LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi. Các kết quả nghiên
cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn
nào và dưới bất kỳ hình thức nào. Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện
trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định.
Tác giả
Hoàng Thị Liêm
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của
quý thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp. Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Nghiêm Văn Lợi,
người hướng dẫn khoa học của Luận văn, đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tôi về kiến thức
khoa học để hoàn thành Luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô tại Phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học Trường Đại
học Thủy Lợi Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn các vị lãnh đạo và tập thể cán bộ, công nhân viên, đồng nghiệp
đã cung cấp thông tin, tài liệu và trao đổi ý kiến chuyên môn trong quá trình thực hiện
Luận văn.
Mặc dù bản thân đã cố gắng, tuy nhiên do hạn chế về thời gian nên luận văn không
tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy
cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
ii
MỤC LỤC
Nội dung, loại hình và các hình thức đào tạo nghề ......................................... 20
1.2.1
Nội dung đào tạo nghề ..............................................................................20
1.2.2
Loại hình đào tạo....................................................................................... 23
1.2.3
Các hình thức đào tạo nghề.......................................................................24
1.3 Đối tượng đào tạo nghề ....................................................................................... 26
1.4
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề ........................................ 27
1.4.1
Yếu tố đầu vào .......................................................................................... 27
1.4.2
Yếu tố thuộc quá trình đào tạo ..................................................................28
1.4.3
Môi trường xã hội...................................................................................... 33
Đặc điểm tự nhiên ..................................................................................... 44
2.1.2
Đặc điểm kinh tế - xã hội .......................................................................... 45
2.1.3
Tình hình phát triển kinh tế huyện Võ Nhai ............................................. 47
2.2
Thực trạng chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Võ Nhai 49
2.2.1 Mạng lưới cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn huyện......................................... 49
2.2.2
Các yếu tố cơ bản của các đơn vị đào tạo nghề ........................................ 49
2.2.3
Chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn của huyện Võ Nhai qua
đánh giá của cơ sở đào tạo, người lao động và cơ sở sản xuất, kinh doanh, doanh
nghiệp sử dụng lao động trên địa bàn huyện......................................................... 56
2.2.4
Một số hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước trên địa bàn huyện Võ
iv
3.2.2
Quan điểm đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Võ Nhai trong
thời gian tới............................................................................................................68
3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa
bàn huyện Võ Nhai trong thời gian tới ..................................................................72
3.3.1
Nguyên tắc thiết kế giải pháp ....................................................................72
3.3.2
Các nhóm giải pháp ...................................................................................72
3.3.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra:............................................................... 86
Kết luận chương 3 ..................................................................................................... 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................................................... 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 93
PHỤ LỤC ...................................................................................................................... 95
v
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1. 1 Quy trình đào tạo nghề ................................................................................. 34
Biểu đồ 2. 1 Biểu đồ so sánh xếp loại học lực của học viên sau khi tham gia các khóa
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
bq Bình quân
CN&XD Công nghiệp và xây dựng
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
DN Doanh nghiệp
ĐTN Đào tạo nghề
ĐV Đơn vị
GĐ Gia đình
GDNN - GDTX Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên
GTSX Giá trị sản xuất
GTXL Giá trị sản lượng
HĐND Hội đồng nhân dân
HTX Hợp tác xã
KT-XH Kinh tế - xã hội
LĐNT Lao động nông thôn
NN Nông nghiệp
PTNT Phát triển nông thôn
TB&XH Thương binh và Xã hội
TM&DV Thương mại và dịch vụ
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
XDCB Xây dựng cơ bản
viii
MỞ ĐẦU
các hộ gia đình hội viên có khả năng phát triển nghề theo quy mô tổ hợp, DN nhỏ; tổ
1
chức dạy nghề lưu động tại các cơ sở và dạy nghề tại trung tâm dạy nghề huyện.
Nhưng thực tế việc triển khai các hoạt động đào tạo nghề và chất lượng đào tạo nghề
cho LĐNT huyện Võ Nhai thời gian qua diễn ra như thế nào? Có những yếu tố nào
ảnh hưởng chính đến chất lượng đào tạo nghề cho người LĐNT trên địa bàn huyện?
Để nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho người LĐNT huyện Võ Nhai thì trong thời
gian tới cần thực hiện những giải pháp chủ yếu nào?
