Bài tập lớn học kỳ - bộ môn Luật Hôn nhân và gia đình
A.LỜI MỞ ĐẦU
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưõng con người. “Gia đình có
tốt thì xã hội mới tốt, hạt nhân của xã hội là gia đình. Có rất nhiều cách hiểu
khác nhau về gia đình, nhưng nền tảng để xây dựng một gia đình hạnh phúc đó
là sự tự nguyện, bình đẳng, tin yêu, chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên trong
gia đình, giữa vợ với chồng, giữa cha mẹ và con cái. Luật hôn nhân và gia đình
ra đời nhằm điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình về nhân thân và tài
sản. Một trong những nguyên tắc để xây dựng gia đình hạnh phúc đó chính là
nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng. Nguyên tắc đó được xây dựng từ khi
mà Luật hôn nhân và gia đình mới ra đời nhằm xoá bỏ chế độ nhiều vợ trong hôn
nhân phong kiến, coi rẻ phụ nữ, gây nhiều khổ đau cho người phụ nữ. Hôn nhân
một vợ một chồng là điều quan trọng nhất làm cho cuộc sống chung của vợ
chồng trở nên lâu dài bền vững và thực sự hạnh phúc. Chính vì vậy trong bài viết
này em xin trình bày vấn đề: “ Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ở Việt
Nam - Lịch sử phát triển và thực tiễn áp dụng”
Bài viết của em còn nhiều thiếu xót, em mong thầy cô giúp đỡ thêm để em
có thể hoàn thiện trong các bài viết lần sau. Em xin chân thành cảm ơn!
B. NỘI DUNG
I. Thế nào là nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng
1. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lênin
Chủ nghĩa Mac – Lênin nhìn nhận hôn nhân và gia đình là một hiện tượng
của xã hội, có quá trình phát sinh, phát triển và phụ thuộc vào hình thái kinh tế
xã hội. Trong tác phẩm : “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà
nước” Mác và Ăngghen đã chỉ ra rằng:
Hình thức hôn nhân một vợ, một chồng ra đời trên cơ sở sự xuất hiện chiếm
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và những tài sản khác trong xã hội. Ngay từ khi
MSV 351558 - Lớp NO4 – Nhóm 08
1
Bài tập lớn học kỳ - bộ môn Luật Hôn nhân và gia đình
mới ra đời, chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã bộc lộ tính giả dỗi và tính tiêu
dựng luật hôn nhân và gia đình ngoài các yếu tố xã hội, kinh tế thì các nhà làm
luật cần phải chú ý đến phong tục tập quán, những gì đã đi vào nếp sống của
người lao động.
II. Lịch sử phát triển của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ở
nước ta từ trước đến nay.
1.Những nguyên tắc của Luật hôn nhân và gia đình ở Việt Nam trước
khi có luật Hôn nhân và gia đình năm 1959.
1.1 Chế độ đa thê cũ ở nhà nước phong kiến Việt Nam
Trước Cách mạng tháng 8, nước ta là nước thuộc địa nửa phong kiến, bị
thực dân Pháp đô hộ. Ngoài sự bóc lột trên tất cả mọi mặt, biến nhân dân ta
thành bù nhìn, tay sai cho chúng, thực dân Pháp cùng với bọn địa chủ phong
kiến đã lợi dụng chế độ đa thê tồn tại rất nhiều năm ở Việt Nam, đưa ra các bộ
luật riêng cho cả ba miền bắc, trung, nam nhằm củng cố địa vị thống trị cho
chúng ở Việt Nam.
Đó chính là bộ Dân luật Bắc kỳ (1931), Dân luật Trung kỳ (1936) và bộ dân
luật giản yếu ở Nam Kỳ. Ba bộ luật mà thực dân Pháp ban hành tại Việt Nam thì
đều dựa trên bộ Dân luật của Pháp (1804) kết hợp với những tập tục phong kiến
cổ hủ lạc hậu ở Việt Nam. Ba bộ luật này tuy quy định những điều khác nhau,
nhưng nếu đi tìm hiểu sâu xa thì ta có thể nhận thấy chúng đều có một điểm
chung đó là công nhận sự tồn tại của chế độ đa thê tại Việt Nam. Tại điều 80 -
Bộ Dân luật 1931 đã công nhận một cách minh thị rằng: “ chưa lấy vợ chính thì
không được lấy vợ thứ”. Chế độ đa thê đã gây rất nhiều đau khổ, bất công cho
chị em phụ nữ, tư tưởng : “đàn ông được năm thê, bảy thiếp, phụ nữ chính
chuyên một chồng” được xem là bình thường, và điều đó đã tạo nên rất nhiều
điều bất hạnh đối với phụ nữ thời bấy giờ. Chế độ đa thê cũng góp phần củng cố
quyền lực gia trưởng của người chồng và người cha trong gia đình.
