Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và việc thực hiện trong đời sống xã hội - Pdf 35

Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và việc thực hiện trong đời
sống xã hội
Hiện nay, ở Việt Nam, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
được xem là nguyên tắc cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia
đình Việt Nam. Hôn nhân một vợ một chồng xuất hiện trong xã hội
dân chủ, nam nữ bình quyền, xã hội dân chủ xuất hiện từ thời kỳ
cận đại. Vì vậy, em đã tập trung nghiên cứu đề tài “Nguyên tắc
hôn nhân một vợ một chồng và việc thực hiện trong đời
sống xã hội” cho bài tập lớn của mình.
I. Những lý luận cơ bản về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành và phát triển
nguyên tắc của luật hôn nhân và gia đình
a) Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về hôn nhân và gia đình –
cơ sở lý luận của việc hình thành và phát triển nguyên tắc của Luật
hôn nhân và gia đình VN
Chủ nghĩa Mác - Lê nin nhìn nhận hôn nhân và gia đình là những
hiện tượng xã hội có quá trình phát sinh, phát triển, do các điều
kiện kinh tế - xã hội quyết định. Trong tác phẩm “Nguồn gốc của
gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”, Mác và Enghen đã
phân tích: lịch sử gia đình là lịch sử của quá trình xuất hiện chế độ
quần hôn, chuyển sang gia đình đối ngẫu, phát triển lên gia đình
một vợ một chồng - là quá trình không ngừng hoàn thiện hình thức
gia đình, trên cơ sở sự phát triển của các điều kiện sinh hoạt vật
chất của con người. Mác và Enghen đã chỉ ra cho chúng ta thấy
rằng, hình thức hôn nhân một vợ một chồng ra đời trên cơ sở sự


xuất hiện chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và những
tài sản khác trong xã hội. Được củng cố bởi chính sách, pháp luật
của giai cấp thống trị bóc lột, ngay từ khi mới ra đời, chế độ hôn
nhân một vợ một chồng đó đã bộc lộ tính giả dối và tiêu cực đối

Trong những giai đoạn khác nhau, Đảng và nhà nước có những chủ
trương, chính sách về hôn nhân và gia đình phù hợp, nhằm tập
trung thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu nói trên.
2. Khái quát chung về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
a) Khát quát chung về gia đình một vợ một chồng
Hôn nhân đối ngẫu không phải hôn nhân một vợ một chồng. Hôn
nhân một vợ một chồng là hôn nhân mới trong lịch sử đặc trưng
cho một chế độ xã hội khác. Chế độ một vợ một chồng “không
phải kết quả giữa tình yêu trai gái…Gia đình cá thể là hình thức gia
đình đầu tiên không căn cứ vào các điều kiện tự nhiên mà căn cứ
vào các điều kiện kinh tế, vào sự thằng lợi của chế độ tư hữu đối
với chế độ công hữu lúc ban đầu, được hình thành một cách tự
phát”. Hôn nhân và gia đình của chế độ một vợ một chồng mà đầu
tiên là gia đình cá thể và các biến thể của nó trong các xã hội có
giai cấp đối kháng( chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản) không
phải là sự liên kết trên cơ sở tình cảm mà dựa trên cơ sở tài sản.
Chỉ có trong các giai cấp bị áp bức, bởi vậy chỉ có trong giai cấp vô
sản thì thì tình yêu nam nữ mới trở thành một quy tắc trong cá
quan hệ đối với người phụ nữ.
b) Bản chất của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng


Cùng với sự phát triển của xã hội, các hình thái gia đình cũng phát
triển từ thấp đến cao, từ hình thái gia đình huyết tộc, gia đình Puna-lu-an, sang hôn nhân đối ngẫu và cuối cùng là hôn nhân một vợ
một chồng. Trong đó, chế độ hôn nhân một vợ một chồng được coi
là hình thái gia đình tiến bộ.
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, khi mà chế độ mẫu quyền thay bằng
chế độ phụ quyền, người mẹ không còn vai trò như trước thì một
vợ một chồng chỉ đặt ra với người vợ chứ không đặt ra với người
chồng, chế độ hôn nhân một vợ một chồng hoàn toàn mâu thuẫn

