Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
Bài tập học kỳ - Môn Luật Hôn nhân và Gia đình
1
Luận văn
Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một
chồng ở Việt Nam - lịch sử phát triển
và thực tiễn áp dụng
Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
Bài tập học kỳ - Môn Luật Hôn nhân và Gia đình
2
A. LỜI MỞ ĐẦU
Gia đình là tế bào của xã hội, và hôn nhân là cơ sở của gia đình. Một xã hội muốn
tồn tại và phát triển một cách bền vững thì chế độ hôn nhân phải được xây dựng một cách
vững chắc. Từ khi trong xã hội có nhà nước, quan hệ hôn nhân không chỉ phản ánh ý chí
của các cá nhân tham gia vào quan hệ đó mà còn là ý chí của nhà nước. Trong những giai
đoạn khác nhau, phụ thuộc vào cơ sở kinh tế - xã hội, nhà nước đặt ra những nguyên tắc của
hôn nhân và gia đình để định hướng cho những quan hệ xã hội đó phát triển theo mục tiêu
đã định. Việc xây dựng gia đình hòa thuận, bình đẳng, hạnh phúc đã trở thành một đòi hỏi
tất yếu của xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng của hôn nhân và gia đình trong công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước ta đã thiết
lập chế độ hôn nhân gia đình mới tiến bộ, thay thế cho chế độ hôn nhân gia đình phong kiến, lạc
hậu. Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng chính là một trong những định hướng vững chắc
của Đảng và Nhà nước ta đảm bảo cho việc thực hiện những quan hệ hôn nhân và gia đình xã hội
chủ nghĩa tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của xã hội loài người. Trong bài viết của
mình, em xin được trình bày đề tài “Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng ở Việt Nam - lịch
sử phát triển và thực tiễn áp dụng”.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
NGUYÊN TẮC HÔN NHÂN MỘT VỢ MỘT CHỒNG TẠI VIỆT NAM
1. Cơ sở lý luận: Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về hôn nhân và gia đình
Chủ nghĩa Mác - Lê nin nhìn nhận hôn nhân và gia đình là những hiện tượng xã hội
có quá trình phát sinh, phát triển, do các điều kiện kinh tế - xã hội quyết định. Trong tác
phẩm nổi tiếng “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”, Mác và
Enghen đã phân tích, chứng minh một cách khoa học rằng: lịch sử gia đình là lịch sử của
quá trình xuất hiện chế độ quần hôn, chuyển sang gia đình đối ngẫu, phát triển lên gia đình
một vợ một chồng - là quá trình không ngừng hoàn thiện hình thức gia đình, trên cơ sở sự
phát triển của các điều kiện sinh hoạt vật chất của con người.
Mác và Enghen đã chỉ ra cho chúng ta thấy rằng, hình thức hôn nhân một vợ một
chồng ra đời trên cơ sở sự xuất hiện chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và những
tài sản khác trong xã hội. Được củng cố bởi chính sách, pháp luật của giai cấp thống trị bóc
lột, ngay từ khi mới ra đời, chế độ hôn nhân một vợ một chồng đó đã bộc lộ tính giả dối và
tiêu cực đối với số đông những người dân lao động. Đồng hành với chế độ hôn nhân một vợ
một chồng là nạn mãi dâm công khai và tệ ngoại tình. Chế độ một vợ một chồng ở những
thời kỳ này thể hiện công khai quyền gia trưởng của người chồng, người cha trong gia đình.
Quá trình thực hiện quyền gia trưởng tuyệt đối đó đồng thời thừa nhận sự bất bình đẳng
giữa vợ và chồng, giữa con trai và con gái, sự coi rẻ quyền lợi của con cái.
Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng sâu sắc và triệt để nhất. Trong
cuộc cách mạng đó, chắc chắn là các cơ sở kinh tế trước đây của chế độ một vợ một chồng
cũng như của cái bổ sung cho nó là tệ ngoại tình và nạn mãi dâm, đều sẽ bị tiêu diệt. Vậy,
chế độ một vợ một chồng còn tồn tại hay không khi mà những nguyên nhân kinh tế đã sinh
ra nó không còn? Về vấn đề này, Enghen đã khẳng định: “Chế độ đó chẳng những sẽ không
biến đi, mà trái lại, chỉ có bắt đầu từ lúc đó, nó mới được thực hiện trọn vẹn. Thật vậy, các
tư liệu sản xuất mà được chuyển thành tài sản xã hội thì chế độ lao động làm thuê, giai cấp
vô sản cũng sẽ biến mất, và đồng thời cũng sẽ không còn tình trạng một số phụ nữ - con số
này có thể thống kê được - cần thiết phải bán mình vì đồng tiền nữa. Tệ mại dâm sẽ mất đi
đường lối của Đảng về hôn nhân và gia đình. Hiện nay, đất nước đang trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội, việc thực hiện các quan hệ hôn nhân và gia đình phải phù hợp với mục
tiêu của chủ nghĩa xã hội nhưng cũng phải phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội ở thời
kỳ quá độ. Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
Đảng ta đã khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả
đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách. Các chính
sách của Nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hòa thuận, tiến bộ. Nâng cao ý
thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người”. Như vậy, quan điểm của Đảng ta về việc
xây dựng gia đình xã hội chủ nghĩa không phải là một mô hình chung chung, mà mang lại
những nội dung cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam. Trong đó đề cao nguyên
Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
Bài tập học kỳ - Môn Luật Hôn nhân và Gia đình
5
tắc hôn nhân một vợ, một chồng, coi nó là nền tảng của hôn nhân và gia đình xã hội chủ
nghĩa.
3. Cơ sở kinh tế xã hội của sự hình thành nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - lê nin, hôn nhân và gia đình, cũng như các hiện
tượng xã hội khác, do cơ sở kinh tế - xã hội quyết định. Những nguyên tắc cơ bản của Luật
hôn nhân và gia đình Việt Nam thể hiện quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước ta trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước
không thể là chủ quan duy ý chí mà xuất phát từ thực tiễn xã hội, tôn trọng quy luật vận
động khách quan của các quan hệ hôn nhân và gia đình.
Sau khi giành được chính quyền, năm 1945, do cần phải tập trung giải quyết những
vấn đề cấp bách trong xã hội và tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược, chúng ta chưa thể xóa bỏ ngay được quan hệ sản xuất phong kiến. nền kinh tế
còn ở trình độ thấp, mang nặng tính tự cấp, tự túc, vì thế trong thời kì đầu, quan hệ hôn
nhân và gia đình vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng phong kiến.
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, nhân dân miền Bắc
dưới sự lãnh đạo của Đảng bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong cuộc
do những điều kiện kinh tế, xã hội hiện thời quyết định nên nó không phải là bất biến. Khi
xem xét, đánh giá những nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gai đình, chúng ta cần
phải có quan điểm lịch sử đúng đắn.
III. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGUYÊN TẮC MỘT VỢ MỘT
CHỒNG CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
Dựa vào những tiêu chí khác nhau, mà người ta có những sự phân chia các giai đoạn
của quá trình phát triển của pháp luật hôn nhân và gia đình khác nhau. Trong những văn
bản pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam qua từng giai đoạn, những nguyên tắc cơ bản
được thể hiện rõ nét. Một nét đặc thù trong việc lập pháp về hôn nhân và gia đình ở Việt
Nam là sự ra đời khá sớm của văn bản luật, chính vì vậy có thể làm rõ quá trình hình thành
và phát triển nguyên tắc một vợ một chồng của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam qua hai
giai đoạn lớn: giai đoạn trước và sau khi có Luật hôn nhân và gia đình 1959.
1. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trước khi có Luật hôn nhân và gia đình
năm 1959
Do đặc điểm tình hình hình chính trị, kinh tế, xã hội của những năm đầu sau khi
giành được chính quyền, mặc dù rất quan tâm đến vấn đề hôn nhân và gia đình, nhưng Nhà
nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa chưa thể ban hành được những văn bản pháp luật quy
định riêng về hôn nhân và gia đình. Để điều chỉnh những quan hệ hôn nhân và gia đình,
Nhà nước non trẻ của chúng ta đã dựa vào các quy định trong các văn bản pháp luật của chế
độ cũ còn phù hợp với quan điểm, chính sách của Đảng và quy định của Hiến pháp 1946.
Đến năm 1950, những nguyên tắc của pháp luật hôn nhân và gai đình được thể hiện rõ ràng
trong Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 và Sắc lệnh số 159-SL ngày 17/11/1950. Thời kỳ
này, pháp luật hôn nhân và gia đình vẫn còn trong giai đoạn sơ khai, với một số ít quy phạm
pháp luật.
Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
Bài tập học kỳ - Môn Luật Hôn nhân và Gia đình
7
gia đình phong kiến lạc hậu vẫn còn tồn tại, đè nặng lên tư tưởng của người dân kìm hãm sự
phát triển của con người. Tình hình hôn nhân và gia đình đó “không thích hợp với việc thực
hiện những nhiệm vụ cách mạng mới là cái tạo và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa. Vì
Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
Bài tập học kỳ - Môn Luật Hôn nhân và Gia đình
8
vậy, đã đến lúc cần phải xây dựng một chế độ hôn nhân và gia đình phù hợp với đạo đức xã
hội chủ nghĩa, trước hết là phải ban hành một Luật hôn nhân và gia đình”.
Xuất phát từ thực tế đó, Luật hôn nhân và gia đình cần phải thực hiện mục đích là
xây dựng những gia đình dân chủ hòa thuận, hạnh phúc, trong đó, mọi người đoàn kết,
thương yêu, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, xóa bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân
và gia đình phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền lợi của con cái. Kế thừa
những nguyên tắc cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia đình thời kỳ trước, để đạt được
những mục đích như trên, Luật hôn nhân và gia đình 1959 đã được xây dựng trên cơ sở bốn
nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Nguyên tắc hôn nhân tự do và tiến bộ
- Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
- Nguyên tắc nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong gia đình
- Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con cái.
Nhằm thực hiện chế độ hôn nhân và gia đình mới, Luật hôn nhân và gia đình 1959 đã
quy định nguyên tắc mới: nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Trước đây, mặc dù đã
xác định được nhiệm vụ là xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu, phản dân chủ của pháp luật hôn
nhân và gia đình phong kiến, nhưng Nhà nước ta chưa có quy định về việc thực hiện chế
độ hôn nhân một vợ một chồng. Đây là một hạn chế của pháp luật thời kỳ trước đó. Việc
Luật hôn nhân và gia đình 1959 quy định nguyên tắc một vợ một chồng bảo đảm cho hạnh
phúc gia đình bền vững, đồng thời phù hợp với đạo đức xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc này
còn được thể hiện trong quy định về điều kiện kết hôn “cấm người đang có vợ, có chồng
kết hôn với người khác” (Điều 5)
b. Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
và gia đình trong những giai đoạn mới của đất nước.
IV. NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC HÔN NHÂN MỘT VỢ MỘT CHỒNG
Điếu 64 Hiến pháp 1992 quy định: “Gia đình là tế bào của xã hội. Nhà nước bảo hộ
hôn nhân và gia đình. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ
chồng bình đẳng. Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu
có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ”. Trên cơ sở đó, Luật hôn nhân và gia
đình 2000 đã khẳng định nguyên tắc cơ bản đầu tiên là nguyên tắc hôn nhân một vợ một
chồng. Nguyên tắc này được thể hiện cụ thể trong những quy định về kết hôn, thực hiện
quan hệ vợ chồng, ly hôn
Trong xã hội phong kiến, chế độ hôn nhân được xây dựng trên cơ sở chế độ chiếm
hữu tư nhân vầ ruộng đất, đời sống vật chất và tinh thần của xã hội còn ở mức độ thấp. Chế
độ hôn nhân phong kiến bảo vệ một cách tuyệt đối quyền của người gia trưởng mà một
trong những nội dung của nó là thừa nhận và bảo vệ quyền đa thê. Trong xu thế phát triển
của xã hội, mặc dù vẫn tiếp tục duy trì chế độ tư hữu, bóc lột, Nhà nước tư sản phải quy
định chế độ hôn nhân và gia đình một cách dân chủ hơn. Chế độ đa thê bị bãi bỏ và thay
vào đó là chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Nhưng do tính chất của những quan hệ kinh
tế - xã hội tư bản, chế độ hôn nhân một vợ một chồng đó chỉ được thể hiện trên văn bản,
Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
Bài tập học kỳ - Môn Luật Hôn nhân và Gia đình
10
còn trong thực tế, chế độ một vợ một chồng luôn luôn tồn tại bên trong nó những giả dối.