Xuất phát từ những vấn đề đặt ra trong thực tiễn, tác giả chọn nghiên cứu đề tài:
“Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên" làm đề tài luận văn thạc sĩ, mang tính cấp thiết và có ý nghĩa cả về
lý luận và thực tiễn.
2 Mục đích của đề tài
Đánh giá chất lượng ĐTN cho LĐNT và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Võ Nhai trong thời gian tới.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác ĐTN cho LĐNT và những vấn đề có liên quan đến đào tạo nghề và chất
lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Võ Nhai.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung tìm hiểu những vấn đề chính sau:
- Tình hình học nghề của người LĐNT huyện Võ Nhai;
- Các hoạt động đào tạo nghề của các cơ sở dạy nghề ở huyện (hoạt động của trung
tâm dạy nghề, hoạt động truyền nghề, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghề của các
DN,...). Trong đó, đề tài tập trung chính vào việc phân tích, đánh giá chất lượng của
các hoạt động đào tạo nghề.
- Những chính sách hỗ trợ học nghề, dạy nghề; công tác quản lý hoạt động đào tạo
nghề trên địa bàn của chính quyền tỉnh, huyện, xã.
* Phạm vi không gian: huyện Võ Nhai – tỉnh Thái Nguyên
3
6 Kết quả dự kiến đạt được
- Tổng quan về lý luận và thực tiễn về chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
tại địa bàn huyện.
- Phân tích thực trạng chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Võ
Nhai, tỉnh Thái Nguyên và đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại và nguyên
nhân của những tồn tại.
- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động
nông thôn tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
7 Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, Kết luận và kiến nghị, luận văn được cấu trúc thành 3 chương
chính, gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Chương 2: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Võ Nhai.
Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông
thôn huyện Võ Nhai trong thời gian tới.
4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm về lao động nông thôn
1.1.1.1 Lao động
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể
tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người [1]. Thực chất là sự vận động của sức lao
động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá
nó mang tính toàn diện hơn và được nhiều người chấp nhận hơn.
Với khái niệm về nông thôn như trên, chúng ta có thể phân tích những đặc trưng chủ
yếu của vùng nông thôn và so sánh với thành thị.
Thứ nhất, nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng chủ yếu là nông
dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, các hoạt động kinh tế chủ yếu nhằm
phục vụ cho nông nghiệp và cộng đồng cư dân nông thôn. Đây là đặc trưng rất cơ bản
của vùng nông thôn. Với mọi vùng nông thôn thì nông nghiệp luôn là ngành có vai trò
quan trọng (kể cả lâm và ngư nghiệp). Kể cả những vùng mà TTCN và dịch vụ phát
triển rất mạnh thì nông nghiệp vẫn có vai trò quan trọng. Bên cạnh đó, nông nghiệp
còn thu hút nhiều ngành phát triển phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Thứ hai, nông thôn là vùng có cơ sở hạ tầng kém hơn thành thị, có trình độ tiếp cận thị
trường và sản xuất hàng hoá kém hơn. Đối với mọi quốc gia thì chỉ tiêu này là khá rõ
ràng. Vùng nông thôn có địa bàn rộng lớn, địa hình phức tạp, trình độ phát triển kinh
tế - xã hội thấp hơn nên hệ thống cơ sở hạ tầng và trình độ phát triển sản xuất hàng hoá
cũng thấp hơn.
Thứ ba, nông thôn là vùng có thu nhập và đời sống thấp hơn, trình độ văn hoá, khoa
học và công nghệ thấp hơn thành thị vì thành thị thường là trung tâm văn hoá và kinh
tế của một vùng, do vậy cơ cấu kinh tế phát triển hơn, mức độ đầu tư cao hơn. Hơn
nữa do điều kiện thuận lợi về kinh tế, văn hoá - khoa học và kỹ thuật mà thành thị tạo
nên sức hút rất lớn đối với nguồn lao động tinh tuý, có trình độ cao ở nông thôn ra lập
nghiệp, điều đó cũng góp phần hình thành trung tâm văn hoá, khoa học và công nghệ ở
thành thị.
6
Thứ tư, nông thôn mang tính đa dạng về tự nhiên, kinh tế và xã hội, đa dạng về quy
mô và trình độ phát triển…giữa các vùng khác nhau thì tính đa dạng cũng khác nhau.