Với quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta là xây dựng gia đình hạnh
phúc bền vững trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng giữa nam và
nữ, xóa bỏ hoàn toàn chế độ đa thể, nguyên tắc hôn nhân một vợ
một chồng đã trở thành nguyên tắc quan trọng được ghi nhận
trong các bản Hiến pháp của nước ta và được cụ thể hóa trong các
văn bản pháp luật HN&GĐ, từ luật HN&GĐ năm 1959, luật HN&GĐ
năm 1986 đến luật HN&GĐ năm 2000. Tại khoản 1 – điều 2 luật
HN&GĐ năm 2015 ghi nhận: “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ
một chồng, vợ chồng bình đẳng” là nguyên tắc cơ bản của chế độ
hôn nhân gia đình.
Về bản chất, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng có nghĩa
trong thời kỳ hôn nhân chỉ tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp
và là quan hệ hôn nhân duy nhất. Theo nguyên tắc hôn nhân một
vợ một chồng thì chỉ những người chưa có vợ, chưa có chồng hoặc
tuy đã kết hôn nhưng hôn nhân đó đã chấm dứt (vợ hoặc chồng họ
đã chết hoặc vợ chồng đã ly hôn) thì mới có quyền kết hôn với


người khác. Việc kết hôn của họ phải với những người đang không
có vợ hoặc đang không có chồng, đó là những người thuộc trường
hợp nêu tại Mục 1 điểm c.1 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP.
Bản chất của hôn nhân tự nguyện trên cơ sở tình yêu nam nữ là
hôn nhân một vợ một chồng. Mặt khác, chế độ một vợ một
chồngđảm abro tình yêu giữa họ thực sự bền vững, duy trì và củng
cố hạnh phúc gia đình. Hôn nhân một vợ một chồng là điều quan
trọng làm cho cuộc sống chung vợ chồng lâu dài, bền vững và thực
sự hạnh phúc.
II. Quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc hôn nhân
một vợ một chồng ở Việt Nam qua các thời kỳ
1. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trước khi có Luật hôn

cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa đã tạo điều kiện cho hôn nhân và
gia đình, nhưng ở miền Nam vẫn còn nhiều tư tưởng lạc hậu. Xuất
phát từ thực tế đó, Luật hôn nhân và gia đình cần phải thực hiện
mục đích là xây dựng những gia đình dân chủ hòa thuận, hạnh
phúc, trong đó, mọi người đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau
cùng tiến bộ, xóa bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân
và gia đình phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền


lợi của con cái. Luật hôn nhân và gia đình 1959 đã được xây dựng
trên cơ sở bốn nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Nguyên tắc hôn nhân tự do và tiến bộ
- Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
- Nguyên tắc nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong
gia đình
- Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con cái.
Nhằm thực hiện chế độ hôn nhân và gia đình mới, Luật hôn nhân
và gia đình 1959 đã quy định nguyên tắc mới: nguyên tắc hôn
nhân một vợ một chồng. Trước đây, mặc dù đã xác định được
nhiệm vụ là xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu, phản dân chủ của
pháp luật hôn nhân và gia đình phong kiến, nhưng Nhà nước ta
chưa có quy định về việc thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một
chồng. Đây là một hạn chế của pháp luật thời kỳ trước đó. Việc
Luật hôn nhân và gia đình 1959 quy định nguyên tắc một vợ một
chồng bảo đảm cho hạnh phúc gia đình bền vững, đồng thời phù
hợp với đạo đức xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc này còn được thể
hiện trong quy định về điều kiện kết hôn “cấm người đang có vợ,
có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác…”
(Điều 5, Luật Hôn nhân gia đình 2015)
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 ϖ

Luật Hôn nhân và gia đình 2015ϖ


Không có sự khác biệt quá nhiều so với Luật hôn nhân gia đình của
những thời kỳ trước. Luật hôn nhân gia đình 2015 kế thừa và phát
triển nguyên tắc một vợ một chồng. Quy định tại Điều 2 Luật hôn
nhân và gia đình: “ Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một
chồng…”
III. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ở
Việt Nam
1. Thực tiễn áp dụng
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng còn bị vi phạm khá
nghiêm trọng ở nhiều địa phương, đặc biệt có nhiều trường hợp
một người đàn ông chung sống với rất nhiều vợ. Việc vi phạm chế
độ hôn nhân một vợ một chồng đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm
trọng.
Những khó khăn, vướng mặc trong việc đảm bảo tuân thủ những
nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình:
Việc thực hiên nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong điều
kiện hiện nay là rất khó khăn do việc thừa nhận quan hệ chung
sống như vợ chồng của nam nữ có giá trị pháp lý như quan hệ vợ
chồng. Theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000, “hôn nhân thực
tế” không được thừa nhận nữa, chúng ta vẫn phải chấp nhận sự
tồn tại của những quan heẹ chung sống như vợ chồng đã xảy ra từ
trước ngày 01/01/2001. Theo Nghị quyết số 35/2000/QH10, những
trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng từ ngày
03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn


trong thời hạn hai năm (tức là đến 01/01/2003), nếu trước thời

là có quan hệ vợ chồng kể từ thời điểm kết hôn cho đến khi có yêu
cầu Tòa án hủy theo khoản 1 điều 12. Đối với hôn nhân hợp pháp
thì khi cảm thấy đời sống hôn nhân không thể duy trì được thì hai
bên có thể yêu cầu tòa án cho ly hôn theo thủ tục chung. Về
nguyên tắc, các trường hợp kết hôn vi phạm khoản 1 điều 10 thì
Tòa giải quyết theo hướng hủy kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên,
cần chú ý tới Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP tại mục 2 điểm d3:
- Khi một người đang có vợ, có chồng nhưng tình trang trầm trọng,
đời sống chung không thể kéo dài mà đã kết hôn với người khác thì
lần kết hôn sau là kết hôn trái pháp luật, thuộc trường hợp quy
định tại khoản 2 điều 5, vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng.
Các giai đoạn về sau có thể tuân theo chế định kết hôn – ly hôn
theo luật định.
- TH cán bộ, bộ đội ở miền Nam đã có vợ, có chồng ở miền Nam
tập kết ra Bắc lấy vợ hoặc lấy chồng ở miền Bắc. Theo Thông tu
60/DS-TAND trường hợp này là ngoại lệ. Sở dĩ quy định như vậy là
do thời kỳ chiến tranh khốc liệt, đất nước bị chia cắt làm đôi nên
nhu cầu tình cảm trong việc xác lập hôn nhân mới là chính đáng,
pháp luật vẫn thừa nhận cả hai quan hệ hôn nhân mà không nhất
thiết phải xử hủy hôn nhân sau, nhằm đảm bảo quyền lợi chính
đang của các bên trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh.
Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với
người khácϖ


Việc chung sống như vợ chồng với người đang có vợ hoặc có chồng
có thể được gia đình chấp thuận hoặc không chấp thuận; có thể tố
chức lễ cưới hay không tổ chức. Hai bên chung sống với nhau có
thể công khai, được hàng xóm coi như vợ chồng và có con chung,
có tài sản chung hoặc không có tính chất công khai mà lén lút, nên

Trong trường hợp này, việc đăng ký kết hôn được nhà nước khuyến
khích,không bắt buộc và không bị hạn chế về mặt thời gian. Cho
dù nam, nữ có đăng ký kết hôn hay không thì vẫn được công nhận
là quan hệ hôn nhân hợp pháp bởi trên thực tế họ đã vào tuổi ông,
bà (điều 1, 2 NĐ 77/2001/NĐ-CP). Và quan hệ vợ chồng của họ
được pháp luật công nhân kể từ ngày xác lập (ngày họ chung sống
với nhau như vợ chồng), chứ không phải là chỉ được công nhân kể
từ ngày đăng ký kết hôn
Tuy nhiên, theo Nghị quyết 35/200/NQ-QH10 không quy định rõ về
điều kiện kết hôn mà các bên nam nữ sống chung như vợ chông
phải tuân thủ. Nếu các bên nam nữ chung sống với nhau như vợ
chồng trước ngày 03/01/1987 mà có quan hệ huyết thống trong
phạm vi ba đời hoặc đã từng có quan hệ thích thuộc trực hệ thì có
được coi là quan hệ hôn nhân hợp pháp không? Mặc dù được pháp
luật cho phép nhưng tại thời điểm hiện tại một bên kết hôn với
người khác phát sinh tranh chấp thì giải quyết như thế nào? Nếu
công nhận quan hệ chung sống như vợ chồng tại thời điểm đó thì
người có quan hệ hệ huyết thống hoặc đã từng có quan hệ thích
thuộc trực hệ là hợp pháp thì việc kết hôn của một trong hai bên
sau là trái pháp luật, vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một


