Luận văn nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn thị xã phổ yên, tỉnh thái nguyên - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN MẠNH HOÀNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THỊ XÃ PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Thái Nguyên 2015


TRẦN MẠNH HOÀNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LĐNT THỊ XÃ PHỔ YÊN,
TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số ngành: 60.62.01.16

LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Minh Thọ


3



1.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Từ viết tắt

Nghĩa của từ viết tắt

CNH

Công nghiệp hóa

HĐH

Hiện đại hóa

LĐNT

Lao động nông thôn

NN

Nông nghiệp

KCN

Khu công nghiệp

PTNT

hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) nông nghiệp, nông thôn hiện nay. Chính vì vậy, vấn
đề cấp thiết hiện nay là làm sao để phát triển đào tạo nghề cho LĐNT, có chính sách
đảm bảo thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với LĐNT, khuyến
khích, huy động và tạo điều kiện thuận lợi để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho
LĐNT.
Phổ Yên là Thị xã nằm ở phía Nam của tỉnh Thái Nguyên. Trong thời gian
qua công tác đào tạo nghề trên địa bàn Thị xã đã đạt được những kết quả nhất định.
Bước đầu đáp ứng được nhu cầu học nghề của người lao động, nhu cầu sử dụng lao
động của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Việc phát triển các ngành nghề phi
nông nghiệp, ngành nghề truyền thống mây tre đan, sản xuất đồ gỗ, sản xuất chè đã
thúc đẩy tình hình kinh tế - xã hội Thị xã Phổ Yên dần đi vào ổn định và có chiều
hướng tăng trưởng tốt. Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn là lĩnh vực sản xuất vật chất
quan trọng và thu hút nhiều LĐNT. Với tình hình đó, khi khoa học công nghệ phát
triển và được áp dụng rộng rãi vào sản xuất thì lại chính là khó khăn lớn của Thị xã.
Một bộ phận lớn LĐNT có xu hướng dôi dư nhưng lại rất khó để có thể bố trí việc
làm cho họ. Vấn đề cơ cấu lại lực lượng LĐNT cũng gặp nhiều khó khăn do số lao
động này chưa được đào tạo nghề khi tham gia vào lao động sản xuất phi nông
nghiệp; số ít đã được đào tạo nghề thì trình độ nghề chưa cao, chưa đáp ứng được


7

yêu cầu ngày càng tăng về số lượng và chất lượng của sản xuất và xã hội. Chính vì
vậy, có rất nhiều câu hỏi đặt ra với công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Thị xã Phổ Yên hiện nay: Việc triển khai các hoạt động đào tạo nghề cho LĐNT Thị
xã thời gian qua diễn ra như thế nào? Có những yếu tố nào ảnh hưởng chính đến chất
lượng đào tạo nghề cho người LĐNT Thị xã? Để nâng cao chất lượng đào tạo nghề
cho người LĐNT Thị xã Phổ Yên trong thời gian tới cần thực hiện những giải pháp
chủ yếu nào?... Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành lựa chọn nghiên
cứu đề tài: “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn Thị xã

Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài là tư liệu khoa học hữu ích cho việc nghiên
cứu, tham khảo trong việc giảng dạy, học tập tại các trường, các viện nghiên cứu về
lĩnh vực phát triển nông thôn.
3.2.

Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tư liệu tốt cho chính quyền địa
phương, các cấp, các ngành của Thị xã Phổ Yên nói riêng và tỉnh Thái


8

Nguyên nói chung sử dụng cho việc thực hiện có hiệu quả chương trình
đào tạo nghề cho LĐNT.


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.

Cơ sở lý luận

1.1.1.

Các khái niệm cơ bản

1.1.1.1.