Với việc biến những tư liệu sản xuất thành tài sản của xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa
đang dần tạo ra được những cơ sở kinh tế cho sự ổn định của chế độ hôn nhân một vợ một
chồng. Trong những điều kiện tiến bộ của xã hội; hôn nhân một vợ một chồng tồn tại vững
chắc trên cơ sở tình yêu giữa nam và nữ “vì bản chát của tình yêu là không thể chia sẻ được
cho nên hôn nhân dựa trên tình yêu giữa nam nữ, do ngay bản chất của nó là hôn nhân một
vợ một chồng”.
Việc thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng là phù hợp với sự phát triển của
(chồng) của họ đã chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết.
- Chung sống như vợ chồng là việc nam nữ coi nhau là vợ chồng, chung sống với
nhau, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau chăm lo đời sống chung. Theo TTLT số
01/2001/TTLT - TANDTC - VKSNDTC - BTP ngày 3/1/2001 của Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị quyết số
35/2000/QH10 của Quốc hội, được coi là nam và nữ đang sống chung với nhau như vợ
chồng, nếu họ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau
+ Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp
nhận
+ Việc họ về chung sống vwois nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến
+ Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng nhau xây dựng gia
đình.
Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức
lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp
nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc
ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng
gia đình.
Việc kết hôn vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng phải bị xử hủy theo Luật hôn
nhân và gia đình, người vi phạm có thể bị xử lý về hình sự theo quy định của Bộ luật hình
sự. Tuy nhiên, do xuất phát từ tình hình xã hội nước ta, việc thi hành nguyên tắc một vợ
một chồng có ngoại lệ trong một số trường hợp sau:
- Một người kết hôn với nhiều người khác trước ngày 3/1/1959 (ngày Luật hôn nhân
và gia đình 1959 có hiêu lực). Trước khi có Luật hôn nhân và gia đình 1959, chúng ta chưa
thực hiện được chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Cho nên, mặc dù việc thực hiện những
quan hệ hôn nhân này không phù hợp với nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, nhưng
vẫn được thừa nhận là có giá trị pháp lý.
- Ngày 25/03/1977, Hội đồng Chính phủ mới ban hành Nghị quyết 76/CP công bố
danh mục 411 văn bản pháp luật áp dụng chung cho cả nước, trong đó có Luật Hôn nhân và
quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình đã được thiết kế để áp dụng trong thực tế, như:
điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn, nghĩ vụ và quyền của vợ và chồng những văn bản quy
phạm pháp luật khác cũng được ban hành để hướng dẫn áp dụng và quy định cụ thể để thi
hành một số chế định trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Thực chất, đây là sự cụ thể hóa
những nội dung của các nguyên tắc cơ bản đã được quy định trong Luật hôn nhân và gia
đình. Như vậy, những nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình Việt Nam mà trọng
tâm là nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đã thực hiện được vai trò chỉ đạo, định
hướng cho ngành Luật hôn nhân và gia đình trong việc xây dựng các quy phạm pháp luật
hôn nhân và gia đình so với Luật hôn nhân và gia đình 1986, nguyên tắc hôn nhân một vợ
Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
Bài tập học kỳ - Môn Luật Hôn nhân và Gia đình
13
một chồng đã được quy định cụ thể và đầy đủ hơn. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
được biểu hiện xuyên suốt trong những chế định luật.
