Lời mở đầu
Hôn nhân và gia đình là những hiện tượng xã hội phát sinh trong quá trình phát triển của xã hội loài
người, biểu hiện những quan hệ mang tính tự nhiên. Cũng như những hiện tượng xã hội khác, hôn nhân gia
đình chịu sự tác động có tính quyết định bởi các điều kiện kinh tế - xã hội. Lịch sử xã hội loài người đã chứng
kiến quá trình phát sinh, thay đổi những hình thái hôn nhân và gia đình. Đó là quá trình vận động tất yếu trên
cơ sở sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội. Từ khi trong xã hội có Nhà nước, sự liên kết của các cá
nhân nhằm xây dựng gia đình được coi là sự kiện pháp lý làm phát sinh những quan hệ pháp luật hôn nhân và
gia đình. Quan hệ hôn nhân và gia đình không chỉ đơn thuần thể hiện ý chí của Nhà nước. Nhà nước dùng
pháp luật điều chỉnh những quan hệ hôn nhân và gia đình. Quan hệ hôn nhân và gia đình không chỉ đơn thuần
thể hiện ý chí của các cá nhân mà còn mang ý chí của Nhà nước dùng pháp luật điều chỉnh những quan hệ
hôn nhân và gia đình, hướng cho những quan hệ này phát sinh, thay đổi hay chấm dứt đều không bất lợi cho
Nhà nước và cho xã hội. Trong những chế độ xã hội khác nhau có các chế độ hôn nhân và gia đình khác nhau.
Nội dung
I. Những lý luận cơ bản về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
1.Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành và phát triển nguyên tắc của luật hôn nhân và
gia đình
1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về hôn nhân và gia đình – cơ sở lý luận của việc
hình thành và phát triển nguyên tắc của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Chủ nghĩa Mác – Lênin nhìn nhận hôn nhân và gia đình là những hiện tượng xã hội có quá trình phát
sinh, phát triển do các điều kiện kinh tế - xã hội quyết định. Mác và Ăng ghen đã chỉ ra cho chúng ta thấy
rằng hình thức hôn nhân một vợ một chồng ra đời trên cơ sở sự xuất hiện chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu
sản xuất và những tài sản khác có trong xã hội. Được củng cố bởi chính sách, pháp luật của giai cấp thống trị
bóc lột, ngay từ khi mới ra đời, chế độ hôn nhân một vợ một chồng đó đã bộc lộ tính giả dối và tiêu cực đối
với số đông những người dân lao động. Đồng hành với chế độ hôn nhân một vợ một chồng là nạn mại dâm
công khai và tệ ngoại tình. Phản ánh về tình trạng này, Ăng ghen viết: “Ngày nay trong môi trường tư sản
hôn nhân được tiến hành theo hai cách. Trong các nước theo đạo thiên chúa, thì vẫn như trước kia, tức là
cha mẹ tìm cho đứa con trai tư sản của mình một người vợ xứng đang, và kết quả dĩ nhiên của việc đó là
làm cho cái mâu thuẫn chứa đựng trong chế độ một vợ một chồng phát triển đầy đủ nhất…” . Chế độ một
vợ một chồng ở thời kỳ này thể hiện công khai quyền gia trưởng của người chồng, người cha trong gia đình.
Quá trình thực hiện quyền gia trưởng tuyệt đối đó đồng thời thừa nhận sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng,
giữa con trai và con gái, sự coi hrẻ quyền lợi của con cái. Một điều cơ bản nữa là cơ sở của hôn nhân. Hôn
nhiệm vụ và mục tiêu nói trên. Pháp luật hôn nhân và gia đình là sự cụ thể hóa quan điểm, đường lối của
Đảng về hôn nhân và gia đình với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội nhưng cũng phải phù hợp với điều kiện kinh
tế xã hội. Quan điểm của Đảng về việc xây dựng gia đình xã hội chủ nghĩa không phải là một mô hình chung
chung, mà mang những nội dung cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam. Những quan điểm này là
tư tưởng chỉ đạo quá trình xây dựng pháp luật hôn nhân và gia đình ở Việt Nam.