Những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau đuợc xếp
thành một nhóm chuyên môn và đuợc gọi là nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm
chuyên môn cùng loại, gần giống nhau.
Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con nguời dùng sức
mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tuợng cụ
thể nhằm biến đổi những đối tuợng đó theo huớng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi
ích của con nguời.
* Nhu vậy nghề trong lao động là hoạt động có chuyên môn, những lao động
trực tiếp hay gián tiếp đuợc đào tạo, huớng dẫn, chuyển giao một cách cụ thể, bài
bản. Nó là những hoạt động quan trọng của con nguời và khi những lao động có tay
nghề họ tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần cao hơn cho bản thân và cho
xã hội. Giá trị lao động đó có năng suất, chất luợng và hiệu quả cao là nhân tố quyết
định sự phát triển của đất nuớc.
Vì hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số luợng nghề và chuyên môn nhiều
nên nguời ta gọi hệ thống đó là “Thế giới nghề nghiệp”. Nhiều nghề chỉ thấy có ở
nuớc này nhung lại không thấy ở nuớc khác. Hơn nữa, các nghề trong xã hội luôn ở
trong trạng thái biến động do sự phát triển của khoa học và công nghệ. Nhiều nghề
cũ mất đi hoặc thay đổi về nội dung cũng nhu về phuơng pháp sản xuất. Nhiều nghề
mới xuất hiện rồi phát triển theo huớng đa dạng hóa. Theo thống kê gần đây, trên thế
giới mỗi năm có tới 500 nghề bị đào thải và khoảng 600 nghề mới xuất hiện. Ở nuớc
ta, mỗi năm ở cả 3 hệ truờng (Đào tạo nghề, Trung học Chuyên nghiệp và Cao đẳng
- Đại học) đào tạo trên duới 300 nghề bao gồm hàng nghìn chuyên môn khác nhau.
c. Lao động
Lao động là khái niệm chung dùng để chỉ con người khi tham gia vào các
hình thức sản xuất nào đó trong xã hội. Người lao động có thể qua đào tạo và không


qua đào tạo hoặc chưa qua đào tạo; có thể là những lao động giản đơn hoặc lao động
phức tạp [22]
Lực lượng lao động bao gồm toàn bộ những người từ 15 tuổi trở lên đang có

Cầu thực tế là nhu cầu thực tế cần sử dụng lao động tại một thời điểm nhất
định bao gồm cả chỗ làm việc trống và chỗ làm việc mới. Chỗ làm việc trống là chỗ
làm việc đã từng sử dụng lao động, nay không có lao động làm việc và đang có nhu
cầu sử dụng lao động. Chỗ làm việc mới là chỗ làm việc mới xuất hiện và đang có
nhu cầu sử dụng lao động.
Cầu tiềm năng là số lao động tương ứng với tổng số chỗ làm việc có được sau
khi đã tính đến các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm trong tương lai như vốn, đất
đai, tư liệu sản xuất, công nghệ, chính trị, xã hội...
Quan hệ cung - cầu lao động thể hiện trên 3 trạng thái: trạng thái cần bằng
cung - cầu lao động, trạng thái rối loạn cân bằng cung - cầu lao động và trạng thái
cân bằng mới.
Trong thị trường sức lao động, quy luật cung - cầu thể hiện khá rõ. Nếu mức
tiền công quá cao thì có hiện tượng cung lao động lớn hơn về cầu lao động. Nghĩa là
số người muốn đi làm việc sẽ lớn hơn số người tìm được việc làm ở mức tiền công
này. Ngược lại, khi mức tiền công thấp thì khả năng thu hút lao động sẽ lớn hơn và
xuất hiện cầu về lao động lớn hơn cung dẫn đến thiếu hụt về lao động.
*

Năng suất lao động

Năng suất lao động là "Sức sản xuất của lao động cụ thể có ích", nói lên kết
quả hoạt động sản xuất có mục đích của con người trong một đơn vị thời gian nhất
định. Năng suất lao động đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị
thời gian; hoặc bằng lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Theo C. Mác "Năng suất lao động thường được dùng đồng nghĩa với hiệu
quả của sức lao động" và "Khả năng của sức lao động". Từ định nghĩa năng suất lao
động của C. Mác, mức năng suất lao động được xác định bằng số lượng sản phẩm
sản xuất ra trong một thời gian lao động.