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được kế thừa và phát triển qua Luật hôn
nhân và gia đình năm 1959, 1986 đã có quá trình đi sâu vào thực tế cuộc sống và đã đạt
được những hiệu quả điều chỉnh đáng kể. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được thi
hành trong thực tiễn và đang tỏ rõ sức mạnh trong việc xóa bỏ tận gốc rễ những tàn dư, tư
tưởng lạc hậu của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, chống lại những ảnh hưởng tiêu
cực của hôn nhân và gai đình tư sản, đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
các thành viên trong gia đình. Chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa không ngừng
được củng cố trên cơ sở kết hợp hài hòa nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng cũng như
các nguyên tắc cơ bản khác và đạo đức xã hội chủ nghĩa.
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đã trở thành một nguyên tắc của cuộc sống
được mọi người tôn trọng và tự giác thực hiện đang dần xóa bỏ tư tưởng đa thê còn rơi rớt
lại. Chế độ hôn nhân một vợ một chồng được thực hiện làm rõ bản chất của tình yêu là
“không thể chia sẻ được”, là sơ sở duy trì hạnh phúc gia đình, duy trì sự bền vững của chính
quan hệ hôn nhân. Tình trạng vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã giảm đáng kể.
Những hành vi của người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với
UBND xã Tân Bửu xác minh, cung cấp thông tin về tình trạng hôn nhân của ông N. Tháng
7-2009, UBND xã Tân Bửu trả lời rằng khi ông N. đến xã đăng ký kết hôn với bà vợ ba thì
ông khai chỉ có một vợ, đã được tòa cho ly hôn vào năm 1999 (bà vợ hai) và đưa ra bản án
của tòa. Dựa vào đó, cán bộ tư pháp xã mới cho ông đăng ký kết hôn.
Có thể thấy đây là một cái sai lẩn quẩn mà trách nhiềm đầu tiên thuộc về UBND xã
Tân Bửu. Phải xử lý cho xong hôn nhân của ông N với bà vợ đầu thì mới có thể giải quyết
cho ông ly hôn với bà vợ ba được. Trong trường hợp các đương sự không hợp tác, tòa sẽ
yêu cầu UBND xã Tân Bửu hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Những hạn chế trên đây cần phải được khắc phục. Chúng ta không thể chờ đến khi
nào chế độ công hữu được xác lập hoàn toàn để đón nhận chế độ hôn nhân xã hội chủ nghĩa
ưu việt mà đồng thời với việc tạo ra những cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội phải cải tạo
những quan hệ hôn nhân và gia đình, đưa nó phát triển theo đúng quy luật vận động khách
quan. Trong quá trình đó, sự điều chỉnh của luật hôn nhân và gia đình là biện pháp chính
yếu mà sự định hướng là nguyên tắc một vợ một chồng.
c. Nguyên nhân
Việc thực hiện nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong điều kiện hiện nay là rất
khó khăn do việc thừa nhận quan hệ chung sống như vợ chồng của nam và nữ có giá trị
pháp lý như quan hệ vợ chồng. Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, “hôn nhân thực
tế” không được thừa nhận nữa, nhưng chúng ta vẫn phải chấp nhận sự tồn tại của những
quan hệ chung sống như vợ chồng đã xảy ra từ trước ngày 3/1/1987. Vậy nguyên tắc hôn
nhân một vợ một chồng cũng điều chỉnh cả trường hợp này. Nhưng hiện nay chúng ta chưa
có được một cơ chế kiểm soát những đối tượng này cho nên nhiều UBND cấp xã đã tiến
hành đăng ký kết hôn cho những người đã có vợ, có chồng (do không thể biết được là họ
đang có vợ, có chồng vì việc chung sống như vợ chồng của họ không được ghi vào sổ hộ
Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
Bài tập học kỳ - Môn Luật Hôn nhân và Gia đình
15
tịch). Vậy là nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng bị vi phạm do ngay chính cơ chế mà
chúng ta tạo ra. Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải có những biện pháp phòng ngừa.