2.Khái quát chung về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
2.1. Khát quát chung về gia đình một vợ một chồng
Gia đình là một thiết chế xã hội cơ sở, tồn tại rất bền vững và lâu đời. Trong từng giai đoạn lịch sử
nhất định thì tổ chức và kết cấu gia đình do điều kiện kinh tế xã hội quyết định. Do tình hình xã hội ngày càng
có những biến đổi quan trọng đặc biệt là về kinh tế, bắt đầu có sự phân công lao động xã hội, năng suất lao
động ngày càng cao và xuất hiện của cải dư thừa, đầu tiên của cải đó thuộc về thị tộc và rồi chế độ tư hữu bắt
đầu xuất hiện, dần dần gia đình đối ngẫu cũng chiếm lấy của cải dư thừa đó và địa vị của người chồng bắt đầu
được thay đổi do họ là người chủ yếu làm ra tài sản. Người chồng đã lợi dụng địa vị quan trọng của mình để
thay đổi trật tự kế thừa (theo phong tục cũ thì con cái theo huyết thống về đằng mẹ và được thừa kế theo đằng
mẹ), điều này đánh một đòn rất mạnh vào chế độ thị tộc mẫu quyền và làm tan rã thị tộc “Thế là, dòng dõi
tính theo đằng mẹ và quyền kế thừa mẹ bị xóa bỏ, dòng dõi tính theo đằng cha và quyền kế thừa cha được xác
lập”
Trong giai đoạn này còn xuất hiện một hình thái gia đình trung gian là “ gia đình gia trưởng”: Hình
thái gia đình đó đánh dấu bước chuyển từ chế độ hôn nhân cặp đôi sang chế độ hôn nhân một vợ một chồng.
Đề đảm bảo sự trung thành của người vợ, do đó, bảo đảm việc con cái đích thật do người cha đẻ ra, người vợ
buộc phải phục tùng quyền lực tuyệt đối của người chồng; nếu người chồng có giết vợ chăng nữa thì cũng chỉ
là thực hành quyền của mình mà thôi”.
2
Gia đình một vợ một chồng nảy sinh từ gia đình đối ngẫu “gia đình ấy dựa trên quyền thống trị của
người chồng, nhằm chủ đích là làm cho con cái sinh ra phải có cha đẻ rõ ràng không còn ai tranh cãi được
và dòng dõi đó là cần thiết, vì những đứa con đó sau này sẽ có quyền thừa hưởng tài sản của cha với tư
cách là người thừa kế trực tiếp”
Gia đình một vợ một chồng là một đơn vị kinh tế độc lập, tồn tại vững chắc, khác với gia đình đối
ngẫu là quan hệ vợ chồng chặt chẽ hơn nhiều và người chồng có quyền hành hơn nhiều so với người vợ,
thường chỉ có người chồng mới có quyền cắt đứt mội quan hệ đo, chế độ một vợ một chồng không hề cản trở
luật vẫn cho phép người đàn ông được phép lấy nhiều vợ. Chính chế độ hôn nhân một vợ một chồng chỉ về
phía người vợ đó không hề làm trở ngại chút nào đến chế độ nhiều vợ công khai hay bí mật của người đàn
ông. Điều này thể hiện sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ hôn nhân trong thời kỳ phong kiến
và gây nên nhiều đau khổ cho người phụ nữ.