tập của sinh viên. Lượng kiến thức dành cho sinh viên gồm hai khối cơ bản: Giáo
dục đại cương và giáo dục chuyên môn. Mỗi khối kiến thức có 2 nhóm học phần:
Học phần bắt buộc là những kiến thức tiên quyết bắt buộc sinh viên phải học và thi
đạt mới được học tiếp sang học phần khác; nhóm học phần tự chọn gồm những kiến


thức cần thiết nhưng sinh viên được chọn theo hướng dẫn của nhà trường. Một tín
chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết [20].
b. Đào tạo nghề cho lao động
* Khái niệm về đào tạo nghề: Là quá trình trang bị kiến thức nhất định về trình
độ chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận một
công việc nhất định. Hay nói cách khác đó là quá trình truyền đạt, lĩnh hội
những kiến thức và kỹ năng cần thiết để người lao động có thể thực hiện một
công việc nào đó trong tương lai [14].
* Đào tạo nghề cho lao động bao gồm các nội dung sau:
-

Đào tạo kiến thức phổ thông (giáo dục phổ thông).

-

Đào tạo kiến thức chuyên nghiệp (giáo dục chuyên nghiệp). Đào tạo kiến thức
chuyên nghiệp được chia ra: Đào tạo cán bộ chuyên môn (đào tạo Đại học,
Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp) và đào tạo nghề (đào tạo công nhân kỹ
thuật, nhân viên nghiệp vụ, nhân viên bán hàng, phổ cập nghề cho người lao
động).
Đào tạo cán bộ chuyên môn là việc đào tạo nguồn nhân lực ở các trường Đại

học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, nhằm tạo ra đội ngũ cán bộ có trình độ học
vấn cao, có khả năng lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo một chuyên môn, nghiệp vụ nào đó.

-

Đào tạo tại chức, chuyên tu.

-

Đào tạo từ xa vv...

1.1.2.

Phân loại và các loại hình đào tạo nghề cho lao động

Phân loại theo hình thái nghề
Phân loại theo hình thái nghề trong lao động: Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên
cứu và dòng sản phẩm làm ra, nghề trong xã hội thường được phân loại thành:
-

Nghề lao động giản đơn và nghề lao động phức tạp:
+ Nghề lao động giản đơn là lao động không cần qua đào tạo, huấn luyện

chuyên môn; là sự hao phí sức lực lao động của con người không có trình độ chuyên
môn, lao động không thành thạo. Trong điều kiện sản xuất hàng hoá, tất cả các loại
nghề lao động đều được quy trở thành nghề lao động giản đơn và lấy nghề lao động
giản đơn là đơn vị đo lường của các loại nghề lao động phức tạp.
+ Nghề lao động phức tạp là sự lao động của những người qua huấn luyện,
đào tạo chuyên môn.
-

Nghề lao động cụ thể và nghề lao động trừu tượng
+ Nghề lao động cụ thể là những lao động nhằm mục đích nhất định; lao

nguyện và tự giác.

1.1.2.2.

Phân loại đào tạo nghề cho lao động

Đào tạo nghề cho nguời lao động là quá trình giáo dục kỹ thuật sản xuất cho
nguời lao động để họ nắm vững một nghề, một chuyên môn, bao gồm cả nguời đã có
nghề, có chuyên môn rồi hay học để làm nghề, chuyên môn khác.
Đào tạo nghề bao gồm đào tạo công nhân kỹ thuật (công nhân cơ khí, xây
dựng, điện tử, v.v...). Nhân viên nghiệp vụ (nhân viên đánh máy, nhân viên lễ tân,
nhân viên bán hàng v.v...). Phổ cập nghề cho nguời lao động (chủ yếu là lao động
nông nghiệp).
Việc đào tạo nghề đuợc tiến hành ở các cơ sở đào tạo nghề đó là: Các trường
chính quy của Nhà nước; các cơ sở đào tạo nghề của tư nhân; các đơn vị đào tạo
nghề của chính quyền địa phương, các cơ sở tổ chức xã hội; các cơ sở đào tạo nghề
thông qua hợp tác quốc tế.


Phân loại đào tạo nghề.
* Căn cứ vào nghề đào tạo với người học:
-

Đào tạo mới: Đây là hình thức đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa
có chuyên môn, chưa có nghề.

