Nguyên tắc hôn nhân 1 vợ, 1 chồng ở vn - lịch sử phát triển và thực tiễn áp dụng - Pdf 25

Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
A. LỜI MỞ ĐẦU
Gia đình là tế bào của xã hội, và hôn nhân là cơ sở của gia đình. Một xã hội muốn
tồn tại và phát triển một cách bền vững thì chế độ hôn nhân phải được xây dựng một cách
vững chắc. Từ khi trong xã hội có nhà nước, quan hệ hôn nhân không chỉ phản ánh ý chí
của các cá nhân tham gia vào quan hệ đó mà còn là ý chí của nhà nước. Trong những giai
đoạn khác nhau, phụ thuộc vào cơ sở kinh tế - xã hội, nhà nước đặt ra những nguyên tắc của
hôn nhân và gia đình để định hướng cho những quan hệ xã hội đó phát triển theo mục tiêu
đã định. Việc xây dựng gia đình hòa thuận, bình đẳng, hạnh phúc đã trở thành một đòi hỏi
tất yếu của xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng của hôn nhân và gia đình trong công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước ta đã thiết
lập chế độ hôn nhân gia đình mới tiến bộ, thay thế cho chế độ hôn nhân gia đình phong kiến, lạc
hậu. Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng chính là một trong những định hướng vững chắc
của Đảng và Nhà nước ta đảm bảo cho việc thực hiện những quan hệ hôn nhân và gia đình xã hội
chủ nghĩa tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của xã hội loài người. Trong bài viết của
mình, em xin được trình bày đề tài “Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng ở Việt Nam - lịch
sử phát triển và thực tiễn áp dụng”.
B. NỘI DUNG CHÍNH
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG
1. Kết hôn
Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều
kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
(1)
Hệ thống pháp luật của Nhà nước ta quy định việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền. Sự kiện kết hôn là sơ sở pháp lý ghi nhận rằng hai bên nam
nữ đã phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng
2. Gia đình
Khoản 10 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: “Gia đình là tập hợp những
người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm
phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”.
3. Những nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

Quá trình thực hiện quyền gia trưởng tuyệt đối đó đồng thời thừa nhận sự bất bình đẳng
giữa vợ và chồng, giữa con trai và con gái, sự coi rẻ quyền lợi của con cái.
Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng sâu sắc và triệt để nhất. Trong
cuộc cách mạng đó, chắc chắn là các cơ sở kinh tế trước đây của chế độ một vợ một chồng
cũng như của cái bổ sung cho nó là tệ ngoại tình và nạn mãi dâm, đều sẽ bị tiêu diệt. Vậy,
chế độ một vợ một chồng còn tồn tại hay không khi mà những nguyên nhân kinh tế đã sinh
ra nó không còn? Về vấn đề này, Enghen đã khẳng định: “Chế độ đó chẳng những sẽ không
biến đi, mà trái lại, chỉ có bắt đầu từ lúc đó, nó mới được thực hiện trọn vẹn. Thật vậy, các
tư liệu sản xuất mà được chuyển thành tài sản xã hội thì chế độ lao động làm thuê, giai cấp
vô sản cũng sẽ biến mất, và đồng thời cũng sẽ không còn tình trạng một số phụ nữ - con số
này có thể thống kê được - cần thiết phải bán mình vì đồng tiền nữa. Tệ mại dâm sẽ mất đi
và chế độ một vơ một chồng không những suy tàn, mà cuối cùng lại còn trở thành hiện
thực, ngay cả đối với đàn ông nữa”.
Bài tập học kỳ - Môn Luật Hôn nhân và Gia đình
2
Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
Lúc này, hôn nhân mới có điều kiện thể hiện đúng bản chất của nó là hôn nhân một
vợ một chồng đích thực, phát sinh và tồn tại trên cơ sở tình yêu chân chính giữa nam và nữ,
bình đẳng nhằm xây dựng gia đình để cùng nhau thỏa mãn nhu cầu về tinh thần và vật chất.
Những tư tưởng cơ bản về hôn nhân và gia đình của chủ nghĩa Mác - Lê nin chính là cơ sở
lý luận để định hình nên những nguyên lý chỉ đạo cho việc thực hiện những quan hệ hôn
nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa dân chủ và tiến bộ.