Đến Nhà nước tư bản, lần đầu tiên nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đã được thừa nhận trong
các văn bản pháp luật. Chế độ đa thê đã bị bãi bỏ thay vào đó là hình thái hôn nhân một vợ một chồng ở cả
3
hai phía, cả người vợ và người chồng, nhưng xét về bản chất “hôn nhân của giai cấp tư sản thật ra là chế độ
cộng thê”, trên thực tế “nguyên tắc đó đã bị phá vỡ do tệ nạn ngoại tình và mại dâm công khai”. Ngay trong
xã hội tư bản, hôn nhân một vợ một chồng tồn tại cũng chưa thực sự đúng với bản chất của nó. Vậy, bản chất
của hôn nhân một vợ một chồng là gì? Hôn nhân một vợ một chồng tức là một vợ một chồng phải cả từ hai
phía, chứ không chỉ áp đặt cho riêng ở phía người đàn ông hay người phụ nữ. Hôn nhân được xuất phát từ
tình yêu, thực sự có nguyện vọng chung sống, gắn bó lâu dài với nhau mà không bị chi phối bởi mục đích
kinh tế hay nhằm bảo vệ quyền tư hữu về tài sản.
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, “khi các tư liệu sản xuất biến thành tài sản xã hội, thì chế độ lao
động làm thuê sẽ mất đi và tình trạng một số phụ nữ cần bán mình vì đồng tiền sẽ mất đi. Tệ nạn mại dâm
sẽ mất đi và chế độ một vợ một chồng không những bị suy tàn mà cuối cùng còn trở thành hiện thực ngay
cả với đàn ông nữa”. Vì thế, hôn nhân một vợ một chồng không hề mất đi mà trái lại nó thực sự tồn tại một
cách đầy đủ nhất, “một vợ một chồng theo nghĩa giữ nguyên, chứ tuyệt nhiên không phải theo nghĩa lịch sử
của danh từ”. Chế độ một vợ một chồng được ghi nhận trong pháp luật nước ta có bản chất khác với chế độ
một vợ một chồng cổ điển, lúc mà nó vừa ra đời và tồn tại trong các chế độ xã hội có giai cấp đối kháng. Nếu
nguồn gốc của chế độ một vợ một chồng do điều kiện kinh tế và mục đích để duy trì chế độ tư hữu bóc lột thì
dưới xã hội chủ nghĩa hôn nhân một vợ một chồng được tồn tại như bản chất vốn có của nó, tức là lấy tình
yêu chân chính giữa nam và nữ làm cơ sở và mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận, bền
vững. Trong gia đình, quyền bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng phải được tôn trọng, và chỉ khi
quyền bình đẳng vợ chồng được thực hiện hoàn toàn mới đảm bảo chế độ hôn nhân một vợ một chồng mới
được xác lập một cách vững chắc.
2.3. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ở Việt Nam
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là nguyên tắc hiến định và là một nguyên tắc cơ bản được cụ
thể hóa trong Luật HN&GĐ. Nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân gia đình là những nguyên lý, tư tưởng chỉ
được thực hiện một cách nghiêm túc trong thực tế.
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là tư tưởng chủ đạo quán triệt toàn bộ các quy phạm pháp
luật hôn nhân gia đình, quy định người đang có vợ, có chồng không được phép kết hôn hoặc chung sống
như vợ chồng với người khác và ngược lại, bất cứ một người nào khác cũng không được phép kết hôn hoặc
chung sống như vợ chồng với người khác đang có vợ, có chồng; đồng thời thể hiện quan điểm của Đảng và
Nhà nước trong việc giải quyết các trường hợp vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng.
II. Quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ở
Việt Nam qua các thời kỳ
1.Pháp luật Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945
Do đặc điểm tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của những năm đầu khi dành được chính quyền, mặc
dù rất quan tâm đến vấn đề hôn nhân và gia đình, nhưng Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hòa chưa thể ban
hành được những văn bản pháp luật quy định riêng về hôn nhân gia đình. Để điều chỉnh những quan hệ hôn
nhân gia đình. Trước cách mạng tháng Tám 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến đặt dưới ách
thống trị của thực dân Pháp. Nhìn chung, chế độ hôn nhân gia đình ở nước ta vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của
hệ tư tưởng phong kiến lạc hậu tồn tại từ nhiều thế kỷ trước, quan niệm “trai tài năm bay vợ, gái chính chuyên
chỉ có một chồng” vẫn còn phổ biến. Pháp luật Việt Nam thời kỳ phong kiến và thời kỳ Pháp thuộc đều công
nhận quyền của người đàn ông được lấy nhiều vợ, ngoài người vợ chính, người đàn ông còn có thể lấy nhiều
người khác làm vợ lẽ, thể hiện thái độ kỳ thị rõ ràng đối với người phụ nữ.