-

Đào tạo lại: Là quá trình đào tạo nghề áp dụng cho những người đã có nghề,
có chuyên môn song vì lý do nào đó nghề của họ không phù hợp nữa đòi hỏi

dục quốc dân, đó là ngành nghề đào tạo rất đa dạng, học viên vào học nghề có rất
nhiều cấp trình độ văn hoá khác nhau. Cấp trình độ đào tạo nghề ở các cơ sở đào tạo
nghề cũng rất khác nhau (bán lành nghề, lành nghề, bồi dưỡng nâng bậc thợ). Sự
khác biệt đó làm cho đội ngũ giáo viên đào tạo nghề cũng rất đa dạng với nhiều cấp
trình độ khác nhau.


Năng lực của giáo viên đào tạo nghề tốt thì mới có thể đào tạo được các học
viên được tốt bởi vì các học viên nắm được lý thuyết, bài giảng được học viên tiếp
thu nhanh hay chậm phụ thuộc rất lớn vào năng lực giáo viên.
b. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở đào tạo nghề Đây là yếu tố hết
sức quan trọng, nó tác động trực tiếp lên chất lượng đào tạo, ứng với mỗi
nghề dù đơn giản hay phức tạp cũng cần phải có các máy móc, trang thiết bị
chuyên dùng phục vụ cho công tác đào tạo nghề. Trang thiết bị đào tạo nghề
giúp cho học viên có điều kiện thực hành để hoàn thành kỹ năng sản xuất.
Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo nghề càng tốt, càng hiện đại
bao nhiêu, theo sát với máy móc phục vụ cho sản xuất bao nhiêu thì người
học viên có thể thích ứng, vận dụng nhanh chóng với sản xuất trong doanh
nghiệp bấy nhiêu.
Chất lượng của các trang thiết bị, cơ sở vật chất đòi hỏi phải theo kịp tốc độ
đổi mới hiện đại hoá của máy móc thiết bị sản suất.
Thực chất ở các cơ sở đào tạo nghề ở nước ta hiện nay, cơ sở vật chất trang
thiết bị đào tạo nghề còn rất hạn chế, lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu đào tạo
nghề. Phòng học thiếu thốn nơi thực hành, chỗ nội trú cho học viên. Một phần lớn
các trang thiết bị trong các cơ sở đào tạo nghề không phải là trang thiết bị phục vụ
cho công tác đào tạo nghề một cách chính quy, nhiều máy móc được thu nhập lại từ
nhiều nguồn khác nhau (chủ yếu là thanh lý của các nhà máy, xí nghiệp), do đó
không có tính đồng bộ về hệ thống, tính sư phạm thấp ảnh hưởng tới chất lượng đào
tạo nghề. Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tuy công nhân qua đào tạo đáp ứng
được phần nào các công việc của các doanh nghiệp nhưng hầu hết vẫn phải đào tạo

nhau. Nhưng khi lao động học nghề tốt nghiệp, bắt tay vào thực hành thì thường
lúng túng và tỏ ra kém hiệu quả.
Nhiều người lao động vẫn thường đổ lỗi cho các cơ sở đào tạo nghề là thiếu
chất lượng, thầy kém, cơ sở vật chất nghèo nàn (mặc dù nhu cầu học và nâng cao tay
nghề rất cao); đã khiến cho khả năng tiếp thu và nhận thức của học viên không được
nâng lên. Chuyện đó đã trở thành xưa cũ; hiện nay, người lao động tìm đến xin học
tại một số cơ sở đào tạo nghề, nhiều khi người lao động còn phải cân nhắc liệu mình
có đủ khả năng về kinh tế lẫn trình độ để theo học hay không? Bên cạnh đó không ít