phận không nhỏ trong đội ngũ cán bộ tư pháp, thẩm phán đã không thật sự khách quan
Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
Bài tập học kỳ - Môn Luật Hôn nhân và Gia đình
16
trong giải quyết công việc. Thực tế cho thấy đội ngũ các bộ tư pháp cấp xã hầu hết chưa qua
đào tạo cử nhân luật, nên thiếu những kiến thức cơ bản.
2. Một số kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả điều chỉnh của nguyên tắc hôn nhân
một vợ một chồng
- Phổ biến, tuyên truyền, giáo dục Luật hôn nhân và gia đình một cách sâu rộng đối
với mọi đối tượng
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng chỉ có thể phát huy được hiệu quả điều
chỉnh khi được tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi người dân tuân thủ
một cách triệt để. Muốn vậy, việc phổ biến, tuyên truyền, giáo dục Luật hôn nhân và gia
đình phải được tiến hành nghiêm túc tới mọi đối tượng. Luật hôn nhân và gia đình cần sớm
được đưa vào trong chương trình giáo dục ở phổ thông. Tuy nhiên cần chú ý việc giáo dục
pháp luật đối với những đối tượng này phải đồng thời với việc giáo dục đạo đức, truyền
thống trong gia đình. Việc tuyên truyền, phổ biến Luật hôn nhân và gia đình cần được tiến
hành song song với việc vận động nhân dân đấu tranh chống lại những tàn dư của chế độ
hôn nhân và gia đình phong kiến, xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu, tự giác chấp
hành những quy định của Luật.
- Cải tiến trong công tác đăng ký hộ tịch và đổi mới về tổ chức và hoạt động của Tòa
án nhân dân trong việc giải quyết các án tranh chấp hôn nhân và gia đình.
Trong công tác đăng ký hộ tịch, việc xem xét các yêu cầu của nhân dân phải được
tiến hành nhanh chóng, chính xác. Một số tờ khai đăng ký hộ tịch cần được thay đổi lại cho
phù hợp để hạn chế những sai sót có thể xảy ra. Trong công tác giải quyết các tranh chấp về
hôn nhân và gia đình, nên thành lập Tòa chuyên trách về hôn nhân và gia đình. Do quan hệ
hôn nhân và gia đình có những đặc thù riêng nên đòi hỏi những người giải quyết các tranh
chấp về loại này phải có những phẩm chất, năng lực và kinh nghiệm cần thiết.
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho Hội thẩm nhân dân, bởi họ là người đại diện của nhân
dân tham gia vào hoạt động xét xử tại Tòa án, có quyền ngang với Thẩm phán.
C. KẾT LUẬN
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được xây dựng trên nền tảng hôn nhân tự
nguyện, tiến bộ và nam nữ bình đẳng nhằm xóa bỏ chế độ đa thê trong hôn nhân phong
kiến, coi rẻ phụ nữ, gây nhiều đau khổ cho phụ nữ. Bản chất của hôn nhân tự nguyện trên
cơ sở tình yêu nam nữ là hôn nhân một vợ một chồng. Mặt khác, chế độ một vợ một chồng
đảm bảo tình yêu giữa họ thực sự bền vững, duy trì và củng cố hạnh phúc gia đình. Hôn
nhân một vợ một chồng là điều quan trọng làm cho cuộc sống chung vợ chồng lâu dài, bền
vững và thực sự hạnh phúc.
Tuân thủ nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là yêu cầu bắt buộc đối với các cơ
quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi cá nhân. Đó là cơ sở tư tưởng vững chắc cho việc
xóa bỏ tận gốc rễ những tàn dư còn lại của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến đồng
thời chống lại những ảnh hưởng tiêu cực của hôn nhân và gia đình tư sản để củng cố chế độ
hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.