MSV 351558 - Lớp NO4 – Nhóm 08
3
Bài tập lớn học kỳ - bộ môn Luật Hôn nhân và gia đình
Chính vì vậy mà ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, mở ra
nguyên tắc cơ bản của luật Hôn nhân và gia đình mới đã thể hiện rõ quan điểm
của nhà nước ta.
Ngay tại điều 1 luật hôn nhân và gia đình năm 1959, Nhà nước ta đã quy
định: “ Nhà nước bảo đảm việc thực hiện đầy đủ chế độ hôn nhân tự do và tiến
bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con
cái nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc dân chủ và hòa thuận trong đó mọi
người đoàn kết thương yêu nhau giúp đỡ nhau tiến bộ”.
Tại điều 3 cũng quy định: “Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn
nhân tự do, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, đánh đập hoặc ngược đãi vợ.
Cấm lấy vợ lẽ.”
Nguyên tắc này còn được thể hiện trong quy định về điều kiên kết hôn:
“Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác”(Điều 5 luật hôn nhân
và gia đình năm 1959)
So với pháp luật thời khi trước thì luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đã
có những bước tiến bộ rõ rệt. Pháp luật thời kỳ trước mặc dù đã xác định được
nhiệm vụ là xoá bỏ tàn dư của chế độ hôn nhân cũ lạc hậu nhưng nguyên tắc hôn
nhân một vợ một chồng chưa hề được đề cập đến. Trong luật hôn nhân và gia
đình năm 1959 đã có những sự thay đổi tiến bộ cơ bản hơn những văn bản pháp
luật trước đó là hôn nhân không phải là sự kết hợp giữa đàn ông và đàn bà, hôn
nhân là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, điều đó đã phần
nào thể hiện rõ nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng trong thời kỳ lúc bấy
giờ. Việc đưa ra quy định : “cấm lấy vợ lẽ” và “ cấm người đang có vợ, có chồng
kết hôn với người khác” đã một phần nào cụ thể hoá được nguyên tắc này ở luật
Hôn nhân và gia đình năm 1959, góp phần xây dựng một gia đình hạnh phúc,
bền vững nhà nước dân chủ hơn, hoàn thiện hơn.
MSV 351558 - Lớp NO4 – Nhóm 08
5
Bài tập lớn học kỳ - bộ môn Luật Hôn nhân và gia đình
2.2 Sự phát triển nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng trong luật Hôn
nhân và gia đình năm 1986.
vợ như chồng với người khác”.Chung sống như vợ chồng có thể hiểu là hành vi
của hai bên nam, nữ tuy không phải là vợ chồng nhưng đã ăn ở với nhau, coi như
là vợ chồng một cách trái pháp luật. Người đang có vợ có chồng mà chung sống
như vợ chồng với người khác một mặt gây hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng tới
hạnh phúc gia đình, quyền lợi của người vợ, người chồng hợp pháp, quyền lợi
của những đưa con cũng không được đảm bảo khi gia đình bố mẹ chúng không
được hạnh phúc, mặt khác việc làm như vậy tác động xấu lên đời sống xã hội.
2.3 Nguyên tắc hôn nhân một vơ một chồng trong luật hôn nhân và gia đình
năm 2000
Sau hơn 10 năm thực hiện luật hôn nhân và gia đình năm 1986, sự phát
triển của cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa các quan hệ hôn nhân gia đình cũng có phần trở nên phức tạp hơn,
chính vì vậy sự ra đời của luật Hôn nhân và gia đình là một điều tất yếu. Luật
hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lưc ngày 1/1/2001 dựa trên những
nguyên tắc cơ bản mà luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 1986 đã xây dựng. Tại điều
64 - Hiến pháp 1992 đã quy đinh: “Gia đình là tế bào của xã hội. Nhà nước bảo
hộ hôn nhân và gia đình. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện tiến bộ, một vợ
một chồng, vợ chồng bình đẳng”.
Để đảm bảo cho hôn nhân bền vững thì nguyên tắc hôn nhân một vợ, một
chồng là một trong những nguyên tắc làm nền quan trọng nhất, đặc biệt là trong
điều kiện của nền kinh tế, xã hội. Tại điều 4 luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 quy định: “cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống
như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn
hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”. Hơn nữa,
MSV 351558 - Lớp NO4 – Nhóm 08
7
Bài tập lớn học kỳ - bộ môn Luật Hôn nhân và gia đình
nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng còn được cụ thể hoá trong điều kiện
cấm kết hôn và huỷ việc kết hôn trái pháp luật.