Ngay trong Bộ luật Hồng Đức thời kỳ Lê sơ, bộ luật được đánh gia cao cải thiện địa vị của người phụ
nữ trong xã hội phong kiến, cũng thừa nhận hôn nhân đa thê, xác lập chế độ gia đình gia trưởng. Trong các
quan hệ nhân thân liên quan đến hôn nhân và gia đình, Bộ luật cũng điều chỉnh quan hệ giữa vợ cả vợ lẽ tại
các điều 309, 481, 483, 484, ngoài các quy định về các nghĩa vụ của họ với chồng và nhà chồng thì họ cũng
phải tuân thủ trật tự thê thiếp và vợ cả nói chung được ưu tiên hơn. Pháp luật Việt nam đến thời kỳ Pháp
thuộc cũng thừa nhận “ có hai cách giá thú hợp pháp: giá thú chính thất và giá thú về thứ nhất” (điều 79 Bộ
Dân luật Bắc Kỳ năm 1931) hay tại điều 80 Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931 cũng quy định “chưa lấy vợ chính
thì cấm lấy vợ thứ”. Như vậy, trước cách mạng tháng Tám pháp luật chưa thừa nhận nguyên tắc hôn nhân một
vợ một chồng trong gia đình là quan hệ bất bình đẳng, chính điều này đã gây nhiều đau khổ cho người phụ
nữ.
Để điều chỉnh những quan hệ hôn nhân và gia đình, nhà nước non trẻ của chúng ta dựa vào các quy
định trong các văn bản pháp luật của chế độ cũ còn phù hợp với quan điểm, chính sách của Đảng và quy đinh
thời bị chia cắt thành hai miền Nam Bắc với chế độ chính trị, xã hội khác nhau. Trong khi nhân dân miền nam
tiếp tục đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và bè lũ tay sai, quân và dân miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng
quyết tâm đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, tập trung sức người, sức của chi viện cho tiền tuyến miền Nam.
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã đạt được những thành tựu quan trọng, tác động mạnh
mẽ vào các mặt của đời sống xã hội, trong đó có quan hệ hôn nhân gia đình. Trong khi đó, những tàn tích của
chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu vẫn còn tồn tại, đè nặng lên tư tưởng của người dân, kìm hãm
sự phát triển của con người. Tình hình hôn nhân và gia đình đó “ không thích hợp cho việc thực hiện những
nhiệm vụ cách mạng mới là cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa. Vì vậy, đã đến lúc cần phải xây dựng một
chế độ hôn nhân và gia đình cho phù hợp với đạo đức xã hội chủ nghĩa, trước hết là cần ban hành một đạo
luật hôn nhân và gia đình.
Xuất phát từ thực tế đó, luật hôn nhân và gia đình cần phải thực hiện mục đích xây dựng những gia
đình dân chủ, hòa thuận hạnh phúc, trong đó, mọi người đoàn kết, thương yêu giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, xóa
bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữa, coi rẻ quyền lợi
của con cái. Kế thừa những nguyên tắc cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia đình thời kỳ trước, để đạt được
những mục đích như trên, luật hôn nhân và gia đình năm 1959 đã được xây dựng dựa trên bốn nguyên tắc cơ
bản: nguyên tắc hôn nhân tự do và tiến bộ; nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng; nguyên tắc nam nữ bình
đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong gia đình; nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con cái.
6