Thứ năm, một đặc trưng khác của vùng nông thôn mà cũng có ý nghĩa quan trọng
trong việc phân biệt giữa thành thị và nông thôn đó là tính cộng đồng làng - xã - thôn bản rất chặt chẽ. Phần lớn các vùng nông thôn có lịch sử phát triển lâu đời hơn thành
lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo chiếm một tỷ lệ thấp. Lao động nông thôn chủ
yếu học nghề thông qua việc hướng dẫn của thế hệ trước hoặc tự truyền cho nhau nên
lao động theo truyền thống và thói quen là chính. Điều đó làm cho lao động nông thôn
có tính bảo thủ nhất định, tạo ra sự khó khăn cho việc thay đổi phương hướng sản xuất
và thực hiện phân công lao động, hạn chế sự phát triển kinh tế nông thôn.
Lao động nông thôn mang tính thời cao và không thể xóa bỏ được tính chất này, đặc
biệt là các vùng nông thôn thuần nông. Sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và bị
chi phối mạnh mẽ bới các quy luật sinh học và điều kiện tự nhiên của từng vùng (khí
hậu, đất đai…) Do đó, quá trình sản xuất mang tính thời vụ cao, thu hút lao động
không đồng đều. Chính vì vậy đã làm cho việc sử dụng lao động ở các vùng nông thôn
trở nên phức tạp hơn. [3] Do vậy, việc sử dụng lao động trong nông thôn kém hiệu
quả, hiện tượng thiếu việc làm là phổ biến. Vì vậy, muốn giải quyết việc làm và tăng
thu nhập cho lao động nông thôn thì phải bằng mọi biện pháp nhằm hạn chế đến mức
tối đa tính thời vụ bằng cách phát triển đa dạng nghành nghề trong nông thôn, thâm
canh tăng vụ, xây dựng cơ cấu cây trồng hợp lý.
Lao động nông thôn có khả năng tiếp cận và tham gia thị trường kém, thiếu khả nămg
nắm bắt và xử lý thông tin thị trường, khả năng hạch toán hạn chế. Do đó, khả năng
giao lưu và phát triển sản xuất hàng hoá hạn chế.
* Đặc điểm nguồn lao động nông thôn huyện Võ Nhai:
Nông thôn Võ Nhai với nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, địa hình rừng núi hiểm
trở và chia cắt làm cho việc giao thông đi lại rất khó khăn. Đó là những cản trở làm
cho tỷ lệ lao động nông thôn có trình độ tốt nghiệp cấp III rất thấp. Trong khi đó
những người đã qua đào tạo chủ yếu làm việc ở các cơ quan và doanh nghiệp nhà
nước, do đó lực lượng lao động trong nông thôn có trình độ hạn chế. Đây là nguyên
nhân quan trọng làm cho nông thôn Võ Nhai vẫn còn lạc hậu.
8
Tính bảo thủ và ỷ lại. Do khả năng giao lưu kinh tế và văn hoá kém nên tính trì trệ và bảo
Danh mục về diễn giải khái niệm nghề có thể rất dài, nhưng tựu trung lại, nghề
nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc. Nghề nghiệp cũng
giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu vong. Chẳng hạn, do sự
phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành công nghệ điện tử, do sự phát triển
vũ bão của kỹ thuật máy tính nên đã hình thành cả một nền công nghệ tin học đồ sộ
bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phần cứng, phần mềm và các thiết bị bổ trợ v.v…
Công nghệ các hợp chất cao phân tử tách ra từ công nghệ hóa dầu, công nghệ sinh
học và các ngành dịch vụ, du lịch tiếp nối ra đời… Bên cạnh đó, rất nhiều nghề đã có
thời kỳ gần như không thể thiếu trong đời sống xã hội trước đây nay đã mất đi, từ
những nghề hoàn toàn thủ công, lao động chân tay (như nghề đóng cối xay lúa tồn tại
hàng vài thế kỷ, nhưng khi máy xay sát được đưa vào hoạt động thì nghề này không
còn nữa) hoặc sử dụng công nghệ ở trình độ thấp (như nghề trực tổng đài điện thoại
tại các cơ quan để nối đến các máy lẻ đã mất đi nhiều năm nay khi công nghệ viễn
thông phát triển).
Nghề bao gồm nhiều chuyên môn. Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp
mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị
vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo,
phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát
triển của xã hội.
Vì hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề và chuyên môn nhiều như
vậy nên người ta gọi hệ thống đó là “Thế giới nghề nghiệp”. Nhiều nghề chỉ thấy
có ở nước này nhưng lại không thấy ở nước khác. Hơn nữa, các nghề trong xã hội
luôn ở trong trạng thái biến động do sự phát triển của khoa học và công nghệ.
Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi về nội dung cũng như về phương pháp sản
xuất. Nhiều nghề mới xuất hiện rồi phát triển theo hướng đa dạng hóa. Theo thống
kê gần đây, trên thế giới mỗi năm có tới 500 nghề bị đào thải và khoảng 600 nghề
mới xuất hiện. Ở nước ta, mỗi năm ở cả 3 hệ trường (dạy nghề, trung học chuyên
nghiệp và cao đẳng - đại học) đào tạo trên dưới 300 nghề bao gồm hàng nghìn
chuyên môn khác nhau.
viên, kỹ sư chỉ đạo sản xuất, công nhân kỹ thuật.
11
Như vậy có rất nhiều nghề trong xã hội, trong khuôn khổ luận văn chỉ nghiên cứu nghề
trong hệ thống nghề được đào tạo tại các cơ sở dạy nghề của địa phương bao gồm trình
độ sơ cấp nghề và phổ cập nghề cho người lao động.
1.1.3 Đào tạo nghề
Khái niệm đào tạo thường gắn với giáo dục, nhưng hai phạm trù vẫn có một số sự khác
nhau tương đối.
Giáo dục được hiểu là các hoạt động và tác động hướng vào sự phát triển và rèn luyện
năng lực (bao gồm tri thức, kỹ năng và kỹ sảo…) và phẩm chất (niềm tin, tư cách, đạo
đức…) ở con người để có thể phát triển nhân cách đầy đủ nhất và trở nên có giá trị tích
cực đối với xã hội. Hay nói cách khác, giáo dục còn là quá trình khơi gợi các tiềm
năng sẵn có trong mỗi con người, góp phần nâng cao các năng lực và phẩm chất cá
nhân của cả thầy và trò theo hướng hoàn thiện hơn, đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát
triển trong xã hội loài người đương đại.
Thứ nhất, theo từ điển Tiếng Việt, “đào tạo được hiểu là việc: Làm cho trở thành
người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”.
Thứ hai, “Đào tạo là quá trình trang bị kiến thức nhất định về mặt chuyên môn, nghiệp
vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định” [5].
Thứ ba, từ góc nhìn của các nhà giáo dục và đào tạo Việt Nam, khái niệm tương đối
đầy đủ là: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm đạt được các
kiến thức, kỹ năng và kỹ sảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện
thành công một hoạt động xã hội (nghề nghiệp) cần thiết”.
Hay nói cách khác, đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp
hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững
những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó
thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định.
Một cơ sở đào tạo trong nước không chỉ cạnh tranh với các cơ sở trong nước mà còn cạnh
tranh với các nước khác, với khu vực khác; mà cạnh tranh trước hết là chất lượng. Không
có chất lượng, cơ sở sẽ không thu hút được người học, sớm muộn cũng sẽ phải đóng cửa;
Có một nhu cầu tự nhiên là “bảo vệ người tiêu dùng”. Các sinh viên và phụ huynh đã tốn
kém rất nhiều chi phí cho việc học của họ và con cái họ, vì vậy họ phải có quyền nhận
được một chương trình đào tạo có chất lượng;
13
Định nghĩa khái niệm “chất lượng đào tạo” là việc làm thiết thực nhằm giúp các cơ sở
đào tạo thiết lập các chuẩn mực chất lượng và đề xuất các giải pháp đảm bảo và nâng
cao chất lượng của nhà trường. Trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, khái
niệm chất lượng đào tạo cần phải được xác định một cách toàn diện với cách tiếp cận
mới, đó là tiếp cận thông qua khách hàng.
Trước hết, có thể thấy chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính
bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt
nó với các sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, biểu hiện ra bên
ngoài qua các thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn
bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật.
“Chất lượng là mức độ mà một tập hợp các đặc trưng vốn có đáp ứng được các yêu
cầu của khách hàng và những người khác có quan tâm” [7].
Các cách hiểu này cho thấy, chất lượng là một phạm trù khá trừu tượng, khó định
nghĩa, khó xác định, khó đo lường và cách hiểu của người này cũng khác so với người
kia. Tuy nhiên, bằng cách này hay cách khác, người ta vẫn cần đi đến một số khía cạnh
có thể đo lường được, biểu hiện được chất lượng.