2. Quan điểm, đường lối của Đảng về hôn nhân và gia đình - nền tảng của nguyên
tắc một vợ một chồng trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Ở Việt Nam, sau khi hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống
nhất đất nước, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân đi theo con đường chủ nghĩa xã hội. Đảng và
Nhà nước đã thể hiện rõ quan điểm của mình trong việc xây dựng những quan hệ xã hội
theo xu hướng tiến bộ. Xuất phát từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về hôn nhân
và gia đình tiến bộ, những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ
nghĩa được hình thành trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và nó trở thành

vấn đề cấp bách trong xã hội và tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược, chúng ta chưa thể xóa bỏ ngay được quan hệ sản xuất phong kiến. nền kinh tế
còn ở trình độ thấp, mang nặng tính tự cấp, tự túc, vì thế trong thời kì đầu, quan hệ hôn
nhân và gia đình vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng phong kiến.
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, nhân dân miền Bắc
dưới sự lãnh đạo của Đảng bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong cuộc
cách mạng xã hội chủ nghĩa, cách mạng tư tưởng văn hóa cũng được tiến hành mạnh mẽ đã
dần phá tan những tư tưởng lạc hậu do chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến đã để lại,
hình thành nên những nhận thức mới về hôn nhân và gia đình. Lần đầu tiên ở Việt Nam, tư
tưởng xây dựng một chế độ hôn nhân và gia đình mới “cho phù hợp với đạo đức và quan
hệ kinh tế xã hội chủ nghĩa” được khẳng định, mà bảo đảm cho nó là một đạo luật về hôn
nhân và gia đình (Luật hôn nhân và gia đình năm 1959).
Năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất và tiếp tục đi
theo con đường chủ nghĩa xã hội. Những nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình
năm 1959 vẫn được khẳng định là tư tưởng chỉ đạo việc thực hiện những quan hệ hôn nhân
và gia đình trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Sự phát triển của kinh tế - xã hội đã tác động đến
việc thực hiện các quan hệ hôn nhân và gia đình. Để củng cố chế độ hôn nhân và gia đình
xã hội chủ nghĩa tiến bộ, phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội mới, những nguyên tắc
cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình 1959 tiếp tục được hoàn thiện và được khẳng định
chính thức trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986.
Bên cạnh đó, những yếu tố về mặt xã hội cũng có tác động lớn tới các quan hệ hôn
nhân và gia đình. Nét đặc trưng của những quan hệ hôn nhân và gia đình là mang nặng yếu
tố tình cảm, đạo đức của các cá nhân, phản ánh sâu đậm phong tục, tập quán, truyền thống,
nền văn hóa của một dân tộc. Đất nước ta có hơn 54 dân tộc anh em chung sống, ngoài
những đặc điểm văn hóa chung của đại gia đình Việt Nam, mỗi dân tộc lại giữ gìn những
phong tục, tập quán riêng mà cha ông để lại. Cho nên, khi xây dựng nguyên tắc một vợ một
Bài tập học kỳ - Môn Luật Hôn nhân và Gia đình
4
Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
chồng cũng như những nguyên tắc cơ bản khác của Luật hôn nhân và gia đình, ngoài các

5
Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
Các văn bản pháp luật hôn nhân và gia đình chưa có sự phân định những quy định
chung và những quy định cụ thể, nhưng thông qua những quy định cụ thể này, chúng ta có
thể thấy pháp luật đã quán triệt những nguyên tắc:
- Nguyên tắc hôn nhân tự do, tự nguyện
- Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người phụ nữ.
- Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con cái.
Ở đây chưa đề cập đến nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng nhưng đã bao hàm
được những tư tưởng dân chủ tiến bộ của chế độ hôn nhân và gia đình mới do Đảng và Nhà
nước ta xây dựng. Những nguyên tắc cơ bản này là cơ sở pháp lý quan trọng để xóa bỏ
những tư tưởng lạc hậu do chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến để lại, thực hiện những
quan hệ hôn nhân và gai đình mới phù hợp với xu thế phát triển của xã hội, đồng thời chúng
còn là nền tảng cho quá trình phát triển của pháp luật hôn nhân và gia đình sau này.
2. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trước khi có Luật hôn nhân và gia đình
năm 1959
Từ năm 1959 đến nay, ở Việt Nam đã có đạo luật về hôn nhân và gia đình ra đời kế
tiếp nhau: Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986, 2000. Mỗi đạo luật đã có những quy
định chung trong đó có ghi nhận nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là sự kết thừa và
phát triển nguyên tắc của pháp luật giai đoạn trước trên cơ sở phù hợp với tình hình kinh tế,
chính trị xã hội ở từng thời kỳ.
a. Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi. Nhân
dân Việt Nam được hưởng hòa bình chưa bao lâu thì Đế quốc Mỹ âm mưu phá bỏ Hiệp
định Gionevo và biến miền nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới phục vụ cho những
mưu đồ quân sự của Mỹ. Đất nước ta tạm thời bị chia cắt ra làm hai miền với hai chế độ
chính trị - xã hội khác nhau. Trong khi nhân dân miền Nam tiếp tục đấu tranh chống đế
quốc Mỹ và bè lũ tay sai, quân dân miền Bắc quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội làm hậu
phương vững chắc cho miền Nam. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã đạt
được nhiều thành tựu quan trọng, tác động mạnh mẽ vào các mặt của đời sống xã hội, trong

Khi xây dựng Luật hôn nhân và gia đình 1986, nhà lập pháp đã có sự phân định
nhóm những quy định chung và nhóm các quy định chuyên biệt. Nguyên tắc hôn nhân một
vợ một chồng được quy định trong Chương I (những quy định chung) trong Luật hôn nhân
và gia đình năm 1986 đã được kế thừa phát triển nguyên tắc này của Luật hôn nhân và gia
đình 1959, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã bổ sung thêm những nội dung của
nguyên tắc này cho đầy đủ.
Ví dụ: trong nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, nếu như Luật hôn nhân và gia
đình năm 1959 chủ yếu quy định “cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người
khác” thì Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định đầy đủ hơn “cấm người đang có
vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác”.
Bài tập học kỳ - Môn Luật Hôn nhân và Gia đình
7
Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
Với việc quy định đầy đủ hơn, phù hợp hơn, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã tạo ra một nền tảng pháp lý cần thiết cho việc
xây dựng những chế định, quy phạm pháp luật chuyên biệt để điều chỉnh các quan hệ hôn
nhân và gia đình trong đời sống xã hội. “lỗ hổng” của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
đã được khắc phục dần dần. Pháp luật hôn nhân và gia đình không ngừng hoàn thiện, trước
hết và trên cơ sở sự hoàn thiện hệ thống những nguyên tắc cơ bản.
c. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Kế thừa và phát triển những nguyên tắc của Luật hôn nhân và gia đình 1986, Luật
hôn nhân và gia đình 2000 tiếp tục thực hiện những nguyên tắc của Luật cũ còn phù hợp,
nhưng có sự sắp xếp lại cho khoa học hơn, đồng thời bổ sung một số nội dung mới làm cơ
sở cho việc thực hiện và bảo vệ các quan hệ hôn nhân và gia đình đầy đủ cùng với sự vận
động của các quan hệ kinh tế - xã hội, pháp luật hôn nhân và gia đình - một bộ phận thuộc
thượng tầng kiến trúc, không ngừng được hoàn thiện. Đó cũng là quá trình hoàn thiện
những nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình, trong đó có nguyên tắc hôn nhân
một vợ một chồng, với tư cách là hệ tư tưởng chỉ đạo, từ chưa đầy đủ, chưa chuẩn xác đến
sự đầy đủ và khoa học hơn, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của ngành luật hôn nhân
và gia đình trong những giai đoạn mới của đất nước.

nhân và gia đình 2000 khẳng định là nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình
(Điều 2). Bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng, Luật hôn nhân và gia đình: “Cấm
người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác
hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với
người đang có chồng, có vợ” (Điều 4). Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng còn được
cụ thể hóa trong các quy định về những trường hợp cấm kết hôn và được đảm bảo thực hiện
trong những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Nội dung của nguyên tắc hôn nhân mọt vợ một chồng là: chỉ những người chưa cơ
vợ, chưa có chồng hoặc tuy đã có vợ, có chồng nhưng hôn nhân đó đã chấm dứt mới có
quyền kết hôn. Việc kết hôn của họ phải với người đang không có vợ, không có chồng.