Ta có thể thấy rằng, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong thời gian
Chung sống như vợ chồng là việc nam nữ coi nhau như vợ chồng, chung
sống với nhau, chăm sóc giúp đó nhau, cùng nhau chăm lo đời sống chung. Theo
thông tư liên tịch số 01/ 2001/ TTLT- TANDTC- VKSNDTC- BTP ngày 3/1/
2001 của tòa án nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp
hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/ 2000/ QH10 của quốc hội, được coi được
coi là nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện để
kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2000 và thuộc một
trong các trường hợp sau đây:
Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
Việc họ về chung sống với nhau được gia đình ( một bên hoặc cả hai bên)
chấp nhận.
Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây
dựng gia đình.
Một điều cần phải chú ý là: Thông tư này hướng dẫn thực hiện Nghị định số
35/ 2000/ QH10 của quốc hội nên hướng dẫn về nam nữ chung sống với nhau
như vợ như chồng chỉ đúng trong trường hợp đó mà không đúng trong những
trường hợp khác. Khi giải quyết những trường hợp có liên quan đến việc nam,
nữ chung sống với nhau như vợ chồng cần phải có cách nhìn nhận toàn diện.
Việc kết hôn vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng phải bi xử hủy theo
luật hôn nhân và gia đình, người vi phạm có thể bị xử lý về hình sự theo quy
định của bộ luật hình sự. Tuy nhiên, do xuất phát từ tình hình xã hội nước ta,
việc thực hiện nguyên tắc một vợ, một chồng có ngoại lệ trong một số trường
hợp như trong luật hôn nhân và gia đình 1986 đã thực thi và áp dụng.
MSV 351558 - Lớp NO4 – Nhóm 08
9
Bài tập lớn học kỳ - bộ môn Luật Hôn nhân và gia đình
III. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng ở nước
ta từ khi có luật hôn nhân ra đình năm 1959, 1986, 2000.
Luật Hôn nhân và gia đình ra đời đã góp phần điều chỉnh các mối quan hệ
thuẫn và yêu cầu giải quyết thì tòa án có thể xử ly hôn mà không cần đặt ra vấn
đề hủy kết hôn trái nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng mà pháp luật quy
định, trừ trường hợp người tập kết đã có vợ có chồng) lừa dối là chưa có vợ
(chồng) để người kia lầm tưởng nên mới đồng ý kết hôn.Trường hợp vợ chồng
chưa li hôn xong nhưng một bên đã đi lấy người khác. Theo hướng dẫn của Nghị
quyết số 01/NQ- HĐTP ngày 20/1/1988 của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân
tối cao thì: “Nếu xét hôn nhân trước trong thực tế đã không còn tồn tại, hai bên
không thể đoàn tụ được nữa mà một bên hoặc cả hai bên đã xin li hôn thì mặc dù
hôn nhân sau là không hợp pháp, nhưng không máy móc mà xử hủy hôn nhân
sau mà có thể chỉ hủy li hôn với hôn nhân”.
Sau nhiều năm thực hiện luật Hôn nhân và gia đình, chế độ hôn nhân một
vợ môt chồng là một nguyên tắc quan trọng của cuộc sống được mọi người tôn
trọng thực hiện góp phần đẩy lùi những rơi rớt của chế độ đa thê cũ. Chế độ hôn
nhân một vợ một chồng được thực hiện để làm rõ bản chất của tình yêu là: “
không thể chia sẻ được” là cơ sở để duy trì hạnh phúc gia đình, duy trì sự bền
vững của chính quan hệ hôn nhân. Hiện tượng vi phạm nguyên tắc một vợ một
chồng ở địa phương nào cũng xảy ra với mức độ và hình thức khác nhau. Tỉ lệ
ngoại tình, hoặc người đang có vợ có chồng nhưng lại chung sống công khai
chung sống như vợ như chồng với người khác đã gây ra những rối loạn về trật tự
xã hội, ảnh hửơng tới sự ổn định các quan hệ hôn nhân và gia đình.
Theo báo cáo tổng kết thực hiện Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000,
bằng những số liệu thống kê được, có thể thấy được thực trạng thực hiện nguyên
MSV 351558 - Lớp NO4 – Nhóm 08
11
Bài tập lớn học kỳ - bộ môn Luật Hôn nhân và gia đình
tắc một vợ một chồng trong những năm qua. Nguyên tắc một vợ một chồng còn
bị vi phạm khá nghiêm trọng ở nhiều địa phương: Kiên Giang có 1.450 vụ, thành
phố Hồ Chí Minh có 4.418 trường hợp, Hà Nội có 152 trường hợp Đặc biệt có
những trường hợp một người đàn ông chung sống như vợ chồng với nhiều người
phụ nữ ( với 9 người phụ nữ ở Thái Bình, với 16 người phụ nữ ở Long An, với
cũng được xử lý.
Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng dựa trên tình yêu chân chính của
nam nữ cùng nhau xây dựng một hạnh phúc gia đình. Việc tuân thủ nguyên tắc
hôn nhân một vợ, một chồng góp phần làm cho cuộc sống trở nên văn minh, tốt
đẹp hơn. Trong một số trường hợp thì nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng
trong gia đình chưa được áp dụng một cách triệt để. Một phần là do chính người
các đương sự, họ không muốn đưa ra pháp luật, muốn tự giải quyết với nhau,
một phần là do ý thức về pháp luật, quan niệm về chế độ cũ vẫn còn rơi rớt trong
đầu họ. Chính vì vậy mà việc áp dụng nguyên tắc một vợ, một chồng trong luật
hôn nhân và gia đình còn rất nhiều vướng mắc.
IV. Những điều còn vướng mắc trong Luật hôn nhân và gia đình và
một số phương hướng giải quyết cụ thể.
1.Những điều còn khó khăn vướng mắc trong việc đảm bảo tuân thủ nguyên
tắc hôn nhân.
Thứ nhất, việc thực hiên nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong điều
kiên hiện nay là rất khó khăn do việc thừa nhân quan hệ chung sống như vợ
chồng của nam và nữ có giá trị pháp lí như quan hệ vợ chồng. Theo luật hôn
nhân và gia đình năm 2000, không thừa nhận nữa nhưng chúng ta vẫn phải chấp
nhận sự tồn tại của những quan hệ chung sống như vợ chồng đã xảy ra từ trước
MSV 351558 - Lớp NO4 – Nhóm 08
13
Bài tập lớn học kỳ - bộ môn Luật Hôn nhân và gia đình
ngày 01/01/2001. Theo nghị quyết số 35/2000/QH10, những trường hợp nam nữ
chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày
01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn thì có nghĩa vụ đăng kí kết hôn trong thời
hạn 2 năm( tức kể từ ngày 01/01/2003), nếu trước thời điểm này mà họ vẫn chưa
đăng kí kết hôn thì họ vẫn được coi là vợ chồng của nhau. Vậy nguyên tắc hôn
nhân một vợ một chồng điều chỉnh cả với trường hợp này. Nhưng hiện nay
chúng ta chưa có cơ chế kiểm sát những đối tượng này. Cho nên nhiều ủy ban
nhân dân cấp xã đã tiến hành đăng kí kết hôn cho những người đang có vợ, có
Phổ biến, tuyên truyền. Giáo dục luật hôn nhân và gia đình một cách sâu
rộng đối với mọi đối tượng
Đổi mới trong công tác đăng kí hộ tich và đổi mới về tổ chức và hoạt động
của tòa án nhân dân trong việc giải quyết các án tranh chấp hôn nhân và gia đình
Việc xử lí đối với các hành vi vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình cần
phải được các cơ quan có thẩm quyền thực hiện nghiêm túc kịp thời và đúng
pháp luật để phát huy tác dụng giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật hôn nhân và
gia đình.
Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng một đội ngũ cán bộ tư pháp,
thẩm phán có phẩm chất, năng lực….
C. KẾT LUẬN
Những nguyên tắc của hôn nhân gia đình ở Việt Nam nói chung và nguyên
tắc hôn nhân một vợ một chồng nói riêng có một ý nghĩa thực sự rất to lớn, góp
MSV 351558 - Lớp NO4 – Nhóm 08
15
Bài tập lớn học kỳ - bộ môn Luật Hôn nhân và gia đình
phần thúc đẩy xã hội phát triển theo chiều hướng tiến lên. Gia đình có hạnh phúc
ấm no thì xã hội mới ổn định được, chính vì vậy việc thực hiện nguyên tắc hôn
nhân một vợ, một chồng là quyền và nghĩa vụ của mỗi người dân. Đó là tư tưởng
vững chắc cho việc xoá bỏ tận gốc những tàn dư của chế độ phong kiến cũ, củng
cố chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chính vì vậy,
chúng ta, những con người của thế kỷ mới, cần phải có ý thức tôn trọng và thực
hiện tốt nguyên tắc này và cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần để ra những
đảm bảo cho nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được đảm bảo thực hiện
một cách chặt chẽ.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam - trường đại
học Luật Hà Nôi – nxb Công an nhân dân – 2005.
2. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam các năm 1959, 1986,
2000.