Chất lượng là một khái niệm quá quen, tuy nhiên khái niệm chất lượng nói chung, chất
lượng đào tạo nghề nói riêng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi. Nguyên nhân bắt
nguồn từ nội hàm phức tạp của khái niệm “Chất lượng” với sự trừu tượng và tính đa
diện, đa chiều của khái niệm này. Ví dụ, đối với cán bộ giảng dạy và sinh viên thì ưu
Tiêu chí 1: Sự vượt trội về kiến thức, kỹ năng hay “giá trị gia tăng” mà người học
nhận được sau quá trình trình đào tạo
Khi đề cập đến “sự vượt trội”, “giá trị gia tăng” của người học nghề cần có những kiểm
chứng kết quả học tập và so sánh với người chưa học nghề.
Trong quá trình học nghề, người học được đánh giá kết quả thông qua điểm của bài
kiểm tra, bao gồm kiểm tra lý thuyết và thực hành. Kết thúc khóa đào tạo, người học trải
qua kỳ thi tốt nghiệp. Tùy ngành học, nghề học, bài kiểm tra có thể có hình thức tự luận,
hình thức trắc nghiệm hoặc thực hành nghề. Tùy thuộc vào giá trị tích lũy về kiến thức
và kỹ năng đạt được và biểu hiện qua kết quả kiểm tra và thi, người tốt nghiệp được
xếp loại giỏi, khá, trung bình.
15
Kết quả đánh giá này mới chỉ một phía của cơ sở đào tạo. Chất lượng này được kiểm
chứng thông qua quá trình sử dụng. Chính người sử dụng lao động sẽ bổ sung và có
tiếng nói cuối cùng về chất lượng người học được đào tạo, xác nhận “giá trị gia tăng”
nhận được của người học, đánh giá “sự vượt trội” của người học sau học nghề với lao
động phổ thông.
Để đo “sự vượt trội”, có thể thực hiện bằng cách so sánh kiến thức, kỹ năng trước khi
học nghề với kiến thức kỹ năng mà một người học nghề đã tốt nghiệp. Cần nhắc lại
một lần nữa, kết quả của phép đo này có thể do cơ sở đào tạo tự đo thông qua kiểm tra,
đánh giá, hoặc do người sử dụng lao động đo thông qua so sánh phẩm chất, kỹ năng
của một người lao động qua đào tạo với một lao động phổ thông mà họ sử dụng.
Tiêu chí 2, sự hoàn thiện (không sai sót) trong quá trình thực hiện hay nói cách khác
hoàn thiện trong quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng theo chuẩn nghề nghiệp đầu ra
mà cơ sở đào tạo công bố với xã hội.
Quá trình sản xuất ra hàng hóa thông thường được kết thúc bằng việc kiểm tra chất
lượng sản phẩm, bảo đảm các thông số kỹ thuật, các yêu cầu chất lượng, mẫu mã và có
thể lưu thông. Sản phẩm của quá trình đào tạo nghề là con người được dùng vào quá
Không được đầy đủ, phù hợp với công nghệ sử dụng trong sản xuất thì khó có thể đảm
bảo sự hoàn thiện trong quá trình dạy và học, khó đạt được chuẩn đầu ra của sản phẩm
mà cơ sở đào tạo công bố với xã hội.
Tiêu chí 3, sự phù hợp với mục tiêu trong kế hoạch của cơ sở đào tạo.
Bất kỳ một cơ sở đào tạo nào cũng thường xây dựng cho mình tầm nhìn, sứ mệnh và
mục tiêu định hướng. Mục tiêu của một cơ sở đào tạo nghề thường bao hàm: (1) Cơ sở
đào tạo nghề phát triển tới quy mô nào; (2) Mức độ đa dạng ngành nghề đào tạo đến
đâu; (3) Trình độ (kiến thức, kỹ năng) mà cơ sở đào tạo trang bị cho người học đạt đến
mức độ nào; (4) Người học nghề tốt nghiệp sẽ hòa nhập vào thị trường lao động đến
mức độ nào (tỷ lệ người học có việc làm sau một khoảng thời gian nhất định; tỷ lệ
người học có việc làm theo đúng ngành/ nghề đào tạo; tỷ lệ người học cần được bổ túc
tay nghề và thời gian trung bình bồi túc tay nghề sau đào tạo tại doanh nghiệp;v.v...
Có thể kiểm chứng sự phù hợp với mục tiêu đào tạo trong kế hoạch của cơ sở đào tạo
thông qua đánh giá sự phát triển về quy mô, mức độ đa dạng ngành/ nghề đào tạo tại
17