Ngoài ra, để bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng, nguyên tắc hôn nhân một vợ một
chồng còn điều chỉnh cả hành vi chung sống như vợ chồng: chỉ những người đang không có
vợ, có chồng mới có quyền chung sống như chồng, như vợ với người đang không có vợ, có
chồng. Nội dung của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng có liên quan đến một số vấn
đề và cần được hiểu như sau:
- Người đang có vợ, có chồng là người đang tồn tại một quan hệ hôn nhân được xác
định bằng giấy chứng nhận kết hôn hoặc hôn nhân thực tế (nam và nữ sống chung với nhau
như vợ chồng, không đăng ký kết hôn nhưng vẫn được pháp luật thừa nhận quan hệ vợ
chồng). Đó là trường hợp: nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng (không vi
phạm các điều kiện kết hôn do luật định) trước ngày 3/1/1987 nhưng không đăng ký kết
hôn. Những người đang ở trong các trường hợp kể trên thì bị Luật cấm kết hôn
Bài tập học kỳ - Môn Luật Hôn nhân và Gia đình
9
Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
- Những người đã có vợ, có chồng nhưng hôn nhân đã chấm dứt là người thuộc các
trường hợp kể trên nhưng đã có bản án cho ly hôn của tào án có hiệu lực pháp luật, vợ
(chồng) của họ đã chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết.
- Chung sống như vợ chồng là việc nam nữ coi nhau là vợ chồng, chung sống với
nhau, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau chăm lo đời sống chung. Theo TTLT số
01/2001/TTLT - TANDTC - VKSNDTC - BTP ngày 3/1/2001 của Tòa án nhân dân tối cao,

Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
trước (ở miền Nam) thì dù có vi phạm chế độ một vợ một chồng, nhưng có hôn nhân thực tế
thì chúng ta vẫn phải công nhận quan hệ hôn nhân của họ là hợp pháp.
- Đối với trường hợp cán bộ, bộ đội có vợ, có chồng trong Nam ra Bắc lấy vợ, lấy
chồng khác. Theo Thông tư số 60 - TATC ngày 22/2/1978 của Tòa án Nhân dân tối cao,
đây là trường hợp đặc biệt, là hậu quả của chiến tranh chứ không phải của chế độ hôn nhân
và gia đình phong kiến. Phương châm giải quyết là thừa nhận việc chung sống tay ba. Nếu
có mâu thuẫn và yêu cầu giải quyết thì tòa án có thể xử cho ly hôn mà không đặt ra vấn đề
hủy việc kết hôn trái nguyên nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng mà pháp luật quy
định, trừ trường hợp người tập kết đã có vợ (chồng) lừa dối là chưa có vợ (chồng) để người
kia lầm tưởng nên mới đồng ý.
V. THỰC TIẾN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC HÔN NHÂN MỘT VỢ MỘT CHỒNG VÀ
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
1. Thực tiễn áp dụng và thi hành nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
a. Những kết quả đã đạt được
Luật hôn nhân và gia đình được Nhà nước ta ban hành từ năm 1959, đến nay đã qua
hai lần sửa đổi. Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng đã được hoàn thiện dần làm cơ sở
cho việc xây dựng, hoàn thiện những chế định cụ thể điều chỉnh một cách toàn diện những
quan hệ hôn nhân và gia đình nảy sinh trong đời sống xã hội. Thực tế phát triển của kinh tế,
văn hóa, xã hội ở đất nước ta cũng đã chứng minh rằng, nguyên tắc hôn nhân một vợ một
chồng là hoàn toàn đúng đắn. Hiệu quả điều chỉnh của nguyên tắc hôn nhân một vợ một
chồng thể hiện tập trung ở hai vấn đề lớn: chất lượng hệ thống các quy phạm pháp luật hôn
nhân và gia đình cụ thể và kết quả điều chỉnh của nó đối với các quan hệ hôn nhân và gia
đình trong thực tiễn.
Trên cơ sở nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, một loạt các chế định gồm nhiều
quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình đã được thiết kế để áp dụng trong thực tế, như:
điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn, nghĩ vụ và quyền của vợ và chồng những văn bản quy
phạm pháp luật khác cũng được ban hành để hướng dẫn áp dụng và quy định cụ thể để thi
hành một số chế định trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Thực chất, đây là sự cụ thể hóa
những nội dung của các nguyên tắc cơ bản đã được quy định trong Luật hôn nhân và gia

vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Thực trạng này đã gây những khó khăn
không nhỏ trong việc kiểm soát của Nhà nước đối với các quan hệ hôn nhân và gia đình.
