinh
17
18
hoạt và tưới tiêu cũng sẽ là một quốc nạn trong tương lai không xa. Việc khai
thác, chăn nuôi thủy sản trên sông không những làm cản trở dòng chảy của
sông, việc di chuyển trên sông sẽ khó khăn hơn mà còn là một vấn nạn môi
trường không thể tránh khỏi. Từ thượng nguồn Châu Đốc, An Giang, cho đến
tận Mỹ Tho, cá bè có thể bị chết hàng loạt do nguồn nước bị ô nhiễm từ
thượng nguồn do cá chết lây lan xuống hạ lưu (Mai Thanh Tuyết, 2005) [22].
Phát triển kinh tế không đi đôi với bảo vệ môi trường, kết quả tất yếu là
tình trạng môi trường ngày càng xấu đi và cường độ ô nhiễm ngày càng tăng
lên. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã kêu gọi các địa phương

Tháng 3 58,6 41 85,7 24,6 33,0
Tháng 4 40,5 19,6 135,4 129,7 137,8
Tháng 5 181,2 391,3 160,2 120,8 567,8
Tháng 6 224,5 233,5 238,1 238,8 318,7
Tháng 7 328,2 262,7 317,2 523,3 248,2
Tháng 8 410,9 328,5 120,8 395,7 187,8
Tháng 9 292,3 215,9 273,3 207,1 221,0
Tháng 10 9 83,1 45,7 154,1 66,1
Tháng 11 93 87,3 9,9 200,1 0,5
Tháng 12 47,9 6,3 23,8 5,3 2,9
Trung bình 145,4 141,3 120,9 169,2 152,9
Tổng 1744,4 1695,9 1451,3 2030,2 1808,7
(Nguồn: Trạm khí tượng Thái Nguyên)
Tại tỉnh có 02 con sông lớn là sông Cầu và sông Công cùng rất nhiều hệ
thống sông ngòi nhỏ khác:
Sông Cầu: Đi vào địa phận Thái Nguyên tại xã Văn Lăng - Đồng Hỷ và
ra khỏi địa phận Thái Nguyên ở huyện Phổ Yên, theo hướng chảy từ bắc
xuống nam, phân lãnh thổ tỉnh thành hai khu vực có hướng dòng chảy khác
nhau. Phía tây là các phụ lưu thuộc hữu ngạn sông Cầu có hướng dòng chảy
Tây Bắc - Đông Nam phù hợp với hướng địa hình, gồm các sông: sông Chợ
Chu, sông Đu, sông Cầu, sông Công. Phía Đông là phụ lưu tả ngạn sông Cầu
có sông Nghinh Tường với hướng dòng chảy Đông Nam - Tây Bắc.
19
20
Sông Công: Bắt nguồn từ độ cao 275 m ở xã Thanh Định (huyện Định
Hoá), chảy theo hướng Tây Nam đến xã Phú Cường huyện Đại Từ thì chuyển
hướng Tây Bắc - Đông Nam đổ vào sông Cầu ở phía bờ phải tại Hương Ninh
xã Hợp Thịnh huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang. Sông Công dài 96 km, độ cao
trung bình lưu vực 224 m, độ dốc 27,3%, mật độ lưới sông 1,2 km/km
2

Tây Bắc - Đông Nam đến xã Linh Thông lại chuyển hướng Tây Nam - Đông
Bắc chảy qua thị trấn chợ Chu, sau đó từ Tân Dương lại chuyển hướng Tây
Bắc - Đông Nam để chảy vào sông Cầu tại Chợ Mới. Ở hạ lưu thị trấn chợ
Chu có thêm sông nhánh tương đối lớn đổ vào sông Khương với diện tích 108
km
2
, sông Chu có diện tích lưu vực 437 km
2
. Sông Chu có có độ dài khoảng
36 km, độ cao trung bình 206 m, độ dốc 16,2%, mật độ lưới sông 1,30
km/km
2
.
Sông Nghinh Tường: Bắt nguồn từ độ cao 550 m tại xã Yên Cư huyện
Phú Lương, chảy theo hương Tây Bắc - Đông Nam đến xã Cúc Đường huyện
Võ Nhai rồi chuyển hướng Đông Nam - Tây Bắc và đổ vào bờ trái sông Cầu
tại thượng lưu Lang Hít. Sông Nghinh Tường dài 46 km, độ cao trung bình
lưu vực 290 m, độ dốc 12,9%, mật độ lưới sông 1,05 km/km
2
, diện tích lưu
vực 465 km
2
.
Ngoài các sông trên, Thái Nguyên còn có trên 4.000 ha hồ ao, trong đó
có rất nhiều hồ nhân tạo do đắp đập ngăn dòng chảy, lấy nước làm thuỷ lợi để
phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Hồ Núi Cốc trên sông Công là hồ lớn và
quan trọng nhất trên địa bàn tỉnh. Hồ có diện tích mặt nước rộng khoảng rộng
khoảng 25 km
2
với sức chứa lên tới 175 triệu m