gia đình học sinh coi việc vào đại học như là con đường duy nhất để tiến thân, kiếm
được việc làm nhàn hạ. Nhiều thanh niên, nhất là thanh niên nông thôn đã cố công
đèn sách để thi vào Đại học, thậm chí thi lại nhiều lần nhằm thoát ly quê hương
nghèo khổ. Một người thợ bậc cao về làng không một ai biết tới nhưng một “cậu cử”
mới ra trường vẫn được coi là danh giá, nên người. Trong con mắt của nhiều người,
một người thợ bậc cao ở xí nghiệp vẫn không “oai” bằng người lao động ở cơ quan
Nhà nước. Hơn nữa, một cán bộ Nhà nước tốt nghiệp Đại học rất có thể được học lên
đến thạc sĩ hoặc tiến sĩ nhưng người thợ bậc ba, bậc bốn vẫn khó tìm cơ hội để học
lên hoặc nâng cao tay nghề. Điều này khiến nhiều thanh niên bằng mọi cách để thi
vào Đại học, né tránh đi học nghề, coi việc vào trường nghề là vạn bất đắc dĩ, “chuột
chạy cùng sào”.
Chính vì thế mà rất nhiều người lao động đã dần làm mất hiệu quả của thời
gian; để trau dồi thêm kiến thức cũng như được học nghề. Chưa bàn kỹ về chất
lượng đào tạo, nhìn ở khía cạnh người học đã thấy rất nhiều chuyện phải bàn, đó là
tính tự ti, chưa yêu ngành, yêu nghề, chưa chú tâm với công việc. Đừng đổ lỗi cho
các điều kiện khách quan, hãy xem xét lại ý thức học tập của "chính mình" rồi mới
nên đánh giá các đơn vị đào tạo nghề, kẻo lại vướng vào cảnh “trách người chả nghĩ
đến ta”?
Nếu mọi người lao động trong xã hội đánh giá được đúng đắn hơn tầm quan
trọng của việc học nghề thì trước hết, lượng lao động tham gia học nghề sẽ chiếm

động thật phù hợp và hiệu quả. Nhìn chung XKLĐ là một trong những yếu tố ảnh
huởng tới công tác đào tạo nghề; do vậy, cả đơn vị đào tạo và nguời học nghề để đi
xuất khẩu lao động cần quan tâm hơn nữa.
1.1.3.4.

Các chính sách của Nhà nước liên quan đến đào tạo nghề

Các chính sách của Nhà nuớc ảnh huởng rất lớn đến công tác đào tạo nghề; ở
nuớc ta, trong những năm gần đây, thực hiện chủ truơng của Đảng, Nhà nước và
được sự quan tâm của các cấp, các ngành và toàn xã hội, công tác đào tạo nghề từng
bước phục hồi và phát triển, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về nguồn lao động trực
tiếp, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, phù hợp với cơ cấu kinh tế, xóa đói
giảm nghèo đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Đóng góp vào thành công
chung đó, phải kể là sự ủng hộ của các chính sách liên quan như: Xây dựng mạng


lưới các trung tâm dạy nghề (TTDN) - loại hình cơ sở đào tạo nghề phổ biến, chủ
yếu đào tạo nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề), có vai trò quan trọng trong đào
tạo, bổ túc, bồi dưỡng nghề, đáp ứng yêu cầu đa dạng, linh hoạt và luôn biến động
của thị trường lao động. Hoặc các dự án như đào tạo nghề cho lao động nông thôn
(Quyết định 1956/QĐ-TTg). Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu
rộng, việc tiếp thu các tiến bộ về khoa học và công nghệ phụ thuộc chủ yếu vào đội
ngũ lao động kỹ thuật, đội ngũ trí thức. Do vậy, muốn phát triển kinh tế cần phải đầu
tư cho con người mà cốt lõi là đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo
nguồn nhân lực lao động trực tiếp.
1.2.

Cơ sở thực tiễn

1.2.1.