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng còn bị vi phạm khá nghiêm trọng ở nhiều
địa phương. Đặc biệt có những trường hợp một người đàn ông chung sống như vợ chồng
với nhiều người phụ nữ. Việc vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã gây ra nhiều
hậu quả nghiêm trọng: làm tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, con cái bị bỏ mặc, thiếu sự
chăm sóc, giáo dục của cha mẹ (thực tế cho thấy có khoảng 40% số trẻ em không được
chăm sóc, giáo dục sau khi bố mẹ các cháu lâm vào tình trạng trên), có trường hợp con bị
khủng hoảng về tâm lý sinh ra những thói hư tật xấu, kinh tế gia đình bị sa sút nghiêm
trọng nhưng đáng tiếc không phải trường hợp vi phạm nào cũng được xử lý.
Bài tập học kỳ - Môn Luật Hôn nhân và Gia đình
12
Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
Ví dụ về vụ án đang gây nhiều tranh cãi: “một ông bốn bà”. Ông N quê ở xã Tân Bửu
- Bến Lức - Long An cưới người vợ đầu tiên năm 1994 (có đăng ký kết hôn), sau một thời
gian, đường ai nấy đi. Năm 1996, khi chưa ly hôn, ông N đã làm đám cưới rồi sống chung
không hôn thú với bà vợ hai. Một năm sau, họ sinh được một con chung. Rồi do mâu thuẫn,
họ xin ly hôn. Lẽ ra phải xác định đây là hôn nhân trái pháp luật thì năm 1999, TAND
huyện Bến Lức lại cho ông N ly hôn bà vợ hai và giải quyết các yêu cầu về tài sản chung,
quyền nuôi con, cấp dưỡng. Năm 2000, ông N lại tổ chức đám cưới và sống chung với bà
vợ ba, có một con chung, đến năm 2004 thì được chính xã Tân Bửu cho đăng ký kết hôn.
Tháng 7-2008, lấy lý do bà vợ ba bỏ đi theo người khác, ông N làm đơn xin ly hôn bà này.
Thụ lý, TAND huyện Bến Lức té ngửa vì thấy sự việc quá phức tạp, bèn yêu cầu
UBND xã Tân Bửu xác minh, cung cấp thông tin về tình trạng hôn nhân của ông N. Tháng
7-2009, UBND xã Tân Bửu trả lời rằng khi ông N. đến xã đăng ký kết hôn với bà vợ ba thì
ông khai chỉ có một vợ, đã được tòa cho ly hôn vào năm 1999 (bà vợ hai) và đưa ra bản án
của tòa. Dựa vào đó, cán bộ tư pháp xã mới cho ông đăng ký kết hôn.
Có thể thấy đây là một cái sai lẩn quẩn mà trách nhiềm đầu tiên thuộc về UBND xã
Tân Bửu. Phải xử lý cho xong hôn nhân của ông N với bà vợ đầu thì mới có thể giải quyết
cho ông ly hôn với bà vợ ba được. Trong trường hợp các đương sự không hợp tác, tòa sẽ

hiện, tố giác kịp thời của nhân dân về những hành vi vi phạm các quy định của pháp luật
hôn nhân và gia đình. Có trường hợp người vợ “làm tròn bổn phận của mình” tới mức mua
sắm đồ lễ để đi hỏi vợ bé cho chồng mình. Nguyên nhân của tình trạng này là do điều kiện
sinh hoạt vật chất thấp kém, cùng với việc tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật ở một
số nơi còn mang nặng tính hình thức.
- Việc xử lý những cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật hôn nhân và gia
đình nhất là vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng chưa được kịp thời, nghiêm minh, thậm
chí còn bị coi nhẹ nên không phát huy được tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa. Trên
thực tế, những trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng còn xảy ra
không ít, tuy nhiên, con số phản ánh những vụ việc đã được ơ quan có thẩm quyền giải
quyết lại là quá khiêm tốn. Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao về xét xử về
hình sự đối với hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng năm 2000 ở cấp
huyện là 32, ở cấp tỉnh là 3; năm 2006 ở cấp huyện là 139, ở cấp tỉnh là 86. Sở dĩ có tình
hình này là do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân từ phái ơ quan bảo vệ pháp luật.