chồng. Còn nếu không công nhận quan hệ chung sống như vợ
chồng giữa những người trên là hợp pháp thì đương nhiên việc kết
hôn sau không vị phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng và
được pháp luật công nhận. Như vậy, pháp luật cần có những quy
định cụ thể về vấn đề này để giải quyết được thống nhất
Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987
trở đi đến trước ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn
nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ

chưa đăng ký kết hôn. Đây là cách giải quyết linh động nhằm đảm
bảo được quyền lợi của hai bên. Nếu hết thời hạn luật định mà
nam, nữ chung sống với nhau vẫn không đăng ký kết hôn thì pháp
luật sẽ không công nhận họ là vợ chồng.
Theo quy định của luật, người đang chung sống như vợ chồng được
coi là có quan hệ vợ chồng, vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ
một chồng khi họ kết hôn hoặc lại chung sống như vợ chồng với
người thứ ba. Bởi, mặc dù trong quan hệ đầu tiền, giữa nam và nữ
chỉ chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn, nhưng nó
đã thỏa mãn các yếu tố của một cuộc hôn nhân, được pháp luật
công nhận và bảo hộ như các quan hệ vợ chồng pháp luật khác. Vì
thế, giữa nam và nữ chung sống như vợ chồng được coi là có quan
hệ vợ chồng nên cũng có những quyền và nghĩa vụ của vợ chồng
với nhau, nên phải tuân tủ nguyên tắc hôn nhân một vợ một
chồng. Do đó, khi một người đang chung sống như vợ chồng được
nhà nước thừa nhận có quan hệ vợ chồng, mà kết hôn với người
khác thì lần kết hôn đó là vi phạm điều kiện kết hôn, vi phạm


nguyên tắc một vợ một chồng, và bị coi là kết hôn trái pháp luật.
Lần kết hôn sau của người đang chung sống như vợ chồng được
thừa nhận là có quan hệ vợ chồng sẽ bị tòa án tuyên bố hủy.
IV. Thực tiễn giải quyết và một số bất cập
1. Thực tiễn giải quyết
Ở nước ta, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là một nguyên
tắc hiến định và dần trở thành nguyên tắc của cuộc sống gia đình,
là nền tảng để xây dựng một xã hội văn minh, phát triển bền vững.
Tuy nhiên trong thực tế, tình trạng ngoại tình, nam nữ chung sống
như vợ chồng ngày càng phổ biến ở nhiều địa phương, nhất là các
thành phố lớn.

người còn lại trong quan hệ hôn nhân hợp pháp cảm thấy căng
thẳng, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục, nên chính họ - người
không vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng lại đâm
đơn yêu cầu ly hôn. Chính điều này đã giải thoát cho người vi
phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng tiếp tục được thực
hiện hành vi vi phạm, thậm chí hợp lý hóa quan hệ pháp luật của
mình theo quy định tại Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP
2. Những bất cập trong việc giải quyết các trường hợp vi phạm
Mặc dù có nhiều văn bản hướng dẫn khá cụ thể nhưng thực tế vẫn
còn bất cập


a) Về mặt lý luận
Trong quá trình giải quyết các vi phạm nguyên tắc hôn nhân một
vợ một chồng còn nhiều trường hợp các văn bản pháp luật chưa có
hướng dẫn cụ thể việc giải quyết tận cùng vấn đề. Cụ thể:
Thứ nhất, theo nghị quyết 35/2000/QH10, trường hợp nam nữ
chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 thì được
nhà nước công nhận là có quan hệ vợ chồng, không phụ thuộc vào
việc có đăng ký hay không. Như vậy, nghị quyết chỉ căn cứ vào
mốc thời gain các bên bắt đầu chung sống như vợ chồng là có
quan hệ vợ chồng hay không. Điều này là không chặt chẽ và
không đúng trong trường hợp nam nữ chung sống với nhau là
người có cùng dòng máu về trực hệ, có họ trong phạm vi ba đời
hoặc giữa họ đã từng có quan hệ thích thuộc về trực hệ. Do nghị
quyết 35 không quy định rõ vấn đề này, nên việc áp dụng có công
nhận hay không việc chung sống này giữa những người có quan hệ
huyết thống trong phạm vi ba đời hoặc đã từng có quan hệ thích
thuộc về trực hệ là có quan hệ vợ chồng trong thực tế là khác
nhau.