đã tạo nên một cuộc cách mạng trong phương pháp canh tác. Nuôi lợn, bò, gà cũng
đem lại lợi nhuận đáng kể. Các làng chài cũng chuyển từ đánh bắt sang nuôi trồng
thủy sản. Tập quán trồng lúa và lúa mạch xưa kia đã được thay thế triệt để bằng các
phương pháp canh tác tổng hợp; tăng cường năng lực lãnh đạo của địa phương bằng
cách thành lập Học viện Bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo Saemaul. Mỗi xã được phép cử
một cán bộ đi học. Khoá học bồi dưỡng lãnh đạo nhấn mạnh vào sự cống hiến quên
mình và nêu gương cho quần chúng. Họ học trong một lán trại chung, do đó hiểu
được cách làm việc theo nhóm trên tinh thần hợp tác. Trong mỗi buổi thảo luận
nhóm, các thành viên chia sẻ kinh nghiệm làm việc và do đó có thể học tập lẫn nhau
bên cạnh sự hướng dẫn và trợ giúp của giáo viên. Chính những học viên này sẽ là
những người lãnh đạo và hướng dẫn cho dân làng. Tại thời điểm bấy giờ, khi vai trò
của phụ nữ còn chưa được coi trọng thì sự tham gia của một bộ phận nữ giới trong
khoá học đã tạo ra sự khác biệt căn bản. Phụ nữ đứng ra gây quỹ cho địa phương, họ
tiết kiệm thực phẩm và tham gia vào phong trào giữ sạch đẹp làng xã. Ngoài ra, họ
còn góp phần tích cực trong việc ngăn ngừa nạn rượu chè, cờ bạc. Số lượng các quán
rượu bắt đầu giảm hẳn trong thời gian này. Phương pháp đào tạo cán bộ cho các dự
án Saemaul đã có ảnh hưởng nhất định đến các chính trị gia, lãnh đạo các tôn giáo,
giới báo chí và cả người nước ngoài. Những chính trị gia trước kia vẫn không mấy
mặn mà lắm với phong trào Saemaul cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi phương
pháp đào tạo Saemaul [22]


1.2.1.2.

Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là một Quốc gia có số dân đông nhất thế giới với hơn 1 tỷ người,
trong đó có khoảng gần 80% dân số sống ở nông thôn, có chung đường biên giới với
phía Bắc Việt Nam. Trung Quốc là nước đã đạt được nhiều thành tựu về phát triển
kinh tế đặc biệt là trong lĩnh vực đào tạo nghề giải quyết việc làm. Để đào tạo nghề

Phương thức di chuyển tại chỗ:
Là việc phân công lại lao động tại chỗ. Để thực hiện phương thức này Nhà
nước để ra các chính sách ưu tiên nhằm hỗ trợ cho nông nghiệp, tăng đầu tư cho
nông nghiệp, bảo đảm việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho sản xuất lương thực và một
số sản phẩm chủ yếu khác.
Phát triển kinh doanh đa dạng ngành nghề, phát triển toàn diện các ngành
nông, lâm, ngư nghiệp. Trên cơ sở mối quan hệ tỷ lệ giữa lao động với ruộng đất,
đồng thời căn cứ vào đặc điểm sản xuất theo thời vụ nông nghiệp và thời gian lao
động dư thừa sang các ngành nghề khác.
Phát triển ngành nghề dịch vụ và xây dựng hệ thống dịch vụ xã hội ở nông
thôn, góp phần tạo ra nhiều nghề mới và việc làm cho số lao động dư thừa trong
nông nghiệp. Phát triển nền nông nghiệp sinh thái mang tính kỹ thuật cao để thoả
mãn nhu cầu tiêu dùng của con người. Kết quả thực hiện phương thức “Di chuyển tại
chỗ” đã đạt mục đích tạo ra nhiều ngành nghề giải quyết việc làm trong nông thôn là
“Ly nông, bất ly hương” góp phần thúc đẩy nông nghiệp Trung Quốc phát triển
nhanh và ổn định.
Phương thức di chuyển ra bên ngoài:
Là phương thức di chuyển lao động từ ngành này sang ngành khác, từ nơi
thừa đến nơi thiếu, từ đó cải thiện, bố trí lại cơ cấu lực lượng lao động. Cụ thể Trung
Quốc đã tiến hành di chuyển lao động từ nơi có trình độ khai thác tương đối cao
sang nơi có trình độ khai thác tương đối thấp, từ nơi đất hẹp người đông sang nơi đất
rộng người thưa.
Di chuyển lao động từ nông thôn vào các thành phố bằng cách đào tạo nghề



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status