Trong thực tế, khác với những loại hành vi phạm tội khác, có những trường hợp vi phạm
chế độ hôn nhân và gia đình chưa bị xã hội lên án mạnh mẽ, thậm chí là điều bình thường
đối với dư luận xã hội hoặc phù hợp với phong tục, tập quán. Cho nên, các cơ quan bảo vệ
pháp luật đã có phương châm coi nhẹ việc xử lý đối với những hành vi vi phạm này.
- Trình độ của đội ngũ cán bộ tư pháp cấp xã và thẩm phán còn chưa đồng đều, thậm
chí có những cán bộ tư pháp, thẩm phán quá kém về pháp luật và chuyên môn nghiệp vụ,
nên chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu giải quyết chính xác, nhanh chóng các yêu cầu của
đương sự. thêm vào đó là do những tác động của vật chất, các mối quan hệ xã hội, một bộ
phận không nhỏ trong đội ngũ cán bộ tư pháp, thẩm phán đã không thật sự khách quan
Bài tập học kỳ - Môn Luật Hôn nhân và Gia đình
14
Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
trong giải quyết công việc. Thực tế cho thấy đội ngũ các bộ tư pháp cấp xã hầu hết chưa qua
đào tạo cử nhân luật, nên thiếu những kiến thức cơ bản.
2. Một số kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả điều chỉnh của nguyên tắc hôn nhân
một vợ một chồng

Lương Thị Vân - MSSV: KT33H006 - Nhóm: H1-1
biện pháp cần được thực hiện để đảm bảo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được
tuân thủ một cách triệt để.
- Nâng cao chất lượng công tác hòa giải những tranh chấp về hôn nhân và gia đình.
Công tác hòa giải ở cơ sở làm được tốt sẽ kịp thời giải quyết được những xích mích
trong nội bộ gia đình, giúp cho các thành viên trong gia đình được bảo vệ các quyền và lợi
ích hợp pháp, và cũng vì thế hạn chế được những hành vi vi phạm chế hôn nhân một vợ một
chồng. Đồng thời cũng có tác dụng quan trọng trong việc giáo dục ý thức trách nhiệm đối
với các thành viên của gia đình, thông qua đó Luật hôn nhân và gia đình cũng được tuyên
truyền trực tiếp tới từng người dân.
- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng một đội ngũ cán bộ tư pháp, Thẩm
phán có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu giải quyết kịp thời, chính xác các tranh chấp
về hôn nhân và gia đình.
Hoạt động của các cán bộ tư pháp và Thẩm phán là những khâu rất quan trong việc
đảm bảo thực hiện nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Họ vừa là người thay mặt Nhà
nước kiểm soát việc thực hiện các quan hệ hôn nhân và gia đình trong xã hội, vừa là người
tuân thủ nguyên tắc đó trong quá trình kiểm soát. Trong tình hình hiện nay, củng cố đội ngũ
cán bộ tư pháp, nhất là cán bộ tư pháp ở cấp xã và Thẩm phán ở tòa án nhân dân cấp huyện
là việc làm cần phải được chú trọng. Bên cạnh đó, cần có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho Hội thẩm nhân dân, bởi họ là người đại diện của nhân
dân tham gia vào hoạt động xét xử tại Tòa án, có quyền ngang với Thẩm phán.
C. KẾT LUẬN
Nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng được xây dựng trên nền tảng hôn nhân tự
nguyện, tiến bộ và nam nữ bình đẳng nhằm xóa bỏ chế độ đa thê trong hôn nhân phong
kiến, coi rẻ phụ nữ, gây nhiều đau khổ cho phụ nữ. Bản chất của hôn nhân tự nguyện trên
cơ sở tình yêu nam nữ là hôn nhân một vợ một chồng. Mặt khác, chế độ một vợ một chồng
đảm bảo tình yêu giữa họ thực sự bền vững, duy trì và củng cố hạnh phúc gia đình. Hôn
nhân một vợ một chồng là điều quan trọng làm cho cuộc sống chung vợ chồng lâu dài, bền
vững và thực sự hạnh phúc.
Tuân thủ nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là yêu cầu bắt buộc đối với các cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status