Đoạn hạ lưu: Từ thác Huống (Thái Nguyên) đến Phả Lại (Hải Dương).
Nước sông Cầu đoạn hạ lưu bị ô nhiễm nghiêm trọng và nguyên nhân chủ yếu
là do hoạt động sản xuất của thượng lưu, trung lưu và các làng nghề hai bên
bờ sông. Một điều đáng lưu ý là khu vực này có canh tác ruộng lúa và hoa
mầu nằm ngoài đê, hàng năm nhân dân sử dụng rất nhiều thuốc bảo vệ thực
vật, phân tươi… Một phần lượng thuốc này còn lưu lại trong đất, khi mưa
nước cuốn trôi đưa thẳng vào sông, gây ô nhiễm. Hàm lượng coliform của tất
21
22
cả các điểm đều vượt hàng chục lần, thậm chí gấp hàng trăm lần tiêu chuẩn
cho phép đối với nguồn loại B, đây là điều đang báo động.
Sông Cầu qua tỉnh Thái Nguyên bị ô nhiễm rõ rệt, đặc biệt là đoạn sông
chảy qua thành phố Thái Nguyên. Đoạn sông Cầu trước khi chảy vào thành
phố Thái Nguyên bắt đầu bị ô nhiễm do chịu tác động của các hoạt động sản
xuất công nghiệp, khai thác khoáng sản, sản xuất nông nghiệp. Đoạn sông
Cầu chảy qua thành phố Thái Nguyên, nước bị ô nhiễm chứa nhiều các hợp
chất hữu cơ và dầu mỡ. Đoạn sông Cầu chảy qua khu công nghiệp gang thép
Thái Nguyên, giá trị các thông số TSS, BOD
5
, COD đều vượt QCVN
08:2008/BTNMT loại A, B.
22
23
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng môi trường nước sông Cầu.
Phạm vi nghiên cứu: Môi trường nước sông Cầu đoạn từ Sơn Cẩm đến
Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên.
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.3.3.1. Nguồn thải sinh hoạt
3.3.3.2. Nguồn thải công nghiệp
3.3.3.3. Nguồn thải nông nghiệp
3.3.3.4. Nguồn nước thải bệnh viện
3.3.4. Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu, khắc phục ô
nhiễm môi trường nước sông Cầu trên đoạn từ Sơn Cẩm
đến Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên
3.3.4.1. Biện pháp liên quan đến thể chế chính sách
3.3.4.2. Biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nước thải
3.3.4.3. Biện pháp tuyên truyền, giáo dục và xã hội hoá công tác bảo vệ môi
trường
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu thứ cấp
Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp số liệu thứ cấp là phương
pháp phổ biến thường được dùng khi nghiên cứu một đề tài. Đây là phương
pháp tham khảo tài liệu có sẵn liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Phương pháp
này là phương pháp truyền thống nhanh và có hiệu quả. Với phương pháp này
ta có thể áp dụng nghiên cứu các nội dung sau:
- Thu thập các số liệu, tài liệu, văn bản pháp luật có liên quan tới vấn đề
môi trường nước sông.
24
25
- Thu thập các số liệu thứ cấp ở Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Thái
Nguyên, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên.
- Thu thập thông tin liên quan tới đề tài qua thực địa, sách báo, internet
3.4.2. Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu trên máy tính bằng phần mềm word, phần mềm Excel.
3.4.3. Phương pháp tổng hợp so sánh, đối chiếu với
QCVN 08:2008/ BTNMT
Dựa trên các số liệu thứ cấp, số liệu đo đạc, khảo sát thực tế, kết quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status