Thứ hai, theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP mục 2
điểm d3, trường hợp một người đang có vợ, có chồng nhưng tình
trạng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích
hôn nhân không đạt được mà đã kết hôn với người khác. Khi tòa án
tiến hành xét xử kết hôn trái pháp luật mà họ đã ly hôn với vợ
hoặc chồng của lần trước kết hôn thì Tòa án không hủy kết hôn
sau, là hôn nhân hợp pháp. Quy định này hoàn toàn hợp lý khi tính
đến thực chất quan hệ tình cảm của hai người kết hôn trái pháp


luật. Tuy nhiên trong thực tế, việc xác định thế nào là “đời sống vợ
chồng trầm trọng, hôn nhân không thể kéo dài” là việc xác định
khoảng thời gian vợ chồng mâu thuẫn là rất khó khăn và tế nhị.
Đây là một kẽ hở của pháp luật, cố tình kết hôn trái pháp luật sau
đó lại hợp lý hóa quan hệ trái pháp luật đó bằng việc cho rằng
quan hệ hôn nhân trước không hạnh phúc. Vì thế pháp luật cần
quy định chặt chẽ hơn vấn đề này để việc áp dụng các quy định để
giải quyết vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng giữa
các tò
a được thống nhất.
b) Về mặt thực tiễn
Thứ nhất, liên quan đến việc xác định tình trạng hôn nhân của
UBND cấp cơ sở còn nhiều sai sót, lơ mơ, xác nhận không chính
xác đã kéo theo hệ lụy phát sinh các trường hợp kết hôn trái pháp
luật, vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Căn cứ nghị
định 158/2005/NĐ-CP khi tiến hành đăng ký kết hôn các bên phải
xác nhận tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp một người cư
trú ở xã phường thị trấn này nhưng đăng ký kết hôn ở xã, phường
thị trấn khác thì phải có xác nhận của UBND này nhưng đăng ký
kết hôn ở UBND xã, phường thị trấn khác thì phải có xác nhận của

không chấp nhận. Từ nhận định có khác nhau nên cách thức giải
quyết của hai Tòa án về nội dung vụ việc là khác nhau
Thứ tư, khi công cụ pháp lý bị lãng quên, tính khả thi của các hình
thức xử lý vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng tỏng
HNGĐ thực tế là chưa cao.


V. Một số giải pháp khắc phục vi phạm nguyên tắc hôn nhân một
vợ một chồng ở nước ta hiện nay
Thứ nhất, về mặt lý luận, tăng cường hoàn thiện các quy định
pháp luật về việc giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc
hôn nhân một vợ một chồng, để giải quyết các trường hợp vi phạm
thực sự mang lại hiệu quả cao.
- Đối với trường hợp ngoại lệ, người đang có vợ, có chồng kết hôn
với người khác và lần kết hôn sau được công nhận là hợp pháp
theo NQ02/2000, cần có hướng dẫn cụ thể quan hệ vợ chồng đầu
tiên thế nào là “đang trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích hôn
nhân không đạt được”.
- Pháp luật cần chỉ rõ: trường hợp nam nữ chung sống như vợ
chồng trước ngày 03/01/1987 theo Nghị quyết 35 mà vi phạm một
trong các điều kiện kết hôn như: giữa những người có quan hệ
cùng dòng máu trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba
đời; người đang có vợ, đang có chồng chung sống với người khác…
thì không thể công nhận có quan hệ vợ chồng.
- Để nâng cao hiệu quả của hoạt động xác nhận tình trạng nhân
thân của các cá nhân trên địa bàn UBND xã quản lý, cán bộ hộ tịch
cần tăng cường tuyên truyền, giải thích rõ cho hai bên nam, nữ
hiểu trước khi đăng ký kết hôn rằng họ phải tuân thủ các quy định
của pháp luật về điều kiện kết hôn.
- Đặc biệt, quy định cụ thể việc giải quyết các hậu quả pháp lý về

của đồng bảo dân tộc thiểu số, đưa các quy định pháp luật đến với
đồng bào.
KẾT LUẬN
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng vẫn là nguyên tắc cơ bản
cho đến thời điểm hiện tại và việc thực hiện trong thực tế cuộc
sống ở Việt Nam vẫn còn khá nhiều vướng mắc và bất cập. Vì vậy
cần có sự quan tâm tham gia đúng mức của Đảng và Nhà Nước
cũng như sự ý thức của người dân trong xã hội để nguyên tắc có
thể thực hiện một cách nghiêm túc và thành công.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status